Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
HVCH Mai Thế Nam K19 KHMT
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Tên của từ viết tắt
AA
Nhôm hoạt tính (Activated Alumina)
AAS
Quang phổ hấp thụ nguyên tử (Atomic Absorption
Spectrophotometric)
As
Asen
ATP
Phân tử có cấu tạo gồm các thành phần là bazơ nitơ anđênin,
đường ribôzơ và 3 nhóm phôtphat (Adenosine Triphotphat)
Fe-Z
Vật liệu zeolit biến tính bởi sắt
JCPDS
Phổ nhiễu xạ chuẩn (Joint Committee of Powder Diffraction
Standard)
SEM
Kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microsope)
QCVN
Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam
UNICEF
Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (United Nations Children's Fund)
1.1.1.
Hiện trạng ô nhiễm asen trong nước ngầm trên Thế giới và tại
Việt Nam 3
1.1.2.
Ảnh hưởng của asen trong nước ngầm 7
1.2.
Các biện pháp xử lý asen trong nước ngầm 12
1.2.1.
Phương pháp ôxi hoá 14
1.2.2.
Keo tụ - kết tủa 15
1.2.3.
Hấp phụ 15
1.2.4.
Trao đổi ion 17
1.3.
Dụng cụ, thiết bị và hóa chất sử dụng 29
2.2.3
Phương pháp tổng hợp, chế tạo vật liệu zeolit từ tro bay 30
2.2.4
Khảo sát khả năng hấp phụ asen của vật liệu Fe-Z 32
Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
HVCH Mai Thế Nam K19 KHMT
2.2.5
Phương pháp phân tích 35
2.2.6
Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 35
2.2.7
Phương pháp lấy mẫu và bảo bảo mẫu nước ngầm 35
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.3.
Thử nghiệm khả năng xử lý As trong nước ngầm của vật liệu điều
chế 50
3.4.
Đề xuất mô hình thiết bị lọc sử dụng vật liệu Fe-Z quy mô hộ gia
đình 54
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 56
KếT LUậN 56
PHỤ LỤC 62Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
HVCH Mai Thế Nam K19 KHMT
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. So sánh một số công nghệ xử lý asen 11
Bảng 2. Thành phần khối lượng tro bay khô của nhà máy nhiệt điện Phả Lại
29
Bảng 3. Các loại zeolit điều chế từ tro bay [31] 39
Hình 5. Bản đồ ô nhiễm As tại khu vực Đồng bằng sông Hồng 7
Hình 6. Mô hình diễn giải khả năng ô nhiễm As trong nước ngầm ở đồng
bằng 9
Hình 7. Sự tồn tại của As trong môi trường phụ thuộc vào Eh và pH 10
Hình 8. Một số bệnh do nhiễm As 12
Hình 9. Mô tả cấu trúc tứ diện của SiO
4
và AlO
4
, định hướng cấu trúc khung
của zeolite (theo Elliot, 2006) 21
Hình 10. Mô tả quá trình tổng hợp thuỷ nhiệt zeolit 25
Hình 11. Sơ đồ chế tạo vật liệu Z từ Tro bay 30
Hình 12. Sơ đồ quy trình chế tạo vật liệu Fe-Z 31
Hình 13. Giản đồ XRD của mẫu tro bay ban đầu 36
Hình 14. Giản đồ XRD của vật liệu Z 37
Hình 15. Miêu tả hoạt hóa của kiềm đối với tro bay[14,21,26] 38
Hình 16. Giản đồ XRD của vật liệu Fe-Z 40
HVCH Mai Thế Nam 1 K19 KHMTMỞ ĐẦU
Nước là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của con người. Với sự bùng nổ dân số thế giới, cung cấp nước sạch phục
vụ nhu cầu ăn uống và sinh hoạt của con người đang là một vấn đề lớn mà xã hội
quan tâm. Trong khi nguồn nước tại các sông, suối, ao, hồ đang ngày càng bị ô
nhiễm nặng bởi nước thải sinh hoạt, nước thải từ các nhà máy công nghiệp thì việc
sử dụng nguồn nước ngầm như là một giải pháp hữu hiệu. Tuy nhiên trong quá trình
khai thác nước ngầm, sự tồn tại của asen trong nước có khả năng gây ra những căn
bệnh vô cùng nguy hiểm đe doạ sức khoẻ và tính mạng của con người. Chính vì
vậy, nghiên cứu nhằm loại bỏ asen (As) ra khỏi nước ngầm đang là một vấn đề cấp
bách và cần được quan tâm nghiên cứu.
