iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1.Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và các vấn đề môi trường 3
1.1.1. Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 3
1.1.2. Thành phần hữu cơ của RTSH 6
1.1.3. Ảnh hưởng môi trường của RTSH 9
1.2.Tổng quan về công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt trên thế giới và
Việt Nam……. 10
1.2.1. Trên thế giới 10
1.2.2. Ở Việt Nam 15
1.3.Phương pháp MFA và ứng dụng trong kiểm soát, giảm thiểu
chất thải…… 17
1.3.1. Lịch sử của phương pháp MFA 17
1.3.2. Một số ứng dụng của MFA 18
1.3.2.1. Lĩnh vực kỹ thuật và quản lý môi trường 18
1.3.2.2. Lĩnh vực sinh thái công nghiệp (industrial ecology) 19
1.3.2.3. Quản lý tài nguyên 20
1.3.2.4. Quản lý chất thải 20
1.4.Sự cần thiết phải thu hồi khí nhà kính (CH
4
, CO
2
) từ rác thải
sinh hoạt hữu cơ 21
1.4.1. Tác động của khí nhà kính (CH
4
,CO
cách tiếp cận phân tích dòng vật chất 41
3.3. Đề xuất công nghệ phù hợp để xử lý rác thải sinh hoạt và thu hồi
khí nhà kính (CH
4
, CO
2
) cho địa bàn nghiên cứu 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 55
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Lượng CTR sinh hoạt phát sinh tại các đô thị Việt Nam năm 2007 4
Bảng 2: Chỉ số phát sinh CTR sinh hoạt bình quân đầu người của một số đô thị ở
Việt Nam năm 2009 4
Bảng 3: Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số tỉnh và thành phố 6
Bảng 4: Thành phần CTRSH tại đầu vào bãi chôn lấp của một số địa phương 7
Bảng 5: Thành phần RTSH ở một số nước trên thế giới năm 2004 8
Bảng 6: Thành phần RTSH của các nhóm nước 8
Bảng 7: Thành phần nguyên tố của rác thải sinh hoạt 9
Bảng 8: Tỷ lệ RTSH được xử lý bằng các phương pháp khác nhau ở một số
nước 14
Bảng 9: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện Quế Võ 30
Bảng 10: Hệ số thoát nước bề mặt 34
Bảng 11: Nguồn phát sinh và khối lượng RTSH trên địa bàn huyện Quế Võ năm
2014 36
Bảng 12: Lượng RTSH được thu gom của huyện Quế Võ 36
Bảng 13: Thành phần của RTSH tại huyện Quế Võ 37
Bảng 14: Tỷ lệ phần trăm thể tích của các khí sinh ra trong một ô chôn lấp rác
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CTR: Chất thải rắn
CTRSH: Chất thải rắn sinh hoạt
GDP: Tổng sản phẩm nội địa
MFA: Phân tích dòng vật chất
OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
TP. HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TTCN: Tiểu thủ công nghiệp
UBND: Ủy ban nhân dân
VSMT: Vệ sinh môi trường
XDCB: Xây dựng cơ bản
1
MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Cùng
với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bộ mặt xã hội đã có nhiều
chuyển biến tích cực. Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các
sản phẩm xã hội càng lớn, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải
sinh hoạt. Việc quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt đã và đang gây ra nhiều áp lực và
được xã hội quan tâm.
Bên cạnh đó, nhận thức của xã hội ngày một được cải thiện về các vấn đề
môi trường. Xã hội đã quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển bền vững chứ không
chỉ là phát triển kinh tế. Phát triển bền vững có thể hiểu là cải thiện chất lượng
cuộc sống cho tất cả mọi người bây giờ và trong tương lai mà không làm suy giảm
hay cạn kiệt nguồn tài nguyên của trái đất. Một trong những thách thức lớn nhất
đối với việc thực hiện thành công việc phát triển bền vững là thay đổi xu hướng
không bền vững hiện nay trong tiêu thụ tài nguyên và sản xuất chất thải.
Những năm gần đây, rác thải được coi là một nguồn tài nguyên có giá trị và
2
) từ rác thải sinh hoạt hữu cơ theo cách tiếp cận phân tích
dòng vật chất (MFA)” nhằm đề xuất một số giải pháp xử lý rác thải sinh hoạt và
thu hồi năng lượng cũng như giảm thiểu khí thải nhà kính trong giai đoạn hiện nay.
