Nghiên cứu khả năng ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới hệ sinh thái nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng tại huyện thường tín, hà nội và đề xuất giải pháp giảm thiểu - Pdf 28


ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1. Khái niệm, phân loại thuốc BVTV 3
1.1.2. Tình hình sử dụng thuốc BVTV 4
1.1.2.1.Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới 4
1.1.2.2. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam 7
1.2. Các hƣớng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 10
1.2.1. Các hướng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp trên thế giới 10
1.2.2. Các hướng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp tại Việt Nam 12
1.3. Sức khỏe cộng đồng và ảnh hƣởng của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến
sức khỏe cộng đồng 13
1.3.1. Trên thế giới 14
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 18
2.2. Phạm vi nghiên cứu 18
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 18
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 23
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 23
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 26
3.1.3. Sơ lược đánh giá thực trạng dân cư vùng nghiên cứu 28
3.2. Đánh giá hiện trạng hệ sinh thái nông nghiệp của vùng nghiên cứu. 28

Bảng 3.6: Thành phần các loài động vật tại khu vực nghiên cứu 36
Bảng 3.7: Thống kê việc sử dụng hỗn hợp các loại thuốc 47
Bảng 3.8: Số lần phun thuốc trên cây trồng của các hộ tại xã Hà Hồi và Thƣ Phú 47
Bảng 3.9: Cách thức xử lý thuốc còn dƣ và dụng cụ sau khi sử dụng thuốc BVTV
của nông dân 49
Bảng 3.10: Thành phần các loài sâu hại và thiên địch chính trên cây lúa 51
Bảng 3.11: Thành phần các loài sâu hại và thiên địch chính trên cây cà chua 55
Bảng 3.12: Kiến thức của ngƣời nông dân về chọn thời tiết và hƣớng gió khi phun
thuốc BVTV 60
Bảng 3.13: Các triệu chứng xuất hiện sau khi phun thuốc BVTV 60
Bảng 3.14: Tình hình bệnh tật của ngƣời nông dân vùng nghiên cứu 61

v
DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Mô hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện 25
Hình 3.2: So sánh sự phân bố của các taxon thực vật ở khu vực nghiên cứu 29
Hình 3.3: So sánh tỉ lệ % của các ngành hệ thực vật khu vực nghiên cứu và hệ thực
vật Việt Nam 31
Hình 3.4: Tỉ lệ nơi sống 33
Hình 3.5: Tỷ lệ công dụng của các loài thực vật khu vực nghiên cứu 34


1
MỞ ĐẦU
Dân số thế giới hàng năm tăng thêm gần 100 triệu ngƣời (K.Lampe, 1994)
cho nên nhu cầu của con ngƣời về sản phẩm nông nghiệp ngày một tăng. Việc đảm
bảo nhu cầu về lƣơng thực và thực phẩm bao giờ cũng là vấn đề cần thiết và đƣợc
toàn thế giới quan tâm. Để thỏa mãn các nhu cầu này nông nghiệp thế giới đã phát
triển theo hƣớng tập trung thâm canh. Nhƣng khi thâm canh trồng trọt thì không chỉ
tăng năng suất cây trồng mà tăng cả sự thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Theo tính toán
của FAO sự tăng năng suất cây trồng nông nghiệp trên toàn thế giới chậm hơn sự
tăng thiệt hại do sâu bệnh gây ra khoảng 1,5 lần. Vì vậy, để có một mùa màng bội
thu con ngƣời đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau nhƣ cải tạo giống cây trồng,
áp dụng kỹ thuật làm đất, sử dụng phân bón, hóa chất, thuốc bảo vệ thực
vật…Trong đó sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) lâu nay vẫn đƣợc coi là biện
pháp chủ lực có vai trò tích cực trong thời gian dài. Việc sử dụng thuốc BVTV đã
mang lại hiệu quả rất lớn, giúp diệt trừ và hạn chế đƣợc nhiều loài dịch hại trong
một thời gian rất ngắn. Tuy nhiên, ngoài những lợi ích mà thuốc BVTV mang lại thì
việc sử dụng không hợp lý và khoa học của một bộ phận lớn ngƣời dân đã gây ra
nhiều ảnh hƣởng tiêu cực nhƣ ảnh hƣởng đến sức khỏe cộng đồng, gây ô nhiễm môi
trƣờng, tăng tính chống thuốc của dịch hại, tiêu diệt hệ thiên địch, phá vỡ cân bằng
sinh thái, gây ra nhiều vụ bùng nổ của dịch hại…
Việt Nam là nƣớc có nền nông nghiệp thâm canh từ lâu đời nên có sự đa
dạng về thành phần, số lƣợng loài trong hệ sinh thái nông nghiệp. Khí hậu Việt
Nam nóng ẩm rất thuận lợi cho sự phát triển của các loài động thực vật nhƣng đó
cũng là điều kiện cho sâu hại và các loại dịch bệnh phát triển. Không nằm ngoài xu
hƣớng chung của thế giới trong những năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu
thế kỷ XXI chúng ta đã sử dụng thuốc BVTV trong việc giữ gìn và tăng năng suất
nhiều loại cây trồng. Tuy nhiên, việc sử dụng tùy tiện và lạm dụng thuốc BVTV ở
một số nơi dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng: gây ngộ độc cho con ngƣời, gia
súc, để lại dƣ lƣợng trong nông sản gây tác hại lâu dài cho ngƣời sử dụng, làm ô