Để giải quyết vấn đề cấp bách về ô nhiễm As trong nguồn nước và bảo vệ
sức khỏe của người dân, các nhà khoa học trên thế giới nói chung và ở Việt Nam
nói riêng đã tiến hành rất nhiều nghiên cứu về phương pháp loại bỏ As. Trong đó có
nhiều công trình đã thành công trong việc sử dụng các vật liệu mới như đá ong biến
tính, nano cacbon, để xử lý As. Các phương pháp xử lý As đều có những ưu,
nhược điểm và hiệu quả xử lý khác nhau, tùy vào điều kiện để lựa chọn phương
pháp và công nghệ phù hợp nhất. Trong đó, phương pháp hấp phụ đang được sử
dụng rộng rãi vì tính kinh tế và hiệu quả của nó. Tuy nhiên, các vật liệu loại As
thương mại đang được bán trên thị trường hiện nay có giá thành khá cao. Và với
điều kiện kinh tế hiện tại của đất nước, đại đa số người dân không đủ khả năng chi
trả cho nhu cầu sử dụng các vật liệu này. Nhằm góp phần giải quyết vấn đề trên,
việc tận dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có, rẻ tiền, các nguồn phế thải (rơm rạ, tro
bay, bùn thải,…) để tổng hợp các loại vật liệu hấp phụ có khả năng xử lý As tốt
hơn, dễ chế tạo và quan trọng nhất là giá thành rẻ, phù hợp với cả những người dân
có thu nhập thấp đang được quan tâm đến.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về asen
1.1.1. Hiện trạng ô nhiễm asen trong nước ngầm trên Thế giới và tại Việt Nam
a) Trên Thế giới
Ô nhiễm As trong nước ngầm đã được phát hiện từ những năm đầu của thập
niên 80 của thế kỷ 20 khi hàm lượng As trong nước khai thác >50 µg/L. Hiện nay,
trên thế giới có hàng chục triệu người đã bị bệnh đen và rụng móng chân, sừng hoá
da, ung thư da… do sử dụng nguồn nước sinh hoạt có nồng độ As cao. Nhiều nước
và vùng lãnh thổ đã phát hiện hàm lượng As rất cao trong nguồn nước sinh hoạt như
Canada, Chile, Ác-hen-ti-na, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Bănglađét Sự có
mặt của As ở các vùng khác nhau trên thế giới được thể hiện trên bản đồ phân bố
Hình 1.
Hình 1. Bản đồ phân bố khu vực ô nhiễm asen trên thế giới
Khu vực nhiễm As nghiêm trọng nhất là vùng đồng bằng châu thổ sông
Ganges nằm giữa Tây Bengal của Ấn Độ và Bănglađét [16]. Ở Tây Bengal, trên 40
triệu người có nguy cơ nhiễm độc As do sống trong các khu vực có nồng độ As cao.
Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
HVCH Mai Thế Nam 4 K19 KHMTTới nay đã có 0,2 triệu người bị nhiễm và nồng độ As tối đa trong nước cao gấp 370
lần nồng độ cho phép của WHO.
Băngladesh là nơi nhiễm As nghiêm trọng nhất được phát hiện, có đến 95%
dân số sử dụng nước ngầm làm nguồn nước chính để ăn uống và sinh hoạt. Phần lớn
các giếng nước ngầm tại Bangladesh được xây dựng từ giữa những năm 1980,
nhưng đến mãi những năm 1990 vấn đề ô nhiễm As trên diện rộng mới được phát
hiện. Thử nghiệm trên 8000 giếng khoan ở 60/64 tỉnh trong cả nước thấy có 51% số
Ở khu vực Đồng bằng sông Hồng, tại các tỉnh Hưng Yên, Hà Tây, Hà Nam,
Nam Định, và Hải Dương, đều bị ô nhiễm nặng As trong nước giếng khảo sát. Theo
thống kê của Unicef và WHO cho thấy, ở Việt Nam hiện nay cứ 5 người thì có một
người có nguy cơ nhiễm As trong nước. Rất nhiều nơi nhiễm As ở mức độ cao đã
được phát hiện và nơi nhiễm nặng nhất là tỉnh Hà Nam. Trong khoảng gần 1 triệu
dân Hà Nam thì có khoảng 300 ngàn người bị phơi nhiễm As.