Với mục tiêu nhằm:
Áp dụng cách tiếp cận phân tích dòng vật chất trong đánh giá khả năng
thu hồi năng lượng từ rác thải sinh hoạt hữu cơ.
Góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tăng cường hiệu quả kinh tế.
Nội dung nghiên cứu:
Tổng quan về rác thải sinh hoạt hữu cơ và các giải pháp quản lý, xử lý.
Điều tra đánh giá hiện trạng phát thải rác hữu cơ tại huyện Quế Võ và
đánh giá tiềm năng thu hồi metan theo phương pháp phân tích dòng.
Đề xuất công nghệ cho việc xử lý rác thải sinh hoạt và thu hồi khí nhà kính
CH
4
, CO
2
phù hợp địa bàn nghiên cứu.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và các vấn đề môi trường
1.1.1. Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác
Rác thải sinh hoạt (RTSH) hay chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) là những
chất thải rắn có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành
chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ và
Bảng 1: Lượng CTR sinh hoạt phát sinh tại các đô thị Việt Nam năm 2007
Loại đô thị
Chỉ số CTRSH bình
quân đầu người
(kg/người/ngày)
Lượng CTRSH phát sinh
Tấn/ngày Tấn/năm
Đặc biệt 0,96 8.000 2.920.000
Loại 1 0,84 1.885 688.025
Loại 2 0,72 3.433 1.253.045
Loại 3 0,73 3.738 1.364.370
Loại 4 0,64 626 228.490
Nguồn [2]
Chỉ số phát sinh CTRSH tính bình quân trên đầu người lớn nhất xảy ra ở các
đô thị phát triển du lịch như các thành phố: Hạ Long, Hội An, Đà Lạt, Ninh Bình,
Các đô thị có chỉ số phát sinh CTRSH tính bình quân đầu người thấp nhất là
thành phố Đồng Hới (Quảng Bình), Thị xã Gia Nghĩa, Thị xã Kon Tum, Thị xã
Cao Bằng (Bảng 2).
Bảng 2: Chỉ số phát sinh CTR sinh hoạt bình quân đầu người của một số đô thị
ở Việt Nam năm 2009
Cấp
đô thị
Đô thị
CTRSH bình
quân đầu người
(kg/người. ngày)
Cấp đô
thị
Đô thị
Buôn Ma
Thuột
0,8
Sông Công
(Thái Nguyên)
>0,5
Loại
2:
Thành
phố
Thái Nguyên >0,5
Từ Sơn
(Bắc Ninh)
>0,7
Việt Trì 1,1
Lâm Thao
(Phú Thọ)
0,5
Ninh Bình 1,3
Cam Ranh
(Khánh Hòa)
>0,6
Mỹ Tho 0,72
Gia Nghĩa
(Đắk Nông)
0,35
Loại
3:
Thành
Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn ở Việt Nam:
Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phát sinh từ các nguồn: các hộ gia đình,
chợ, nhà kho, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính Chất thải rắn sinh hoạt
khu vực nông thôn có tỷ lệ chất hữu cơ khá cao, chủ yếu là từ thực phẩm thải,
chất thải vườn và phần lớn đều là chất hữu cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ
phân hủy chiếm tới 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn) [2].
6
Với dân số 60,703 triệu người sống ở khu vực nông thôn (năm 2010), lượng
phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng 0,3 kg/người.ngày,
ta có thể ước tính lượng rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày,
tương đương với 6,6 triệu tấn/năm [2].
1.1.2. Thành phần hữu cơ của RTSH
Khác với rác thải và phế thải công nghiệp, RTSH là một tập hợp không
đồng nhất. Tính không đồng nhất biểu hiện ngay ở sự không kiểm soát được của các
nguyên liệu ban đầu dùng cho sinh hoạt và thương mại. Sự không đồng nhất này
tạo ra một số đặc tính rất khác biệt trong các thành phần của RTSH.
