Nghiên cứu một số tính chất môi trường đất, nước trong hệ sinh thái vườn quốc gia xuân thủy, nam định - Pdf 28

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1. Tổng quan hệ sinh thái của các vùng đất ngập nƣớc (ĐNN) ở Việt Nam . 2
1.1.1. Một số khái niệm về đất ngập nước 2
1.1.2. Chức năng của hệ sinh thái đất ngập nước 3
1.2. Đánh giá khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội VQG Xuân Thủy,
huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 6
1.2.1. Điều kiện tự nhiên VQG Xuân Thủy 6
1.2.2. Kết quả quy hoạch VQG Xuân Thủy 9
1.2.3. Đặc điểm kinh tế - văn hóa và xã hội VQG Xuân Thủy 13
1.3. Đặc điểm và hiện trạng sử dụng môi trƣờng hệ sinh thái đất ngập nƣớc
VQG Xuân Thủy 19
1.3.1. Các sinh cảnh và cồn cát ở vùng triều cửa sông 19
1.3.2. Hiện trạng sử dụng đất VQG Xuân Thủy 22
1.3.3. Tài nguyên nước VQG Xuân Thủy 25
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 26
2.2. Nội dung nghiên cứu 26
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 26
2.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu 26
2.3.2. Phương pháp thu mẫu môi trường 26
2.3.3. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 30
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu chất lƣợng môi trƣờng đất, nƣớc 32
3.1.1. Môi trường đất 32
3.1.2. Môi trường nước 45


Nhu cầu oxy sinh hóa
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
COD Nhu cầu oxy hóa học
CLNM Chất lượng nước mặt
DO Oxy hòa tan trong nước
ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐNN Đất ngập nước
HST Hệ sinh thái
KLN Kim loại nặng
NTTS Nuôi trồng thủy sản
pH Độ chua
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
RNM Rừng ngập mặn
TDS Tổng chất rắn hòa tan
VQG Vườn Quốc gia

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Loại hình khai thác thủy sản của người dân 14
Bảng 2: Địa điểm khai thác thủy sản của người dân 15
Bảng 3: Loại thủy sản đánh bắt của người dân các xã 16

trong đất (7/2011) 37
Biểu đồ 6: pH của đất (12/2012) 40
Biểu đồ 7: Hàm lượng Ca
2+
, Mg
2+
trao đổi trong đất (12/2012) 42
Biểu đồ 8: Hàm lượng Pb
2+
, Cd
2+
linh động trong đất (12/2012) 43
Biểu đồ 9: Hàm lượng NO
3
-
, NH
4
+
linh động trong đất (12/2012) 45

1
MỞ ĐẦU

Vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy là vùng bãi bồi ở cửa sông ven biển thuộc
huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định được đặc trưng bởi sinh cảnh của hệ sinh thái
rừng ngập mặn, là nơi di cư, trú ngụ của nhiều loài chim nước trên thế giới.
Hệ sinh thái này được cấu thành bởi môi trường đất, nước và các loài sinh
vật sống trong nó, đặc biệt là sinh cảnh rừng ngập mặn. Các thành phần chất lượng
môi trường đất, nước là giá đỡ, nuôi dưỡng sự tồn tại và phát triển sinh cảnh rừng
ngập mặn, tạo cho hệ sinh thái rừng ngập mặn những chức năng, giá trị kinh tế xã

trên 50 định nghĩa về ĐNN khác nhau được sử dụng [40]. Qua các nghiên cứu, các
nhà khoa học về ĐNN đã xác định được những điểm chung của ĐNN thuộc các loại
khác nhau, đó là chúng đều có nước nông hoặc đất bão hòa nước, tồn trữ các chất
hữu cơ thực vật phân hủy chậm và nuôi dưỡng nhiều loài động vật, thực vật thích
ứng với điều kiện bão hòa nước [24].
- Định nghĩa về ĐNN theo công ước Ramsar (Công ước về các vùng ĐNN
có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước) năm
1971 có tầm khái quát và bao hàm nhất. Công ước Ramsar định nghĩa: ĐNN được
coi là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước dù là tự nhiên hay nhân tạo,
ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kỳ, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt,
nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khu thủy
triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6m [6].
- Theo Chương trình quốc gia về điều tra ĐNN của Mỹ định nghĩa về ĐNN
như sau: Về vị trí phân bố, ĐNN là những vùng đất chuyển tiếp giữa những HST
trên cạn và HST thủy vực. Những nơi này mực nước ngầm thường nằm sát mặt đất
hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nước nông. ĐNN phải có một trong ba
đặc tính sau [36]:

