1 MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 7
1.1. Tổng quan về làng nghề ở Việt Nam 7
1.2. Tổng quan về chất thải rắn nói chung và chất thải rắn làng nghề nói riêng. 12
1.3. Tình hình quản lý chất thải rắn tại các làng nghề ở Việt Nam 15
1.4. Một số kinh nghiệm quản lý, xử lý chất thải rắn tại các làng nghề 19
1.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thái Yên 23
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 31
2.2. Phương pháp nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1. Hiện trạng môi trường làng nghề Thái Yên. 33
3.2. Đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại làng nghề Thái Yên. 37
3.3. Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn ở xã Thái Yên. 48
3.4. Đánh giá hiệu quả quản lý, xử lý chất thải rắn tại làng nghề Thái Yên 52
3.5. Dự báo xu thế phát sinh CTR ở địa phương đến năm 2020. 54
3.6. Đề xuất biện pháp giảm thiểu chất thải rắn. 56
3.6.1. Đối với chất thải rắn thải rắn sinh hoạt 56
3.6.2. Đối với chất thải rắn thải trong hoạt động sản xuất 60
3.6.3. Đối chất thải rắn thải nông nghiệp 67
3.6.4. Đối với chất thải rắn thải y tế. 70
KẾT LUÂN VÀ KIẾN NGHỊ 71
thu gom, xử lý ở làng nghề Thái Yên, giai đoạn 2014 – 2020. 55
Bảng 3.15: Giá trị so sánh giữa than cám và than củi ép 61
Bảng 3.16. Bảng tổng hợp cơ hội sản xuất sạch hơn đối với làng nghề mộc 63
Bảng 3.17. Bảng phân tích nguyên nhân của dòng thải tại làng nghề 65 3
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Sơ đồ vị trí giao thông xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. 23
Hình 2: Diễn biến một số yếu tố khí tượng xã Thái Yên, Đức Thọ 25
Hình 3: Quy trình sản xuất sản phẩm mộc Thái Yên. 40
Hình 4: Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý HTX môi trường Thái Yên 48
Hình 5: Củi ép từ nguyên liệu mùn cưa và dăm bào. 60
Hình 6: Sơ đồ công nghệ xử lý rơm rạ làm phân bón vi sinh. 68
Nhu cầu oxy sinh hóa
BVMT :
Bảo vệ môi trường
COD :
Nhu cầu oxy hóa học
CTR :
Chất thải rắn
CTRSH :
Chất thải rắn sinh hoạt
CTRSX :
Chất thải rắn sản xuất
CTTB :
Cải tiến thay đổi thiết bị
HTX MT :
Hợp tác xã môi trường
QCVN :
Quy chuẩn Việt Nam
QLNV :
Quản lý nội vi
SXSH :
trong các định hướng phát triển.
Bên cạnh những mặt tích cực hiện nay, các làng nghề của Việt Nam đang đối
mặt với nhiều khó khăn, thách thức như trình độ sản xuất, chất lượng sản phẩm, các
mâu thuẫn về mặt xã hội nhưng quan trọng nhất là các tác động tiêu cực đến chất
lượng môi trường sống và sức khỏe do hoạt động sản xuất làng nghề gây ra. Đa
phần các làng nghề Việt Nam được hình thành một cách tự phát với công nghệ sản
xuất lạc hậu, thiết bị đơn giản, thủ công, hiệu quả sử dụng nguyên liệu thấp, mặt
bằng sản xuất hạn chế, việc đầu tư xây dựng các hệ thống bảo vệ môi trường rất ít
được quan tâm, ý thức tự bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe chính gia đình
mình của người lao động còn hạn chế. Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề
đã và đang là vấn đề bức xúc cần được quan tâm giải quyết.
Hiện nay trên địa bàn tĩnh Hà Tĩnh có 30 làng nghề hoạt động sản xuất kinh
doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thủ công mỹ nghệ (đồ mộc), kim khí, chế
biến thủy sản, chăn ga gối nệm, mây tre đan,… đã góp phần nâng cao thu nhập cho
người lao động và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các vùng nông thôn.