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất
tiêu dùng, điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Thông thường thành phần của
rác thải sinh hoạt bao gồm các hợp phần sau:
- Các chất dễ bị phân hủy sinh học: Các thực phẩm thừa, cuộng lá rau, lá
cây, xác động vật chết, vỏ hoa quả
- Các chất khó bị phân hủy sinh học: Gỗ, cành cây, cao su, túi nilon…
- Các chất hoàn toàn không bị phân hủy sinh học: Kim loại, thủy tinh, mảnh
sành sứ, gạch ngói, vôi vữa khô, sỏi cát, vỏ ốc hến…
Một trong những đặc điểm rõ nhận thấy ở RTSH ở Việt Nam là thành phần
các chất hữu cơ chiếm rất cao, khoảng 50%-70% (Bảng 3, Bảng 4). Ở các nước phát
triển, do mức sống của người dân cao cho nên tỷ lệ thành phần hữu cơ trong RTSH
Nội
Xuân
Sơn,
Hà
Nội
Tràng
Cát,
Hải
Phòng
Đình
Vũ,
Hải
Phòng
Thủy
Phương,
Huế
Hòa
Khánh,
Đà
Nẵng
Đa
Phước,
HCM
Phước
Hiệp,
HCM
Thị
trấn
tinh
1,87 5,07 1,69 1,35 0,39 0,14 0,4 0,86 0,58
Sành,
sứ
0,39 1,26 1,27 0,44 0,79 0,79 0,24 1,27 -
Đất,
cát
6,29 5,44 3,08 2,96 1,7 6,75 1,39 2,28 27,85
Xỉ
3,1
2,34
5,7
6,06
-
0
0,44
0,39
-
8
than
Nguy
hại
0,17 0,82 0,05 0,05 - 0,02 0,12 0,05 0,07
Bùn 4,34 1,63 2,29 2,75 1,46 1,35 2,92 1,89 -
Khác
0,58
0,05
1,46
Thành phần
Các nước thu
nhập thấp
Các nước thu
nhập trung bình
Các nước có thu
nhập cao
Chất thải thực
phẩm
40-85 20-65 6-30
Giấy
1-10 8-30
20-45
Cacton 5-15
Chất dẻo 1-5 2-6 2-8
Sợi, vải 1-5 2-10 2-6
9
Cao su, da 1-5 1-4 0-2
Chất thải vườn
1-5 1-10
10-20
Gỗ 1-4
Thủy tinh 1-10 1-10 4-12
Vỏ hộp kim loại 1-5 1-5 2-8
Đất,cát, tro, bụi 1-40 1-30 0-10
Nguồn [19]
Trong các cấu tử hữu cơ của của RTSH thành phần hoá học của chúng
Carton 44,0
5,9
44,6
0,3
0,2
5,0
Chất dẻo 60,0
7,2
22,8
-
-
10,0
Vải 55,0
6,6
31,2
Gỗ 49,5
6,0
42,7
0,2
0,1
1,5
Nguồn [8]
1.1.3. Ảnh hưởng môi trường của RTSH
- Môi trường đất:
+ RTSH nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều được lưu giữ lại
trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon,… nằm lại trong
đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: làm thay đổi cơ cấu đất, đất trở nên khô cằn
và vi sinh vật trong đất có thể bị chết.
+ Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất bị
đóng cứng, khả năng thấm nước và hút nước kém, đất bị thoái hóa.
10
- Môi trường nước:
+ Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi sẽ
theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước qua cống rãnh ra ao hồ,
sông ngòi gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận.
+ Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao hồ là nguyên nhân gây
tạo ra ngày càng nhiều, vấn đề quản lý và xử lý RTSH ở các nước trên thế giới đang
ngày càng được quan tâm hơn. Đặc biệt tại các nước phát triển, công việc này được
tiến hành một cách rất chặt chẽ, từ ý thức thải bỏ rác thải của người dân, quá trình
phân loại tại nguồn, thu gom và tập kết rác thải cho tới các trang thiết bị thu gom,
vận chuyển theo từng loại rác.
Nhật Bản - tái chế rác thải
Nhật Bản đã thực hiện rất tốt việc phân loại tại nguồn - điều mà các nước
phát triển đã làm từ hàng chục năm qua. Các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác
thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác không cháy được nhưng có thể tái chế và
loại rác khó tái chế. Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có
màu sắc khác nhau. Nếu gia đình nào không chịu phân loại, để lẫn lộn vào một túi
thì công ty vệ sinh sẽ gửi giấy báo phạt tiền đến nhà ngay ngày hôm sau. Đối với
các loại rác thải cồng kềnh như tivi, tủ lạnh, máy giặt, vật liệu xây dựng… thì phải
đăng ký trước và đúng ngày quy định sẽ có xe của Công ty vệ sinh môi trường đến
chuyên chở, không được tùy tiện vứt trên hè phố.