tƣơng đối cao nhƣng có khả năng phân hủy trong môi trƣờng nhanh hơn so với
nhóm clo hữu cơ.
- Nhóm cacbamat: Mipcin, Bassa, Sevin…là nhóm thuốc đƣợc dùng rộng vì
giá thành rẻ, hiệu lực cao, độ độc cấp tính tƣơng đối cao nhƣng khả năng phân hủy
nhanh tƣơng tự nhóm lân hữu cơ.
- Nhóm Pyrethoide (Cúc tổng hợp): Decis, Sherpa, Sumicidine…nhóm này
dễ bay hơi và nhanh phân hủy trong môi trƣờng.
- Nhóm các chất Pheromone: Là những hóa chất đặc biệt do sinh vật (côn
trùng) tiết ra để kích thích hành vi của những các thể khác cùng loài.
- Các chất điều hòa sinh trƣởng côn trùng (Nomolt, Applaud…) là những
chất đƣợc dùng để biến đổi sự phát triển của côn trùng. Chúng ngăn cản quá trình

4
phát sinh phát triển bình thƣờng ở côn trùng nhƣ ngăn cản quá trình biến thái hoặc
kích thích sự trƣởng thành từ rất sớm khi côn trùng chƣa hoàn thiện sự phát triển….
Các hợp chất này rất ít độc đối với ngƣời và môi trƣờng.
- Nhóm thuốc trừ sâu vi sinh (Dipel, Thuricide, Xentari, NPV…): Chính là
các loài vi sinh vật có thể gây cản trở quá trình phát sinh phát triển của các đối
tƣợng dịch hại, nhóm thuốc này sử dụng an toàn, ít độc đối với ngƣời và các vi sinh
vật không phải là dịch hại.
Ngoài ra còn có nhiều thuốc có nguồn gốc hóa học khác, một số sản phẩm từ
dầu mỏ cũng đƣợc dùng làm thuốc trừ sâu.
1.1.2. Tình hình sử dụng thuốc BVTV
1.1.2.1. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới
Lịch sử phát triển hóa chất BVTV trên thế giới có thể chia thành một số giai
đoạn sau:
- Giai đoạn 1 (Trƣớc thế kỷ XX): Với trình độ canh tác lạc hậu, các giống
cây trồng có năng suất thấp, tác hại của dịch hại còn chƣa lớn. Để bảo vệ cây, ngƣời
ta dựa vào các biện pháp canh tác, giống sẵn có. Sự phát triển nông nghiệp trông
chờ vào sự may rủi.