Tuy nhiên hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, các biện
pháp bảo vệ môi trường còn hạn chế vì vậy nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trong 6 quá trình sản xuất là rất cao. Để có cơ sở nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường đối với làng nghề cần phải có điều tra khảo sát một cách cụ thể,
chi tiết về hiện trạng môi trường của các làng nghề.
Thái Yên là một xã không chỉ phát triển nghề thủ công mỹ nghệ thuộc huyện
Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh với sản xuất làng nghề mộc có truyền thống gần 400 năm
mà các nghành nghề khác cũng khá phát triển. Tốc độ phát triển kinh tế luôn ở vị trí
cao so với toàn tỉnh. Song bên cạnh sự phát triển đó vấn đề ô nhiễm chất thải rắn
thải bởi hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt cũng ngày càng gia tăng đang làm
triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất nhằm đáp ứng
nhu cầu phát triển và chịu sự chi phối của nông nghiệp và nông thôn. Làng nghề
gắn liền với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản
xuất nhỏ tự cung tự cấp.
Xét về mặt định lượng: làng nghề là những làng mà ở đó có số người chuyên
làm nghề thủ công và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm một tỷ
lệ lớn trong tổng dân số của làng.
Tiêu chí để xem xét một cách cụ thể đối với một làng nghề điển hình là: Có
tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh
ngành nghề. Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận. Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách
pháp luật của nhà nước và các quy định của địa phương trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của làng nghề [3].
1.1.2. Đặc điểm chung của làng nghề
Tại mỗi làng nghề tuy bao giờ cũng có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy
trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chung một số đặc điểm sau [1].
- Lực lượng lao động trong làng nghề đa số là người dân sống trong làng. Các
ngành nghề phi nông nghiệp trong làng sẽ tạo ra sản phẩm giúp cho người dân tăng
thu nhập trong lúc nông nhàn. 8 - Hộ gia đình là đơn vị cơ bản của sản xuất với nguồn nhân lực từ thành viên
trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có. Nhờ vào nhân lực gia đình đã tạo cho các hộ
gia đình khả năng thu nhập không phân biệt lứa tuổi và giới tính vì nó đáp ứng nhu
cầu chung của các thành viên trong gia đình. Do đó, nó có thể huy động mọi người
trong gia đình tham gia tích cực vào việc tăng sản phẩm sản xuất của gia đình.
- Cơ sở sản xuất dịch vụ tại làng xã là nơi có nhiểu hộ gia đình cùng tham
phương. Những sản phẩm như lụa, tơ tằm, thổ cẩm, thêu ren, dệt may , không chỉ
là những sản phẩm hàng hoá có giá trị mà còn là những tác phẩm nghệ thuật được
đánh giá cao. Tại các làng nghề nhóm này, lao động nghề thường là lao động chính
(chiếm tỷ lệ cao hơn lao động nông nghiệp).
- Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá có từ lâu đời: tập
trung ở các vùng có sẵn nguyên liệu xây dựng. Lao động loại làng nghề này chủ yếu
là thủ công, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp. Khi nhu cầu về xây
dựng nhà cửa, công trình tăng, hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng phát triển mạnh
đặc biệt là các vùng núi đá vôi.
- Làng nghề tái chế phế liệu: chủ yếu mới hình thành, nên số lượng ít nhưng
lại được phát triển nhanh về loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy nhựa, vải đã
qua sử dụng). Ngoài ra, các làng nghề cơ khí, chế tạo và đúc kim loại phế liệu sắt
vụn, cũng là loại hình làng nghề.
- Làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao gồm các làng nghề gốm, sành sứ, thuỷ
tinh mỹ nghệ, chạm khắc đá, chạm mạ vàng bạc, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ
nghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren. Đây là nhóm làng nghề chiếm tỷ lệ lớn
về số lượng (khoảng 40% tổng số làng nghề) có truyền thống lâu đời, sản phẩm có
giá trị cao, đậm nét văn hoá dân tộc, có tính địa phương cao. Quy trình sản xuất của
các làng nghề này gần như không thay đổi, lao động thủ công nhưng đòi hỏi tay
nghề cao, đòi hỏi chuyên môn hoá và có tính chuẩn trong sáng tạo.