Việc tái chế rác ở Nhật Bản cũng rất triệt để và hiệu quả: 70% rác nhà bếp
được tái chế thành phân bón hữu cơ góp phần cải tạo đất, giảm bớt nhu cầu sản xuất
và nhập khẩu phân bón. Với bao bì và nhựa, Nhật Bản phải sử dụng 10% lượng dầu
thô nhập khẩu để chế tạo ra 12 triệu tấn nhựa công nghiệp, chiếm 10% hàng nhựa
trên thế giới. Riêng phế thải xây dựng, người ta phải thu gom vật liệu và bê tông
phế thải từ các công trường xây dựng chuyển đến nhà máy chuyên tái chế thành cát
và sắt thép. Chi phí cho việc xử lý rác hàng năm tính theo đầu người khoảng 300
nghìn yên (khoảng 2.500 USD). Với cách thu gom, xử lý rác như vậy đem lại nhiều
lợi ích: Tiết kiệm được chi phí xử lý, giảm lượng rác thải ra môi trường, tạo thêm
hàng hoá sử dụng, tạo công ăn việc làm cho những người làm công tác thu nhặt,
phân loại đồng thời thay thế một phần nguyên liệu đầu vào, do đó tiết kiệm được
tài nguyên và công khai thác [9].
Singapore và đảo rác sinh thái
và yêu cầu đối với rác ra sao. Nhà nào, dù ở trong hay ngoài thành phố, đều phải có
13
3 thùng rác, dùng 3 loại túi ni lông lớn có màu khác nhau để phân loại: Loại có thể
thu hồi, báo chí - bìa hộp và loại rác sinh hoạt ít giá trị tái sử dụng. Các loại túi này
đều có tiêu chuẩn về kích thước, độ dầy, bên ngoài túi có in trọng lượng lớn nhất
mà túi có thể chịu được. Có những loại rác không thể đựng vào túi như tủ lạnh cũ,
máy phát điện, ti vi cũ, giường đệm, xa lông v.v thì gia chủ phải báo trước cho
cơ quan vệ sinh môi trường và phải tuân theo sự bố trí của họ. Để phân tán rác,
quy định mỗi bên phố thu rác trong một ngày riêng, hôm nay thu bên nhà số chẵn,
mai thu bên nhà số lẻ; có lúc chỉ thu túi rác màu này hoặc màu kia, có lúc chỉ thu
thùng carton hoặc giấy đã cuộn gói lại. N hờ có kế hoạch phân định rõ thời gian
thu rác và loại rác sẽ thu mà rác không bị tập trung quá nhiều, số lượng rác thu
mỗi ngày tương đối ổn định, dễ bố trí xe rác.
Tại New York, giấy báo cũ không được bán lấy tiền, thậm chí còn phải nộp
tiền xử lý. Nhưng các phế phẩm khác thì có thể được bán, như vỏ lon hộp nhôm,
chai lọ thủy tinh và nhựa. Trên các loại vật dụng này đều có in sẵn giá tiền, như trên
vỏ lon có chữ “5 xu”, nghĩa là đem vỏ lon dùng rồi đem bán sẽ được trả 5 xu. Các
siêu thị lớn đều có nơi thu mua các thứ phế phẩm đó. Lon thu mua được đưa vào
máy xay thành bột, nhằm thu nhỏ không gian đựng chúng, sau đó máy in ra biên lai
số tiền trả cho người nộp phế phẩm. Có thể dùng biên lai này để mua hàng thay tiền
hoặc đổi lấy tiền mặt.
Cơ quan vệ sinh môi trường sử dụng các loại xe chế biến xử lý rác rất
hiện đại, trông như một cỗ xe tăng hoặc xe bọc thép khổng lồ kiên cố, có công suất
cực lớn. Đồ phế thải dù lớn và cứng đến đâu, như bộ xa lông, tủ lạnh to, máy
phát điện, ghế xoay bằng thép v.v đưa vào xe này đều có thể ép bẹp gí rồi chứa
vào trong thùng xe bọc kín. Mỗi loại xe có một nhiệm vụ riêng, loại này thu nhặt
rác, loại khác xử lý rác. Rác đã khuân ra ngoài nhà thì không phải đem vào nhà nữa,
vì đây là do cơ quan VSMT gây ra chứ không phải do lỗi của dân. Tuy nhiên, nếu
Chế biến
phân compost
Chôn lấp Thiêu đốt
Cananda 10 2 80 8
Đan Mạch 19 4 29 48
Phần Lan 15 0 83 2
Pháp 3 1 54 42
Đức 16 2 46 36
Ý 3 3 74 20
Thụy Điển 16 34 47 3
Thụy Sỹ 22 2 17 59
Mỹ 15 2 67 16
Nguồn [4]15
1.2.2. Ở Việt Nam
Một thực tế mà các thành phố lớn ở Việt Nam đang phải đối mặt là lượng
CTRSH phát sinh hàng ngày quá lớn. Nhiều nhà đầu tư đã lập các dự án xây dựng
nhà máy xử lý rác với các công nghệ khác nhau nhưng đa phần các dự án đó đã
không được triển khai hoặc triển khai không hiệu quả. Do vậy đến nay, phần lớn
rác thải vẫn tiếp tục được xử lý bằng một công nghệ duy nhất đó là chôn lấp.