BVTV trong nông nghiệp gây ra cho con ngƣời và môi sinh đƣợc phát hiện nhƣ ô
nhiễm môi trƣờng, gây hại sức khỏe cộng đồng, phả hủy các hệ sinh thái nông
nghiệp… Khái niệm phòng trừ tổng hợp sâu bệnh ra đời.
- Giai đoạn 3 (những năm 1960 – 1980): Việc lạm dụng thuốc BVTV đã để
lại những hậu quả rất xấu cho môi sinh, môi trƣờng dẫn đến tình trạng nhiều
chƣơng trình phòng chống dịch hại của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế dựa
vào thuốc hóa học đã bị sụp đổ, tƣ tƣởng sợ hãi không dám dùng thuốc BVTV xuất
hiện. Thậm chí có ngƣời cho rằng cần loại bỏ không dùng thuốc BVTV trong nông
nghiệp. Chính vì điều này các nhà khoa học đã đầu tƣ nghiên cứu các loại hóa chất
BVTV mới an toàn với môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Nhiều hóa chất BVTV
mới ra đời nhƣ thuốc trừ cỏ mới, các thuốc trừ sâu nhóm perenthriod tổng hợp
(1970), các thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các
chất điều tiết sinh trƣởng côn trùng liên tục ra đời. Lƣợng thuốc BVTV đƣợc dùng
trên thế giới không những không giảm mà còn tăng lên không ngừng.

6
Giai đoạn 4 (Từ những năm 1980 đến nay): Vấn đề bảo vệ môi trƣờng đƣợc
quan tâm hơn bao giờ hết. Nhiều loại thuốc BVTV mới trong đó có nhiều thuốc trừ
sâu bệnh sinh học có hiệu quả cao với dịch hại nhƣng an toàn với môi trƣờng ra đời.
Vai trò của biện pháp hóa học đã đƣợc thừa nhận tƣ tƣởng sợ thuốc BVTV cũng ít
dần quan điểm phòng trừ tổng hợp đƣợc phổ biến rộng rãi [20].
Mặc dù sự phát triển của biện pháp hóa học có nhiều lúc thăng trầm song
tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới và một số hoạt chất tăng lên không
ngừng, số chủng loại ngày càng phong phú. Năm 1945 thế giới sản xuất ra gần 400
nghìn tấn, thập niên 90 của thế kỷ XX sản xuất ra hơn 3 triệu tấn mỗi năm. Đến nay
thế giới sản xuất khoảng 4,4 triệu tấn/năm với 2.537 loại hóa chất BVTV. Những
quốc gia có sản lƣợng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn và sử dụng hóa chất BVTV
đứng hàng đầu thế giới là Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Tại Trung Quốc để tăng cƣờng tự chủ về hóa chất BVTV, chính phủ Trung
Quốc đã gia tăng đầu tƣ vào ngành công nghiệp hóa chất BVTV. Chính vì vậy

thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng quốc gia. Ngày nay biện
pháp hóa BVTV phát triển theo các hƣớng sau:
- Nghiên cứu tìm ra các hoạt chất mới có cơ chế tác động mới, có tính chọn
lọc và hiệu lực trừ dịch hại cao hơn, lƣợng dùng nhỏ hơn, tồn lƣu ngắn, ít độc và dễ
dùng hơn. Thuốc trừ sâu tác dụng chậm nhƣ điều khiển sinh trƣởng côn trùng,
pheronmon, các chất phản duy truyền, chất triệt sản là những ví dụ điển hình. Thuốc
sinh học đƣợc chú ý nhiều hơn.
- Tìm hiểu phƣơng pháp và nguyên liệu để gia công thành các dạng thuốc
mới ít ô nhiễm, hiệu lực dài, dễ dùng, loại dần dạng thuốc gây ô nhiễm môi trƣờng.
- Nghiên cứu công cụ phun rải tiên tiến và cải tiến các loại công cụ hiện có
để tăng khả năng trang trải, tăng độ bám dính, giảm đến mức tối thiểu sự rửa trôi
của thuốc.
1.1.2.2. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Lịch sử phát triển của biện pháp hóa học, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc
BVTV ở Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn:

8
- Trƣớc năm 1957: Biện pháp hóa học hầu nhƣ không có vị trí trong sản xuất
nông nghiệp. Một lƣợng nhỏ sunfat đồng đƣợc dùng ở một số đồn điền do Pháp
quản lý để trừ bệnh gỉ sắt cà phê và Phytophthora cao su và một ít DDT đƣợc dùng
để trừ sâu hại rau.
Việc thành lập Tổ hóa BVTV (1/1956) của Viện khảo cứu trồng trọt đã đánh
dấu sự ra đời của ngành Hóa BVTV ở Việt Nam. Thuốc BVTV đƣợc dùng lần đầu
tiên trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc là trừ sâu gai, sâu cuốn lá lớn ở Hƣng
Yên (vụ Đông xuân năm 1956 – 1957). Ở Miền Nam thuốc BVTV đƣợc sử dụng từ
năm 1962.
- Giai đoạn 1957 – 1990:
Thời kỳ bao cấp việc nhập khẩu, quản lý và phân phối thuốc do nhà nƣớc
độc quyền thực hiện. Nhà nƣớc nhập rồi trực tiếp phân phối thuốc cho các tỉnh theo
giá bao cấp. Bằng mạng lƣới vật tƣ nông nghiệp địa phƣơng thuốc BVTV đƣợc