- Các nhóm ngành khác: bao gồm các làng nghề chế tạo công cụ thô sơ như
cầy bừa, quốc xẻng, liềm hái, đóng thuyền, làm quạt giấy, đan vó đan lưới, làm lưỡi
câu , những làng nghề nhóm này có từ lâu đời, sản phẩm phục vụ trực tiếp cho
nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương. Lao động chủ yếu thủ công, thu hút
nhiều lao động, sản phẩm ít có cải tiến thay đổi. 10
nghề ở nông thôn đang ngày một tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8 - 9,8%/năm,
kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm làng nghề không ngừng gia tăng. Chính vì
vậy, có thể thấy, làng nghề đóng vai trò rất quan trọng, trực tiếp giải quyết việc làm
cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất
lượng cuộc sống cho người lao động ở khu vực nông thôn. Bên cạnh việc tạo việc
làm, tăng thu nhập cho lao động ở khu vực nông thôn còn tạo thêm việc làm cho lao
động phụ như người già, trẻ em, người khuyết tật, [5].
Mức thu nhập của người lao động ngành nghề cao gấp 3 đến 4 lần so với thu
nhập của người lao động thuần nông. Điều này cũng khiến số hộ gia đình chuyển từ
sản xuất thuần nông sang sản xuất thủ công nghiệp và chuyên làm nghề ngày càng tăng
nhanh.
* Làng nghề truyền thống và hoạt động phát triển du lịch
Lợi ích của việc phát triển làng nghề không chỉ là ở kinh tế, giải quyết việc
làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn được giá trị văn hoá lâu dài.
Với những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hoá đặc sắc, các
làng nghề còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hoá hay
một hệ thống di tích lịch sử. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các điểm
hoặc tuyến du lịch lữ hành về các làng nghề, nông thôn. Bên cạnh đó, khách tham
quan còn được tận mắt theo dõi quá trình sản xuất ra các sản phẩm thậm chí là tham
gia thực hành vào một khâu sản xuất nào đó, chính điều này tạo nên sức hấp dẫn
của du lịch làng nghề.
Nhận thức được tiềm năng phát triển du lịch tại làng nghề sẽ góp phần gia tăng
tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp hoặc dịch vụ ở địa phương, đồng thời tăng thêm 12 cơ hội cho các cơ sở sản xuất thông qua các hoạt động giới thiệu và bán sản phẩm
truyền thống, nâng cao đời sống của người dân thông qua các dịch vụ phụ trợ , điển
Hiện nay, cả nước có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề.
Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động,
thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn. Làng nghề phân bố không đồng
đều giữa các vùng, miền. Miền Bắc có khoảng 60%, miền Trung 30% và miền Nam
10%. Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và
công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn vì vậy đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề môi
trường tại các làng nghề [1].
Chất thải rắn làng nghề gồm nhiều chủng loại khác nhau, mang tính đặc thù
của từng loại hình sản xuất. Có thể thấy chất thải làng nghề bao gồm các thành phần
chính như phế phụ phẩm nông nghiệp, lương thực, chai lọ thủy tinh, nhựa, nilon, vỏ
bao bì, gỗ, gốm sứ, kim loại
* Làng nghề chế biến lương thực, thực phầm: Chủ yếu việc chế biến nông
sản sau khi thu hoạch bị loại bỏ sau quá trình chế biến, phế phụ phẩm bị ôi thiu, vỏ
sắn, xơ sắn, bã dong, đao, bã đậu, xĩ than, phân gia súc trong chăn nuôi Chất thải
trong nghề chế biến lương thực thực phẩm rất đa dạng. Nhìn chung chất thải trong
nghề chế biến lương thực thực phẩm là những chất hữu cơ dễ bị phân hủy. Trong
khu vực các làng nghề này thường có thêm ngành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm,
nuôi thuỷ sản để tận thu các nguồn nguyên liệu còn thừa ra. Chất thải của ngành
nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm chất thải chủ yếu là chất hữu cơ, định mức chất thải
rắn đối với gia súc, gia cầm (lợn thải ra 1,5 kg/con/ngày, gà, vịt, ngan thải ra 0,1
kg/con/ngày, trâu, bò thải ra 3 kg /con/ngày). Chất thải ngành chăn nuôi là những
chất hữu cơ dễ bị phân hủy, gây ô nhiễm môi trường, tạo mùi khó chịu, nếu không
được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm cả 3 môi trường: đất, nước và không khí.
.* Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng: Tại các làng sản xuất vật liệu xây
dựng ở nước ta hiện nay, công nghệ sản xuất còn thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp, lao
động giản đơn là chủ yếu, sản xuất vật liệu tiêu thụ một lượng rất lớn nhiên liệu là
than và củi. Trong quá trình khai thác nguyên liệu cho sản xuất gạch ngói thiếu quy
hoạch, tỷ lệ sử dụng nguyên liệu thấp đã để lại lượng chất thải rắn thải xây dựng
lò than sinh ra bụi và các khí độc.
* Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Các làng nghề này hiện tượng ô nhiễm môi
trường nước diễn ra ít nghiêm trọng như các làng nghề chế biến nuôi trồng thủy sản
và các làng nghề tái chế. Tuy nhiên, sản xuất tại các làng nghề này lại thường xuyên
gây ra bụi và tiếng ồn lớn, hoặc gây ra khí độc khi tẩm sấy các đồ mây, tre đan. Các
loại chất thải rắn phát sinh như gỗ vụn, gỗ mảnh, mùn cưa, dăm bào, vỏ trai, giấy
giáp thải, hôp đựng các dung môi (hộp sơn, hộp vecni). Tuy nhiên lượng thải
thường không lớn, khoảng 20-30kg/cơ sở/ tháng và thường có khả năng tái chế. 15 1.3. Tình hình quản lý chất thải rắn tại các làng nghề ở Việt Nam
1.3.1. Ban hành và thực thi văn bản pháp lý
Ô nhiễm môi trường làng nghề ở nước ta hiện nay vẫn đang là vấn đề nổi
cộm. Trong những năm qua do sự phát triển mang tính tự phát lại thiếu quy hoạch,
không có các giải pháp kỹ thuật về môi trường nên tình trạng ô nhiễm môi trường ở
các làng nghề rất phổ biến.
Về mặt quản lý, Nhà nước đã ban hành các văn bản để bảo vệ môi trường các
làng nghề như:
- Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/1/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi
trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
- Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/2/2005 của Thủ tướng Chính Phủ
ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ chính
trị;
- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 được Quốc hội Nước CHXHCN
Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005;
- Nghị định số 80/2006//NĐ- CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về quy định
chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
thôn đảm phát triển bền vững, giữ gìn tốt vệ sinh môi trường nông thôn, khuyến
khích việc tiêu thụ và sử dụng các sản phẩm từ nguồn nguyên liệu tự nhiên trong
nước nhằm hạn chế một phần tác hại đến môi trường của các sản phẩm chất thải hoá
chất nhựa công nghiệp. UBND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có tchất thải
rắnh nhiệm quy hoạch chi tiết phát triển làng nghề chỉ đạo huyện xây dựng các cụm
tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ để tạo mặt bằng cho các cơ sở ngành nghề nông
thôn phát triển đảm bảo vệ sinh môi trường.
1.3.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn làng nghề
Hiện nay tình hình thực thi pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề
ở Việt Nam còn rất nhiều bất cập, yếu kém - Đây cũng là một trong những nguyên
nhân dẫn đến việc khó kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay. Thực tiễn cho thấy hầu hết các làng nghề sản xuất, kinh
doanh chỉ quan tâm nhiều đến lợi nhuận kinh tế mà lờ đi yếu tố bảo vệ môi trường,
giữ gìn môi trường trong lành cho cộng đồng. Điều này đang trở thành tình trạng
phổ biến hiện nay. Tình hình ô nhiễm làng nghề tại các tỉnh thành đang rất
nghiêm trọng, nhất là khu vực các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung Bộ như: Hà Nội, Bắc 17 Ninh, Quảng Nam, Đồng Nam…[10].