Ô nhiễm hầu hết là các giếng nhỏ của gia đình, riêng đồng bằng Bắc Bộ có
khoảng 5 triệu chiếc giếng như vậy. Đánh giá của UNICEF còn cho thấy, khu vực
phía nam Hà Nội (cũ) ô nhiễm As nặng nhất, thậm chí đứng đầu danh sách các địa
chỉ ô nhiễm asen trên toàn quốc, đặc biệt tại một số khu vực thuộc phường Quỳnh
Lôi (quận Hai Bà Trưng), khu vực Thanh Trì. Khu vực Hà Nội mở rộng hiện nay
bao gồm cả Hà Nội cũ và Hà Tây cũ đều nằm trong danh sách có nguồn nước bị
nhiễm asen cao như xã Đông Lỗ (Ứng Hòa), Liên Phương, Khánh Hà (Thường
Tín), Thọ Xuân (Đan Phượng), Phương Trung (Thanh Oai)… Bản đồ phân bố ô
nhiễm As trong nước ngầm tại khu vực đồng bằng sông Hồng được thể hiện trên
Hình 5.
Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
HVCH Mai Thế Nam 7 K19 KHMT
Hình 5. Bản đồ ô nhiễm asen tại khu vực Đồng bằng sông HồngTrong hơn 2 năm (2003 - 2005), Chính phủ Việt Nam và UNICEF đã khảo
sát về nồng độ As trong nước của 71.000 giếng khoan thuộc 15 tỉnh đồng bằng
miền Bắc, Trung, Nam. Kết quả phân tích cho thấy, nguồn nước giếng khoan của
các tỉnh vùng lưu vực sông Hồng: Hà Nam, Nam Định, Hà Tây, Hưng Yên, Hải
Quá trình oxy hoá hoà tan As xảy ra trong môi trường oxy hoá và As tồn tại
trong nước ở trạng thái hoá trị 5. Cơ chế này phù hợp với các tầng chứa nước chịu
ảnh hưởng của khai thác và chế biến quặng. As được giải phóng do sự oxy hoá
arsenopyrit trong sét hoặc các lớp than bùn xen giữa chúng, hoặc do nước giàu As
do các các đứt gãy cắt qua các vùng đá mắc ma giàu As ở các vùng núi xa thấm vào
tầng chứa nước dưới đất ở đồng bằng. Khả năng ô nhiễm As trong nước ngầm ở
vùng đồng bằng được thể hiện trên Hình 6 [4].
Cơ chế 2: Anion asenat AsO
4
3-
hấp phụ trên khoáng vật ngập nước được giải
phóng ra nước bởi sự trao đổi cạnh tranh của các anion photphat có mặt khi sử dụng
phân bón hóa học.
Cơ chế 3: Dưới điều kiện yếm khí đã xảy ra quá trình khử của hydroxit sắt
(FeOOH) (Hfo) và sự giải phóng As đã hấp phụ ra khỏi nguồn nước. Đại diện của
Hfo là goethite và tác nhân khử là các vật chất hữu cơ tự nhiên (NOM viết chung là
CH
2
O) có trong bồi tích phù sa [28]:
4FeOOH(As) + CH
2
O + 7H
+
Fe
2+
+ HCO
3
-
+ 6H
hóa thạch, thải các rác thải công nghiệp, hóa chất, dùng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc
trừ sâu chứa As, thuốc diệt cỏ, phụ gia làm khô lương thực và dùng làm phụ gia cho
thức ăn gia súc, đặc biệt cho gia cầm… Các nguồn thải này có chứa As chưa được
xử lý, thải ra môi trường làm ô nhiễm nguồn nước mặt, thấm qua đất sau đó xâm
nhập vào nguồn nước ngầm.