3
+ Có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh.
+ Nền đất hầu như không bị khô.
+ Nền đất không có cấu trúc rõ rệt hoặc bão hòa nước, bị ngập nước ở mức
cạn tại một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng hàng năm.
- Theo các nhà khoa học Canada: “ĐNN là đất bão hòa nước trong thời gian
dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh. Đó là những nơi khó tiêu thoát nước,
có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt”.
- Các nhà khoa học New Zealand định nghĩa: “ĐNN là một khái niệm chung
để chỉ những vùng đất ẩm ướt từng thời kỳ hoặc thường xuyên. Những vùng đất
ngập nước ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất và nước. Nước có thể là
nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn. ĐNN ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trưng bởi

- Sản xuất sinh khối: Rất nhiều vùng ĐNN là nơi sản xuất và xuất khẩu sinh
khối làm nguồn thức ăn cho các sinh vật thủy sinh, các loài động vật hoang dã cũng
như vật nuôi.
- Giao thông thủy: Hầu hết các sông, kênh rạch, các vùng hồ chứa nước lớn,
vùng ngập lụt thường xuyên hay theo mùa, đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu
Long, vận chuyển thủy đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cũng như
phát triển kinh tế của các cộng đồng dân cư địa phương.
- Giải trí, du lịch: Các Khu bảo tồn ĐNN như Tràm Chim (huyện Tam Nông,
tỉnh Đồng Tháp) và Xuân Thủy (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), nhiều vùng
cảnh quan đẹp như Bích Động và Vân Long (tỉnh Ninh Bình), cũng như nhiều đầm
phá ven biển miền Trung thu hút nhiều khác du lịch đến thăm quan giải trí [14].
1.1.2.2. Chức năng kinh tế
- Tài nguyên rừng: Các loài động vật, thực vật thường rất phong phú ở các
vùng ĐNN, tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có, có thể khai thác để phục
vụ lợi ích kinh tế. Tài nguyên rừng cung cấp các sản phẩm quan trọng như gỗ, than,
củi và các sản phẩm khác như nhựa, tinh dầu, dược liệu.
- Thủy sản: các vùng ĐNN là môi trường sống và nơi cung cấp thức ăn cho
các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao như cá, tôm, cua, động vật thân mềm
- Tài nguyên cỏ và tảo biển: Nhiều diện tích ĐNN ven biển có những loại
tảo, cỏ biển là nguồn thức ăn của nhiều loài thủy sinh vật và còn được sử dụng làm
thức ăn cho người và gia súc, làm phân bón và dược liệu

5
- Sản phẩm nông nghiệp: Các ruộng lúa nước chuyên canh hoặc xen canh với
các cây hoa màu khác đã tạo nên nhiều sản phẩm quan trọng khác của vùng ĐNN.
- Cung cấp nước ngọt: Nhiều vùng ĐNN là nguồn cung cấp nước ngọt cho
sinh hoạt tưới tiêu, cho chăn nuôi gia súc và sản xuất nông nghiệp. Ví dụ: Rừng
tràm, ngoài giá trị kinh tế còn giữ vai trò dự trữ nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt
của các cộng đồng dân cư sống trên vùng đất phèn.
- Tiềm năng năng lượng: Than bùn là một nguồn nhiên liệu quan trọng; các