Theo thống kê, tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở nông thôn và làng nghề thì có
khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ, trên 40% thôn, xã đã hình
thành các tổ thu gom chất thải rắn thải tự quản. Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại
khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40 - 55% [2].
1.3.3. Những tồn tại khó khăn trong công tác quản lý môi trường làng
nghề
Bên cạnh mặt tích cực, sự phát triển hoạt động sản xuất tại làng nghề, những
tác động xấu đến môi trường nhiều năm qua đã làm cho chất lượng môi trường
nguyên liệu làm tăng phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, khí ảnh
hưởng tới gia thành sản phẩm và chất lượng môi trường. Kỹ thuật lao động sản
xuất ở các làng nghề chủ yếu là thủ công, bán cơ khí, chưa có làng nghề nào áp
dụng tự động hóa. được thể hiện qua bảng 1.1:
Bảng 1.1. Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề
Đơn vị tính: %
Trình độ kỹ thuật
Chế biến
nông, lâm,
thủy sản
Thủ công mỹ
nghệ và VL xây
dựng
Các ngành
dịch vụ
Các
ngành
khác
Thủ công, bán cơ khí
61,51 70,69 43,90 59,44
Cơ khí 38,49 29,31 56,10 40,56
Tự động hóa
0
0
0
0
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2008)
Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề còn thấp, khó có điều kiện
phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường.
lấp chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Các bãi chất thải rắn
thường được sử dụng là các bãi chất thải rắn lộ thiên, chưa được bố trí thích hợp và
chưa được xử lý một cách triệt để.
1.4. Một số kinh nghiệm quản lý, xử lý chất thải rắn tại các làng nghề
Ô nhiễm môi trường làng nghề ở Việt Nam hiện nay là một trong những vấn đề
cần quan tâm, tuy các làng nghề quy mô nhỏ nhưng số lượng làng nghề lại nhiều, nên
tác động của làng nghề đến môi trường là vô cùng lớn.
Một số biện pháp kỹ thuật xử lý chất thải rắn thường được áp tại các làng nghề ở
nước ta như sau:
- Phương pháp chôn lấp chất thải hợp vệ sinh: Phương pháp này chi phí rẻ
nhất và thường được sử dụng nhất hiện nay ở nước ta.
- Phương pháp chế biến chất thải rắn có nguồn gốc hữu cơ thành phân ủ hữu
cơ (compost): Thành phẩm thu được dùng để phục vụ cho nông nghiệp, vừa có tác
dụng cải tạo đất vừa thu được sản phẩm không bị nhiễm hoá chất dư tồn trong quá
trình sinh trưởng. 20 - Phương pháp thiêu đốt: Phương pháp này chi phí cao, thông thường từ 20-
30 USD/tấn nhưng chu trình xử lý ngắn, chỉ từ 2-3 ngày, diện tích sử dụng chỉ bằng
1/6 diện tích làm phân hữu cơ có cùng công suất.
- Các kỹ thuật khác: Ép ở áp lực cao các thành phần vô cơ, chất dẻo để tạo
ra các sản phẩm như tấm tường, trần nhà, tủ, bàn ghế, chất đốt,
* Mô hình xử lý chất thải bằng phương pháp ủ kín làm phân compost tại
làng nghề giết mổ trâu bò thôn Bái Đô, xã Tri Thủy, huyện Phú Xuyên [12].