Công nghệ xử lý CTR còn nhiều vấn đề bức xúc, việc lựa chọn các bãi
chôn lấp, khu trung chuyển và thu gom chưa đủ căn cứ khoa học và thực tiễn có
tính thuyết phục và công nghệ xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật vệ sinh
môi trường nên chưa thu hút được nhiều sự ủng hộ của người dân địa phương. Các
công trình xử lý CTR còn manh mún, phân tán theo đơn vị hành chính nên công tác
quản lý chưa hiệu quả, hiệu suất đầu tư cao, hiệu quả sử dụng lại thấp gây lãng phí
công nghệ cũng như triển khai ứng dụng trong thực tế còn gặp một số khó khăn [1].
Vì vậy, Bộ Xây dựng đã kiến tạo Chương trình xử lý CTRSH áp dụng
công nghệ hạn chế chôn lấp giai đoạn 2009 - 2020 với quan điểm kết hợp đầu tư
của Nhà nước và khuyến khích, huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư
trong lĩnh vực xử lý CTRSH để đảm bảo đáp ứng mục tiêu đến năm 2020, các
địa phương đều được đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý CTRSH nhằm giải quyết
triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường. Giai đoạn 2009 - 2015 sẽ có 85% tổng lượng
CTRSH đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó
khoảng 60% được tái chế và tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơ hoặc đốt rác thu hồi
năng lượng. Giai đoạn 2016 – 2020, sẽ có 90% tổng lượng CTRSH đô thị phát sinh
được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó 85% được tái chế và tái sử
dụng, sản xuất phân hữu cơ hoặc đốt rác thu hồi năng lượng [1]
Việc thực hiện Chương trình xử lý CTRSH áp dụng công nghệ hạn chế
chôn lấp giai đoạn 2009 - 2020 có ý nghĩa to lớn đối với nước ta trong giai đoạn
hiện nay, nhằm phát huy mọi nguồn lực tham gia giải quyết những bức xúc về
CTRSH góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác quản lý CTR trong
cả nước. Các nhà máy xử lý rác thải của chương trình được xây dựng sẽ góp phần
thực hiện mục tiêu hạn chế chôn lấp rác thải, tiết kiệm kinh phí, đất đai, hạn chế gây
17
ô nhiễm môi trường và giải quyết triệt để vấn đề rác thải hiện đang gây bức xúc
tại các đô thị [1].