1.2.1. Điều kiện tự nhiên VQG Xuân Thủy
1.2.1.1.Vị trí địa lý lãnh thổ nghiên cứu
Vườn Quốc Gia Xuân Thủy thuộc địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định,
nằm ở Cửa sông Hồng có tọa độ địa lý 20
0
10’ – 20
0
21’ vĩ độ Bắc và 106
0
21’ –
106
0
35’ kinh độ Đông.
- Vùng triều của Vườn bao gồm: Bãi Trong, Cồn Ngạn, Cồn Lu và Cồn Xanh.
- Vùng lõi của VQG Xuân Thủy bao gồm: Phần Bãi trong của Cồn Ngạn,
toàn bộ Cồn Lu và Cồn Xanh. Vùng lõi có diện tích đất nổi khi triều kiệt là 3.100 ha
và đất còn ngập nước là 4.000 ha. Tổng diện tích đất tự nhiên 7.100 ha.
- Vùng đệm VQG Xuân Thủy: có tổng diện tích 7.233,6 ha. Vùng này bao
gồm 960 ha còn lại của Cồn Ngạn (ranh giới tính từ phía trong đê Vành Lược đến
lạch sông Vọp), 2.632 ha của Bãi Trong cùng với phần diện tích tự nhiên rộng
3.641,6 ha của 5 xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân, Giao Hải [32].
1.2.1.2. Nhiệt độ
Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình hàng năm là 24
0
C; nhiệt độ cao nhất trong mùa
hè là 40,3
0
C; nhiệt độ thấp nhất trong mùa đông là 6,8
0
C. Độ ẩm trung bình 84%.

a, Đặc điểm thổ nhưỡng
Đất đai toàn vùng VQG Xuân Thủy nói chung được tạo thành từ nguồn phù
sa bồi lắng của toàn bộ hệ thống sông Hồng. Lớp phù sa được dòng chảy vận
chuyển và bồi lắng hình thành lớp thổ nhưỡng cửa sông, ven biển. Lớp thổ nhưỡng
ven châu thổ có những loại hình :
- Đất nhẹ: cát pha và thịt nhẹ, phần nhỏ là cát thuần loại
- Đất trung bình: thịt trung bình
- Đất nặng: từ thịt đến sét (sét cố kết)

8
b, Lớp phủ thổ nhưỡng bãi triều VQG Xuân Thuỷ có những nhóm, loại đất sau:
* Đất cát biển: (đất cát và cồn cát biển):
- Đất cát biển và cồn cát được hình thành bởi quá trình trầm tích cửa sông
ven biển do quy luật lắng đọng. Đất cát ven biển VQG Xuân Thuỷ được hình thành
lâu ngày gọi là đất cát biển, cồn cát biển là nơi mới và đang được hình thành. Đất
cát biển phân bố ở Cồn Ngạn, Cồn Lu (trừ phần đuôi Cồn Lu). Cồn cát biển phân bố
toàn bộ ở Cồn Xanh và đuôi Cồn Lu. Sự sai khác giữa đất cát biển và cồn cát biển là
đất cát biển đã có hình thành giới thực vật còn cồn cát biển chưa hình thành giới
thực vật, vẫn còn ảnh hưởng trực tiếp của động lực thuỷ triều.
- Đặc điểm chính của đất cát ven biển là: Toàn bộ phẫu diện là cát, đất rời
rạc, đôi chỗ xen lớp cát pha, đất có phản ứng trung tính (pH=7,0-7,5). Độ chua tiềm
tàng rất thấp, hàm lượng mùn <0,8%, N tổng số trung bình khoảng 0,04 - 0,05%, P
tổng số < 0.04%. Những diện tích đất cát ven biển thoát triều nhưng vẫn còn ảnh
hưởng của triều cường, bị nhiễm mặn ở mức độ ít. Những diện tích còn ngập triều
có độ nhiễm mặn cao (mặn nhiều). Do ảnh hưởng của ngập triều đã phân dị đất cát
ven biển thành 2 loại: Đất cát mặn ít (Cmi) và đất cồn cát mặn nhiều (Cmn).
* Đất mặn nhiều – Mn:
- Đất mặn bãi triều VQG Xuân Thuỷ là loại đất mặn clorua. Đất mặn chịu
ảnh hưởng trực tiếp của mặn thủy triều được hình thành do quá trình lắng đọng phù
sa cửa sông Hồng trong môi trường mặn nước biển. Đất mặn bãi triều thuộc loại đất