Thôn Bái Đô hiện có khoảng 40 hộ trục tiếp giết mổ trâu bò, với trung bình
từ 5 - 15 con/ngày/hộ, vào các ngày lễ, tết số lượng có thể tăng lên gấp đôi. Hoạt
động này đã mang lại thu nhập đáng kể cho nguôi dân, tuy nhiên, nước thải, CTR,
nhiều khí gas theo đường ống đi ra bếp hồng ngoại. Trong quá trình đi ra bếp hồng
ngoại, hỗn họp khí xảy ra quá trình tự động phân ly. Phần khí gas sạch và nhẹ hơn
đi lên trên và đuợc pha trộn với một phần không khí. trích ra từ quạt gió đi ra bếp,
với một tỷ lệ thích họp gây ra sự cháy tôi un tạo tia hồng ngoại sinh nhiệt để đun
nâu. Mặt bếp được bọc một lóp lưới tụ nhiệt gây phản ứng cháy trở lại đối vói các
phân tử khí còn chưa cháy hết.
Theo tính toán, bếp hồng ngoại này có giá khoảng 2,5 triệu đồng, với ưu
điểm: An toàn, chiếm diện tích nhỏ khoảng 2-4 m
2
; dễ sử dụng, hiệu suất cháy cao
không tạo lại hơi, khói bụi; tận dụng được chất thải -mùn cưa hoặc rơm rạ khi ngày
mùa, đồng thời không phải phơi, sấy trước khi sử dụng như một số loại "bếp gas"
đang bán trên thị trường.
* Tổng kết chung, để xử lý chất thải rắn thải tại các làng nghề đã có nhiều
phương pháp, chính sách được đưa ra trên các cơ sở sau:
a. Biện pháp quản lý:
Là tổng hợp các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng địa
phương thông qua việc giáo dục, tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường. Lồng ghép
việc bảo vệ môi trường vào hương ước của địa phương đó.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường làng nghề, trong đó
quy định rõ tchất thải rắnh nhiệm của địa phương, các nghành, lĩnh vực hoạt động.
Tăng cường hoạt động giám sát khí thải, nước thải và chất thải rắn tại các làng
nghề.
Có các chính sách ưu đãi về vốn cho việc áp dụng công nghệ và thiết bị tiên
tiến ít chất thải. 22
23 1.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thái Yên
1.5.1. Vị trí địa lý
Xã Thái Yên nằm về phía Đông của huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh, cách thị
trấn Đức Thọ khoảng 12 km và có toạ độ địa lý như sau:
Từ 105
0
38
'
58
''
- 105
0
40
'
26
''
kinh độ Đông và 18
0
30
'
24
''
- 18
0
31
''
mịn > 100 cm, thành phần cơ giới thịt trung bình, phân bố ở địa hình cao hơn so với
đất phù sa glây, phù hợp với gieo trồng 2 vụ lúa ổn định và có thể kết hợp thêm 1
vụ màu.
Bảng 1.2. Cơ cấu sử dụng đất năm 2013, xã Thái Yên, huyện Đức Thọ
Loại đất Mã Diện tích(ha)
Tỷ lệ (%)
Tổng diện tích 418,16
100
1.
Nhóm đất nông nghiệp
NNP
300,11
71.77
1.1.
Đất sản xuất nông nghiệp SXN 298,05
71.28
1.1.1.
Đất trồng lúa LUA 289,52
69.24
0,60
0.14
2.4.
Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 7,42
1.77
2.5.
Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng
SMN
11,38
2.72
3.
Nhóm đất chưa sử dụng CSD 0,95
0.23
Nguồn: Tổng hợp báo cáo thống kê UBND xã - năm 2013 [21] 25
500
600
700
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Nhiet va nang (C,h)
Mua va boc hoi (mm)
Thang
Mua (mm)
Boc hoi (mm)
PET (mm)
Nhiet (0C)
Nang (h)
Hình 2. Diễn biến một số yếu tố khí tượng xã Thái Yên, Đức Thọ
Nằm trong khu vực miền trung nên Đức Thọ thường chịu ảnh hưởng nhiều
của bão lụt, hàng năm có từ 1 - 1,6 cơn bão đi qua. Thời kỳ xuất hiện bão lụt thường
từ tháng IX đến tháng XI.