đáng kể. Nhiều loại thuốc mới và các dạng thuốc mới hiệu quả hơn, an toàn hơn với
môi trƣờng đƣợc nhập khẩu và sử dụng. Năm 1991 hóa chất trừ sâu chiếm 83,3%,
hóa chất trừ nấm chiếm 9,5%, hóa chất diệt cỏ 4,1%. Đến năm 2008 tỉ lệ hóa chất
trừ sâu chiếm 37,9%, hóa chất trừ nấm chiếm 21,12%, hóa chất diệt cỏ 13,77%, hóa
chất diệt côn trùng 23,46% và những loại khác 3,75%. Lƣợng thuốc BVTV sử dụng
qua các năm tăng dần, kim ngạnh nhập khẩu thuốc BVTV tăng mạnh. Theo số liệu
của Tổng cục Thống kê kim ngạnh nhập khẩu thuốc BVTV và nguyên liệu năm
2007 là 382.830.015 USD tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2006, năm 2008 là
473.760.692 USD tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2007. Nguồn hóa chất BVTV
đƣợc nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu từ Trung Quốc, Singapore, Ấn Độ, Nhật Bản.
Hiện nay số lƣợng và chủng loại thuốc BVTV sử dụng ở nƣớc ta tƣơng đối cao so
với khu vực. Năm 2009 bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép 886 hoạt
chất và 2.537 thƣơng phẩm đƣợc phép sử dụng tại Việt Nam. Một mạng lƣới phân
phối thuốc BVTV rộng khắp cả nƣớc đã đƣợc hình thành, việc cung ứng thuốc đến
nông dân rất thuận lợi. Công tác quản lý thuốc BVTV đƣợc chú ý đặc biệt và đạt
hiệu quả đáng khích lệ [10].

10
Nhƣng do nhiều nguồn hàng, mạng lƣới lƣu thông khá rộng đã gây khó cho
công tác quản lý. Quá nhiều tên thuốc đẩy ngƣời sử dụng khó lựa chọn đƣợc thuốc
tốt và việc hƣớng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cũng gặp khó khăn không ít. Tình trạng
lạm dụng thuốc, tƣ tƣởng ỷ lại vào biện pháp hóa học đã để lại những hậu quả xấu
cho môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời.
1.2. Các hƣớng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Các hƣớng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp trên thế giới
Từ những năm 40 của thế kỷ XX, do sự xâm nhập của Sinh thái học vào các
chuyên ngành khoa học khác nhau, đã hình thành những chuyên ngành khoa học
mới nhƣ Sinh thái - Di truyền, Sinh thái - Sinh lí, Sinh thái - Giải phẫu, Sinh thái
học nhân chủng, v.v và Sinh thái học Nông nghiệp. Trong những năm gần đây,
trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc, ngƣời ta nói nhiều đến sinh thái nông nghiệp,