đến nơi giao nhau của đê Vành Lược với sông Vọp (phía Nam); theo sông Vọp chạy
bao lấy Cồn Lu và Cồn Xanh (ranh giới này chạy ra biển) đến cửa Ba Lạt theo Sông
Hồng (ranh giới giữa tỉnh Thái Bình và Nam Định) đến Sông Vọp.
Ranh giới ngoài biển có thể được nhận biết bằng phao, cứ năm năm lại phúc
tra lại một lần để mở rộng VQG theo đúng công ước Ramsar. Nếu như ngoài biển
có cồn mới nổi lên sẽ được tính vào ranh giới của VQG .
Ranh giới VQG Xuân Thuỷ theo quy hoạch trên có các đặc trưng sau:
Có diện tích đủ lớn, bao trùm hầu hết diện tích RNM quan trọng trong khu
vực và bảo tồn được toàn bộ diện tích các kiểu sinh cảnh vùng ĐNN VQG Xuân
Thuỷ.

10
Ranh giới VQG bao gồm toàn bộ các HST, nơi sống của các loài động thực
vật. Đặc biệt đối với các loài chim di cư đang bị đe doạ cấp quốc gia và toàn cầu.
Trong ranh giới VQG không có dân sống định cư.
b, Cơ sở phân khu chức năng
Theo “Dự án đầu tư VQG Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định” do Trung tâm Tài
nguyên và Môi trường Lâm nghiệp thuộc Viện Điều tra Quy hoạch Rừng thực hiện
thì luận chứng phân khu chức năng VQG bao gồm:
Luận chứng khoa học và thực tiễn phân chia các phân khu chức năng:
- Căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ của VQG Xuân Thuỷ. Căn cứ vào phân bố
của các loài động thực vật quý hiếm.
- Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, vào tài nguyên rừng và giá trị ĐDSH còn
bảo vệ được.
- Cân nhắc với hiện trạng quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng
đồng dân cư ở các xã vùng đệm, tập quán sinh sống, canh tác và những tác động
vào tài nguyên thiên nhiên của nhân dân quanh vùng [23].
1.2.2.2. Kết quả quy hoạch
a, Phân khu chức năng vùng lõi VQG Xuân Thủy
Tham khảo “Dự án đầu tư VQG Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định” do Trung tâm

+ Phân khu phục hồi sinh thái cồn Ngạn (khu phục hồi sinh thái đầm tôm):
300ha.
+ Phân khu phục hồi sinh thái cồn Lu (khu phục hồi sinh thái vây vạng):
1400ha.
- Phương thức quản lý các hoạt động tại khu vực:
+ Bảo vệ nghiêm ngặt toàn bộ tài nguyên sinh học, các kiểu sinh cảnh của
các loài động thực vật.
+ Phục hồi lại các diện tích rừng đã bị suy thoái vì tác động của con người
bằng biện pháp khoanh nuôi tái sinh, phục hồi sinh cảnh, trồng rừng.
+ Thực nghiệm, nghiên cứu về động, thực vật, địa chất thuỷ văn…
+ Tổ chức tham quan, du lịch sinh thái.