1.3. Phương pháp MFA và ứng dụng trong kiểm soát, giảm thiểu chất
thải
1.3.1. Lịch sử của phương pháp MFA
Phân tích dòng vật chất (MFA) đề cập đến việc phân tích các thông lượng
của chuỗi quá trình bao gồm việc khai thác hoặc thu hoạch, biến đổi hóa học,
sản xuất, tiêu thụ, tái chế, và xử lý vật liệu. Nó được dựa trên tính toán trong đơn vị
vật lý (thường là tấn) định lượng đầu vào và đầu ra của các quy trình. Các đối tượng
hóa của các thành phố và (2) phân tích các con đường ô nhiễm trong khu vực như
lưu vực sông hoặc các khu vực đô thị. Trong những thập kỷ sau, MFA đã trở thành
một công cụ phổ biến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, bao gồm kiểm soát quá trình,
xử lý chất thải và nước thải, quản lý dinh dưỡng nông nghiệp, quản lý chất lượng
nước, bảo tồn và phục hồi tài nguyên, thiết kế sản phẩm, đánh giá vòng đời [25]
1.3.2. Một số ứng dụng của MFA [4]
1.3.2.1. Lĩnh vực kỹ thuật và quản lý môi trường
Môi trường là một hệ thống phức tạp bao gồm các sinh vật sống, năng lượng,
vật chất, không gian, và thông tin. Loài người, giống như tất cả các loài khác, đã
sử dụng môi trường cho sản xuất và xử lý. Con người sản xuất thực phẩm và nơi
trú ẩn và ngược lại con người đã trả lại các chất thải như phân, khí thải, và các
mảnh vụn. Kỹ thuật môi trường đã được mô tả như là (1) nghiên cứu chuyển hóa,
vận chuyển, và ảnh hưởng của các chất trong môi trường tự nhiên và (2) thiết kế và
thực hiện các tùy chọn cho việc xử lý và phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Các
mục tiêu của quản lý và kỹ thuật môi trường là biện pháp để đảm bảo (1) dòng chảy
chất và nồng độ trong nước, không khí, đất và được giữ ở mức cho phép các
chức năng chính của các hệ thống tự nhiên và (2) các chi phí liên quan có thể được
thực hiện bởi các bên liên quan. MFA được sử dụng trong một loạt các ứng dụng
quản lý và kỹ thuật môi trường, kể cả báo cáo tác động môi trường, khắc phục
hậu quả của chất thải nguy hại, thiết kế các chiến lược kiểm soát ô nhiễm
không khí, quản lý chất dinh dưỡng trong lưu vực sông, lập kế hoạch các
19
chương trình theo dõi đất, quản lý nước thải và bùn. Tất cả những nhiệm vụ đòi hỏi
một sự hiểu biết thấu đáo về dòng chảy và tích lũy của các vật liệu bên trong.
MFA cũng rất quan trọng trong quản lý và kỹ thuật vì nó cung cấp
minh bạch. Điều này đặc biệt quan trọng đối với báo cáo tác động môi trường.
Giá trị phát thải một mình không cho phép kiểm tra chéo khi một sự thay đổi trong
ranh giới điều kiện (ví dụ, thay đổi đầu vào hoặc quá trình thiết kế) là thích hợp để
nhiệt thải sưởi ấm và các mục đích khác (ví dụ, làm mát) từ lâu đã được công nhận
là đạt hiệu quả tốt. Cân bằng vật liệu được xem như một công cụ chính để hỗ trợ các
hệ sinh thái công nghiệp.
1.3.2.3. Quản lý tài nguyên
Có hai loại tài nguyên: đầu tiên, tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản,
nước, không khí, đất, thông tin, và sinh khối (bao gồm cả thực vật, động vật và
con người), và thứ hai, nguồn lực con người gây ra (ví dụ, "di sản văn hóa,"
kiến thức về khoa học và công nghệ, nghệ thuật, lối sống), và nhân lực. Quản lý
tài nguyên bao gồm các phân tích, lập kế hoạch và phân bổ, nâng cấp các
nguồn lực. MFA là quan trọng hàng đầu để phân tích và quy hoạch, đặc biệt
quan trọng trong việc dự báo sự khan hiếm các nguồn tài nguyên. MFA là hữu ích
trong việc xác định sự tích tụ và sự suy giảm của vật liệu trong tự nhiên và
môi trường của con người. Ngoài ra, nếu MFA được thực hiện một cách đồng bộ ở
mặt trước và mặt sau của hệ thống con người, nó là công cụ trong việc kết nối các
nguồn lực quản lý với môi trường và quản lý chất thải. Nó cho thấy sự cần thiết cho
bồn rửa cuối cùng và để tái chế các biện pháp, và nó là hữu ích trong việc thiết kế
các chiến lược để tái chế và xử lý.
1.3.2.4. Quản lý chất thải
MFA là một công cụ có giá trị trong quản lý chất thải vì nó có thể xác định
chính xác chi phí-hiệu quả thành phần nguyên tố của chất thải. Thông tin này là rất
quan trọng nếu mục tiêu là gán một dòng chất thải tốt nhất phù hợp tái chế hoặc
công nghệ xử lý, thiết kế xử lý chất thải mới. Ví dụ, chất thải nhựa hỗn hợp mà
không thể được tái chế vì lý do quá trình có thể được sử dụng như một nhiên liệu
thứ cấp trong nồi hơi công nghiệp miễn là nồng độ các kim loại nặng và các chất
ô nhiễm khác không phải là quá cao. MFA cũng rất hữu ích trong việc điều tra việc