sinh thái hài hoà, đạt tới sự cân bằng các yếu tố cấu thành nó. Thực chất của kĩ thuật
tăng năng suất cây trồng là kĩ thuật điều khiển sự hoạt động của hệ sinh thái nông
nghiệp năng suất cao trong quá trình tồn tại và phát triển của nó. Tất cả các vấn đề
trên là các yêu cầu cơ bản của việc xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái, và
những vấn đề ấy chỉ có thể giải quyết đƣợc trên cơ sở các quy luật khách quan của
Sinh thái học nông nghiệp - một môn khoa học tổng hợp, coi sản xuất nông nghiệp
là một hệ thống đang vận động không ngừng và luôn luôn tự đổi mới.
Mặt khác, trên thế giới lí thuyết "hệ thống" cũng bắt đầu xâm nhập rộng rãi
vào tất cả các ngành khoa học. Đối tƣợng của Sinh thái học nông nghiệp là các hệ
thống (các HSTNN). Vì vậy thực chất nội dung nghiên cứu của môn học này là áp
dụng lí thuyết hệ thống và các công cụ của nó nhƣ điều khiển học, mô hình toán
học, thống kê nhiều chiều và chƣơng trình hoá máy tính cùng với các quy luật Sinh
thái học vào việc nghiên cứu các HSTNN. Vì thế, Sinh thái học nông nghiệp đã ra
đời và việc bồi dƣỡng, nâng cao những kiến thức về hệ thống tổng hợp là hết sức
cần thiết. Sinh thái học nông nghiệp là một khoa tổng hợp, nó khảo sát và ứng dụng
các qui luật hoạt động của các HSTNN; hay nói khác đi: Sinh thái học nông nghiệp
là khoa học về sự sống ở những bộ phận của cảnh quan dùng để canh tác và chăn
nuôi. Hiện nay đang đặt ra một số vấn đề tổng hợp cần đƣợc giải quyết mới có thể

12
phát triển nông nghiệp một cách nhanh chóng và vững chắc nhƣ phân vùng sản xuất
nông nghiệp, xác định hệ thống cây trồng và vật nuôi một cách hợp lí, chế độ canh
tác cho các vùng sinh thái khác nhau, phát triển nông nghiệp trong điều kiện năng
lƣợng ngày càng đắt, phòng chống tổng hợp sâu bệnh Để giải quyết đƣợc các vấn
đề nêu trên một cách có cơ sở khoa học cần phải đẩy mạnh việc nghiên cứu sinh
thái và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp [30].
1.2.2. Các hƣớng nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp tại Việt Nam
Tại Việt Nam, sinh thái học nông nghiệp là một ngành khoa học trong đó các
nguyên lí sinh thái đƣợc áp dụng triệt để trong công tác nghiên cứu, thiết kế, quản lí
và đánh giá các hệ thống nông nghiệp với mục đích tạo ra nhiều sản phẩm nhƣng

Nhƣ vậy, HSTNN cũng sẽ có các thành phần điển hình của một hệ sinh thái
nhƣ sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân huỷ và môi trƣờng vô sinh.
Tuy nhiên, với mục đích hàng đầu là tạo ra năng suất kinh tế cao nên đối tƣợng
chính của hệ sinh thái nông nghiệp là các thành phần cây trồng và vật nuôi. Trong
thực tế sản xuất, dựa vào tri thức và vốn đầu tƣ, con ngƣời giữ HSTNN ở mức phù
hợp để có thể thu đƣợc năng suất cao nhất trong điều kiện cụ thể. Con ngƣời càng
tác động đẩy HSTNN đến tiếp cận với hệ sinh thái có năng suất kinh tế cao nhất thì
lực kéo về mức độ hợp lí của nó trong tự nhiên ngày càng mạnh, năng lƣợng và vật
chất con ngƣời dùng để tác động vào hệ sinh thái càng lớn, hiệu quả đầu tƣ càng
thấp [30].
1.3. Sức khỏe cộng đồng và ảnh hƣởng của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
đến sức khỏe cộng đồng
Tất cả các thuốc BVTV đều có thể gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức
khỏe con ngƣời do đó việc sử dụng thuốc BVTV cần đƣợc quản lý và sử dụng đúng
kỹ thuật. Những loại độc hại quá cần đƣợc hạn chế hoặc cấm sử dụng. Tuy nhiên
những thuốc BVTV này ở một số nƣớc đang phát triển vẫn đang đƣợc sử dụng một
cách rộng rãi nên tình trạng nhiễm độc hàng loạt vẫn đang diễn ra ở mức báo động.
Tại hội nghị y tế thế giới lần thứ 8 năm 1975, WHO đƣa ra bảng phân loại
thuốc BVTV theo độ độc hại đối với các loại sinh vật căn cứ trên giá trị LD
5014
(Lethal Dose 50) và LC
50
(Lethal Concentration 50). Trong đó, LD
50
là liều thuốc
gây chết 50% cá thể thí nghiệm, có thể là chuột hoặc thỏ, đƣợc tính bằng mg/kg
trọng lƣợng. LD