12
* Phân khu hành chính dịch vụ
Phân khu hành chính dịch vụ và du lịch đảm bảo đủ chức năng của trụ sở ban
quản lý VQG, là trung tâm chỉ đạo các hoạt động bảo tồn, nghiên cứu khoa học, tổ
chức dịch vụ du lịch, các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội và tuyên truyền
giáo dục trong khu vực.
b, Phân khu chức năng vùng đệm VQG Xuân Thủy
Vùng đệm là vành đai bảo vệ VQG đồng thời là vùng gây ra áp lực về kinh
tế, xã hội lên VQG. Vì vậy, cần có những giải pháp kinh tế xã hội, thực hiện các
quy định của nhà nước về vùng đệm, bao gồm:
- Tổ chức tuyên truyền giáo dục môi trường: đầu tư xây dựng nhà văn hóa,
cung cấp các tài liệu về môi trường.
- Hỗ trợ tài chính và kỹ thuật phát triển các ngành nghề địa phương: thí điểm
mô hình kinh tế trang trại ( trồng cỏ nuôi bò, chăn nuôi lợn, nuôi tôm sinh thái…).
- Xây dựng thể chế, chính sách quản lý.
Vùng đệm được phân thành các tiểu phân khu chức năng: vùng phát triển các
hoạt động sinh kế bền vững; Vùng bảo vệ RNM; Vùng nuôi trồng nhuyễn thể. Cụ thể:
- Vùng phát triển các hoạt động sinh kế bền vững: Thuộc diện tích ở trong đê

thu hút một lượng lớn lao động tập trung tại khu vực các bãi bồi.
Khu vực thực hiện hoạt động sinh kế: các lạch sông và các bãi bồi ngoài đê.
- Hiện trạng đánh bắt thủy sản
Phương tiện đánh bắt mà người dân sử dụng chủ yếu là các công cụ thô sơ
như các bẫy tự làm bằng tay chiếm tới 65%; gần 3% số hộ sử dụng thuyền thô sơ để
đánh bắt gần bờ và ở các bãi; và gần 25% có các phương tiện hiện đại như thuyền
máy và chủ yếu để khai thác ở ngoài biển quy mô lớn. Những hộ sử dụng bằng công
cụ thô sơ để đánh bắt thủy sản tập trung ở các xã như: Giao Thiện (74,29%), Giao
An (88,24%), Giao Xuân (86,36%), và Giao Lạc (62,50%), còn số hộ sử dụng
thuyền máy tập chung chủ yếu ở xã Giao Hải (51,52%) [5].

14
Bảng 1: Loại hình khai thác thủy sản của người dân (số liệu tháng 12/2008)
Địa phương
Loại hình
khai thác(%)
Giao
Thiện
Giao
An
Giao
Xuân
Giao
Hải
Giao
Lạc
Trung
bình
Khai thác thủ công tự do ngoài
bãi

mặn tự nhiên (cồn Lu), khu vực bãi bồi Cồn Lu và vùng biển (đều chiếm trên 20%).
Và tùy vào vị trí địa lý của các xã mà khu vực khai thác cho các hộ dân của các xã
khác nhau. Bảng trên chỉ ra rằng địa điểm khai thác của người dân xã Giao thiện và
Giao Hải là đa dạng nhất. Trong khi đó người dân các xã khác chỉ khai thác được ở
một số nơi. Ví dụ, xã Giao Lạc người dân ở đây chỉ có thể khai thác ở các bãi trong
Cồn Ngạn và bãi bồi Cồn Lu; xã Giao Xuân phát huy thế mạnh ở khu phía nam
VQG (bãi bồi cồn Lu) còn xã Giao An lại tập trung vào khu vực phía bắc (cồn Ngạn
và RNM cồn Lu).
+ Mặt khác do khu dân cư cách xa khu vực khai thác trung bình khoảng 10
km, một số xã cách xa 12-16 km, phương tiện mà người dân sử dụng để đi tới nơi
đánh bắt rất đa dạng. Trong đó có 40% đi xe đạp tới nơi đánh bắt, chủ yếu là những
đối tượng khai thác thủ công; khoảng 40% khác sử dụng thuyền của nhà, 23,90% đi
đò, 22,64% đi bộ tới nơi đánh bắt, rất ít (3,14%) người sử dụng xe máy [5].

15
Bảng 2: Địa điểm khai thác thủy sản của người dân (số liệu điều tra 12/2008)
Địa phƣơng

Địa điểm
khai thác (%)
Giao
Thiện
Giao An
Giao
Xuân
Giao
Hải
Giao
Lạc
Chung

RNM tự nhiên Cồn Lu
21,62
10,53
34,88
17,95
0
21,08
Bãi bồi Cồn Lu
16,22
0
46,51
25,64
75
28,11
Rừng phi lao
0
0
2,33
0
0
0,54
Sông rạch trong RNM
16,22
0
9,3
0
0
5,41
Biển
2,7

Giao
Xuân
Giao Hải
Giao
Lạc
Trung
Bình
Tôm thả
0
5,88
0
0
0
0,63
Tôm tự nhiên
22,86
29,41
0
12,28
50
15,00
Ngao giống
8,57
0
2,33
14,04
0
7,5
Ngao thịt
5,71

42,11
37,50
30,82
(Nguồn: Nguyễn Viết Cách và nnk (2009), Báo cáo kinh tế xã hội)
Các loại thuỷ sản được người dân đánh bắt rất đa dạng tùy theo từng xã,
nhiều nhất là ngao thịt chiếm 67,44 %, tiếp đến là các và một số loài nhuyễn thể
khác (đều hơn 40%).
Theo đánh giá của những người thường xuyên khai thác thuỷ sản qua phỏng
vấn, so với 5 năm trước sản lượng khai thác tự nhiên đã giảm đi từ 50% đến 70%.
Điều này chứng tỏ số lượng thuỷ sinh đang giảm mạnh và nguyên nhân của xu
hướng giảm sút này là do việc người dân khai thác quá mức.
Mặc dù sản lượng khai thác thay đổi, các yếu tố khác liên quan tới đánh bắt
không thay đổi so với 5 năm trước. Căn cứ vào số liệu điều tra, có từ 80% tới hơn
90% hộ khai thác thủy sản vẫn giữ nguyên số thành viên tham gia, địa điểm và thời
gian đánh bắt, số giờ đánh bắt/ngày, và các công cụ để đánh bắt. Thực tế này đã cho
thấy người dân sống dựa vào nguồn lợi thủy sản tự nhiên trong khu vực.
VQG Xuân Thủy sẽ phải chịu áp lực gấp đôi trong việc khai thác và kiếm
thêm thu nhập cho gia đình. Mặt khác, bản thân các loại thủy sinh vật của vùng
ĐNN và biển VQG Xuân Thủy cũng phải đối đầu với nguy cơ bị khác thác quá mức
và dễ dẫn đến cạn kiệt [5].

17
* Khai thác thủy sản đi biển
Đặc điểm: chủ yếu đánh bắt thuỷ sản ven bờ, vẫn còn hiện tượng sử dụng
phương pháp huỷ diệt (xung điện, hoá học ). Một số hộ có thuyền lớn đánh bắt xa
bờ, mỗi chuyến đánh bắt kéo dài khoảng 3 ngày.
Khu vực: chủ yếu là các tàu thuyền thuộc xã Giao Hải.
c, Nuôi trồng thủy sản
Các khoản đầu tư cho nuôi trồng các loại thuỷ sản rất lớn, nhất là việc cải tạo
nuôi tôm trong các đầm, và nuôi vạng trong các vây. Trung bình các hộ đầu tư

trong cồn Ngạn, một phần cồn Lu thuộc địa bàn hành chính của 2 xã Giao An, Giao
Thiện.
* Nuôi Vạng
- Đặc điểm: có nhiều hộ thu khá từ việc nuôi trồng và khai thác ngao vạng,
nhưng không ổn định. Hiện nay, nhiều diện tích trên thực tế đã trở nên không phù
hợp cho nuôi ngao nhưng con người cố tình thay đổi địa hình để canh tác. Tỷ lệ
sống giảm, sản lượng và kích cỡ nhỏ hơn, chất lượng và hình thức của sản phẩm
ngao kém đi.
- Chỉ một số ít hộ có khả năng để nuôi vì việc nuôi vạng cần nguồn vốn lớn,
đặc biệt là con giống đắt.
- Khu vực thực hiện hoạt động sinh kế: tập trung chủ yếu tại khu vực các bãi
bồi thuộc 2 xã Giao Lạc, Giao Xuân và một phần bãi bãi bồi thuộc xã Giao Hải.
* Nuôi trồng thuỷ sản khác
- Đặc điểm: đa dạng loài như hà, rau câu chỉ vàng vv hiệu quả kinh tế thấp,
không ổn định. Hiện nay, tại một số đầm tôm bỏ trống, người dân dùng để thu rau
câu thủ công.
- Tập trung chủ yếu tại khu vực Bãi Trong Cồn Ngạn thuộc các xã Giao Lạc,
Giao An và Giao Thiện.
Bên cạnh các ngành nghề tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi vốn có còn
có các nhóm nghề khác: nuôi giun quế, trồng nấm, khai thác mật ong và phấn hoa.