(mg/kg)
Thể lỏng
(mg/kg)
Ia, Ib. Rất độc
Vạch màu đỏ
<50
<200
<100
<400
II. Độc
Vạch màu vàng
50 - 500
200 – 1000
100 - 1000
400 – 4000
III. Độc trung bình
Vạch màu xanh
>500
>2000
>1000
>4000
IV. Ít độc
Vạch màu xanh lá cây
“Cẩn thận”
Nguồn: Cục BVTV
1.3.1. Trên thế giới
Theo thống kê của Tổ chức y tế Thế giới (WHO) năm 1990, mỗi năm có

20 năm đầu ngƣời ta không chú ý đến tác hại của thuốc BVTV đến môi trƣờng và
con ngƣời. Đến những năm 80 của thế kỷ XX mới có những công trình nghiên cứu
về ô nhiễm môi trƣờng và tác dụng của thuốc BVTV đến sức khỏe con ngƣời [13].
Những ảnh hƣởng trên lâm sàng, cận lâm sàng của thuốc BVTV đối với ngƣời Việt
Nam bƣớc đầu đƣợc làm sáng tỏ và là tiếng chuông báo động về nguy cơ sức khỏe
môi trƣờng do thuốc BVTV gây nên ở nƣớc ta.

16
Theo Hà Minh Trung và cộng sự nhóm nghiên cứu đề tài cấp nhà nƣớc
(2008), cả nƣớc hiện có 11,5 triệu hộ nông nghiệp, số ngƣời tiếp xúc nghề nghiệp
với hóa chất BVTV ít nhất cũng tới 11,5 triệu ngƣời. Với tỷ lệ nhiễm độc hóa chất
BVTV dự đoán 18,26% thì số ngƣời nhiễm độc mãn tính trong cả nƣớc có thể tới
2,1 triệu ngƣời [26].
Theo Bộ Y tế từ năm 1980 – 1985 chỉ tính riêng 16 tỉnh phía phía Bắc đã có
2.211 ngƣời bị nhiễm độc nặng do hóa chất BVTV, 811 ngƣời chết. Năm 1997 tại
10 tỉnh thành phố cả nƣớc với lƣợng hóa chất BVTV sử dụng mới chỉ là 4.200 tấn
nhƣng đã có 6.103 ngƣời bị nhiễm độc, 240 ngƣời chết do bị nhiễm độc cấp và mãn
tính. Nghiên cứu của Vụ Y tế dự phòng (chƣơng trình VTN/OCH/010 – 96.97) tại 4
tỉnh Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Tiền Giang, Cần Thơ trong 4 năm (1994 – 1997)
có 4.899 ngƣời bị nhiễm độc, 286 ngƣời chết chiếm 5,8%. Các biểu hiện nhiễm độc
sau ngày làm việc khá phổ biến là đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, lợm giọng, buồn
nôn, chán ăn…Nhiều tác giả đã nghiên cứu đánh giá ảnh hƣởng của hóa chất BVTV
đến sức khỏe con ngƣời [5,9].
Nguyễn Văn Nguyên và cộng sự nghiên cứu 571 công nhân và hai nông
trƣờng chè có sử dụng hóa chất BVTV thấy 77,2% đau đầu kém ngủ, 75,5% đau tức
ngực và khó thở, 65,5 đau lƣng và xƣơng khớp, 46,5 % mệt mỏi run chân tay,
44,8% ho và khạc đờm, 29,3% đau bụng không rõ nguyên nhân, 21,1% chán ăn.
Khám lâm sàng thấy 25% có hội chứng suy nhƣợc thần kinh, 26,5% hội chứng rối
loạn tiêu hóa, 16,3% bị bệnh xƣơng khớp, 14,2 bị bệnh đƣờng hô hấp, 10% bị bệnh
ngoài da. Những rối loạn sớm nổi bật là hoạt tính enzym cholinesetrase giảm xuống

Có thể nói nhiễm độc thuốc BVTV là một thực tế, diễn ra thƣờng xuyên liên
tục ở tất cả các địa phƣơng trong cả nƣớc và trở thành một vấn đề lớn trong công
tác bảo vệ sức khỏe ngƣời lao động nông nghiệp ở nƣớc ta hiện nay.

18
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Đặc điểm dân cƣ, các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực nghiên cứu.
- Thực trạng sử dụng thuốc BVTV, thực trạng đa dạng sinh học hệ sinh thái
nông nghiệp vùng nghiên cứu.
- Khả năng ảnh hƣởng của thuốc BVTV đến hệ sinh thái nông nghiệp và sức
khỏe cộng đồng vùng nghiên cứu.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Hệ sinh thái nông nghiệp Huyện Thƣờng Tín – Thành phố Hà Nội (nghiên
cứu trƣờng hợp tại xã Hà Hồi và xã Thƣ Phú).
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phƣơng pháp kế thừa tài liệu
Các công trình nghiên cứu về hệ sinh thái nông nghiệp, thuốc BVTV, các bộ
danh lục động thực vật, báo cáo khoa học, báo cáo thống kê có liên quan đến đối
tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Báo cáo tóm tắt điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu.
2.3.2. Phƣơng pháp điều tra, khảo sát thực địa
Các đợt nghiên cứu khảo sát thực địa đƣợc tiến hành từ tháng 01 đến tháng
10 năm 2014 với tuần suất 02 lần/ 01 tháng. Các khảo sát đƣợc thiết lập qua các hệ
sinh thái của khu vực nghiên cứu là:
- Các cánh đồng rau màu, ruộng lúa nƣớc;
- Bờ ruộng và đƣờng đi;
- Thủy vực: Chủ yếu là ao hồ, vùng đất trũng;
- Mƣơng nội đồng;
- Các khu vực có cây (bao gồm những mảnh nhỏ nằm giữa khu ruộng trồng trọt);

tác giả các taxon viết theo Brummitt và Powell (1992). Các ngành thực vật đƣợc
xếp theo sự tiến hóa của thực vật, từ phát tán bằng bào tử (Khuyết lá thông, Thông
đất, Dƣơng xỉ) đến các ngành thực vật có hạt (Thông, Ngọc lan). Các họ trong từng
ngành (riêng ngành Ngọc lan thì xếp các họ trong từng lớp), các chi trong từng họ
và các loài trong từng chi thì xếp theo thứ tự chữ cái trong bảng chữ cái ABC theo

20
tên khoa học. Sự phân bố các loài trong các chi, các họ, các ngành thực vật đƣợc
phân tích theo quan điểm của Tomachev (1974).
Phân tích đánh giá bản chất sinh thái đa dạng hệ thực vật
Dựa trên nguyên tắc phân chia dạng sống của Raunke (1937)
Phân tích đánh giá mức độ giàu loài quý hiếm
Theo IUCN, 2004 các tiêu chuẩn trong sách đỏ Việt Nam 2007 và các loài có
giá trị tài nguyên (theo “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á” – Prosea, 1995”)
2.3.2.2. Phƣơng pháp đánh giá phân tích đa dạng hệ động vật
- Xác định tuyến điều tra, vị trí thu mẫu ngoài thực địa
- Ghi nhận các đặc trƣng của các sinh cảnh trên tất cả các tuyến khảo sát
- Sử dụng các bẫy động vật đơn giản nhƣ sau:
Bẫy hố:
Bẫy hố là một công cụ cần thiết cho việc bắt và nghiên cứu côn trùng cƣ trú
trên mặt đất, đặc biệt là các loài bọ cánh cứng mặt đất. Chúng tôi tạo ra các bẫy nhƣ
sau: Sử dụng một ống hộp kim loại có chiều cao cao hơn đƣờng kính ngang từ 2 đến
3 lần, đào hố theo kích thƣớc của hộp kim loại sao cho độ sâu của hố bằng với chiều
cao của hộp, đổ một chút nƣớc vào bẫy để tạo chất dính côn trùng không cho thoát
ra ngoài. Kiểm tra bẫy thƣờng xuyên trong ngày.
Vợt thu bắt côn trùng
Lƣới mắt nhỏ là phƣơng pháp thƣờng xuyên nhất đƣợc sử dụng để thu thập
mẫu côn trùng bay trong không khí (chuồn chuồn, ong, bƣớm…). Đƣờng kính lƣới
80 cm, chiều dài 150 cm. Dùng lƣới đi dọc theo tuyến điều tra, thu thập các mẫu và
ghi sổ nhật ký thực địa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status