19
1.2.3.2. Đặc điểm xã hội, văn hóa và du lịch của VQG Xuân Thủy
Dân số toàn vùng 48160 người, tổng số hộ gia đình 12080 hộ, trong khi tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên 1,7%, số hộ nghèo 1214 hộ nếu so với các vùng khác trong khu
vực đồng bằng Sông hồng thì đây là vùng có tỷ lệ nghèo khá cao [5].
Mỗi xã đã có 1 trạm y tế, tuy nhiên tỷ lệ bác sỹ trên đầu người còn rất thấp,
do vậy khả năng chăm sóc sức khỏe tại chỗ còn hạn chế. Vệ sinh môi trường là vấn
đề chưa thực sự được chú ý ở đây. Hiện nay, Giao Thiện là xã duy nhất trong huyện
có bãi chôn lấp rác tập trung.

là một kiểu hệ sinh thái sản xuất cung cấp thức ăn thông qua chuỗi thức ăn tự nhiên
mà khởi đầu là các cây ngập mặn. Chúng là kiểu rừng nhiệt đới sớm nhất bởi đặc
điểm sinh học sinh sản và tính thích ứng sinh thái với điều kiện sống vùng triều
giữa, là nơi cư trú, sinh sản của cả một quần xã sinh vật rừng ngập mặn rất phong
phú, có tầm quan trọng lớn về nguồn lợi biển ven bờ và bảo vệ vùng ven biển.
b) Bãi triều lầy không có rừng ngập mặn
Các dạng bãi triều thẳng, bằng phẳng, ngập nước thường xuyên vào những
ngày nước kém, chỉ được phơi cạn vào kỳ nước cường. Đặc điểm quan trọng của
sinh cảnh này là không có rừng ngập mặn che phủ, chỉ có thực vật nhỏ phân tán
hoặc không có. Nền đáy có thể là cát bột, bùn cát, bùn sét tùy theo điều kiện động
lực mạnh hoặc yếu của quá trình tương tác sông và biển. Do không có thực vật che
phủ, trao đổi nước tốt, nên là môi trường phát triển hải sản tốt. Thường thấy ở các
vùng cửa sông châu thổ.
1.3.1.2. Các cồn cát ở vùng triều cửa sông
Được hình thành phổ biến ở vùng cửa sông Hồng, từ các nguồn cát các sông
đưa ra được các dòng chảy ven bờ và sóng di chuyển về hai phía cửa sông, thường
thấy ở các vùng cửa sông châu thổ, tạo nên các cồn cát chạy song song với bờ, chắn
ở phía ngoài cửa sông. Có thể xem đây là một kiểu bãi bồi ở vùng cửa sông, được
hình thành trong quá trình động lực sông-biển. Phía trong các cồn cát thường là các
hệ lạch triều ngang hoặc các bãi triều lầy có thực vật ngập mặn. Nền đáy các cồn cát
thường là bùn cát hoặc cát bùn, nhưng nhìn chung hàm lượng hữu cơ thấp, thành
phần sinh vật kém phong phú.

Trích đoạn Môi trường đất Môi trường nước Kiểm soát chất lượng môi trường đất, môi trường nước Sử dụng hợp lý tài nguyên đất ngập nước ở VQG Xuân Thủy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status