Các dạng tồn tại của As trong nước ngầm [13,15,23]
Trong nước ngầm, As thường tồn tại chủ yếu ở 2 dạng hợp chất vô cơ là
asenat [As(V)], asenit [As(III)] tùy thuộc vào điều kiện ôxi hóa – khử của môi
Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
HVCH Mai Thế Nam 10 K19 KHMTtrường. Nước ngầm có môi trường yếm khí ( môi trường khử) nên As tồn tại yếu ở
dạng asenit và ngược lại nước bề mặt có môi trường giàu không khí (môi trường
oxy hóa) asen tồn tại chủ yếu ở dạng arsenat. Cả asenat và asenit tồn tại bốn dạng
phân tử khác nhau phụ thuộc và pH và thế oxy hóa khử (Eh) của môi trường.
Hình 7. Sự tồn tại của As trong môi trường phụ thuộc vào Eh và pH
Trong điều kiện oxy hóa, chủ yếu H
2
AsO
4
-
chiếm ưu thế ở pH thấp (pH<6,9),
trong khi ở pH cao hơn, HAsO
4
2-
chiếm ưu thế, H
và bàng quang [Wu và cs., 1998, WHO, 2001]. Ngoài ra, As còn ảnh hưởng đến
thực vật như một chất cản trở trao đổi chất, làm giảm mạnh năng suất, đặc biệt
trong môi trường thiếu photpho. Độc tính của các hợp chất As đối với sinh vật dưới
nước giảm dần theo dãy Asin (As
2
H
3
) > asenit > asenat > hợp chất As hữu cơ [20].
As xâm nhập vào cơ thể bằng tất cả các con đường như hít thở, ăn uống và
thẩm thấu qua da [10]. Tuy nhiên, chủ yếu là do ăn uống, trong đó con đường phổ
biến nhất là thông qua sử dụng nước. Liều lượng gây chết của As (LD
50
) đối với
con người là 1–4 mg/kg trọng lượng [10].
As (III) thể hiện tính độc bằng việc tấn công vào các nhóm -SH của các
enzym, làm cản trở hoạt động thậm chí phá huỷ enzym [4]. Có thể minh hoạ quá
trình đó theo phương trình sau:
Theo phương trình trên, khi hàm lượng As (III) cao sẽ làm đông tụ các
Protein dẫn đến ngưng tụ hoạt động hoặc phá huỷ tế bào sống.
Asenat dễ kết tủa với các kim loại và ít độc tính hơn so với dạng asenit. Khi
vào cơ thể, asenat thế chỗ của photphat (ATP), do đó ATP sẽ không được tạo thành.
Một số bệnh do nhiễm độc As do sử dụng nguồn nước nhiễm As được thể hiện trên
Hình 8.
Do mức độ độc hại của As, năm 1993, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đề
nghị hạ mức tiêu chuẩn của As trong nước uống từ 50µg/L xuống 10µg/L. Bộ Y tế
Việt Nam cũng đã đưa ra QCVN 01:2009/BYT “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
chất lượng nước ăn uống” nồng độ cho phép của As trong nước uống là 10µg/L.
Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Hình 8. Một số bệnh do nhiễm asen
Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
HVCH Mai Thế Nam 13 K19 KHMThoá học tương đối đơn giản và tốc độ phản ứng
nhanh
các quá trình oxi hoá
Keo tụ kết hợp với lắng
Keo tụ
bằng nhôm
Hoá chất dễ mua, chi phí tương đối
thấp và đơn giản trong vận hành, hiệu
quả ở khoảng pH rộng
Phát sinh bùn độc hại, hiệu
quả loại bỏ As thấp, cần quá
trình tiền oxi hoá
Keo tụ
bằng sắt
Hoá chất dễ mua, hiệu quả hơn so với
nhôm
Hiệu quả loại bỏ As (III)
không cao, cần thêm quá
trình lắng và lọc
Mềm hoá
bằng vôi
Hoá chất sẵn có Cần điều chỉnh pH
Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
HVCH Mai Thế Nam 14 K19 KHMT1.2.1. Phương pháp ôxi hoá
Oxi hóa bằng oxi không khí
Quá trình oxi hóa As(III) xảy ra chậm, thời gian oxi hóa kéo dài hàng tuần.
Quá trình oxi hóa này có thể được xúc tác bằng vi khuẩn, axit mạnh hoặc dung dịch
kiềm, đồng, bột cacbon hoạt tính và nhiệt độ cao.
Oxi hóa bằng các chất oxi hóa mạnh
Các chất oxi hóa được sử dụng là Cl
2
, pemanganat, H
2
O
2
, O
3
, hypoclorit, và
tác nhân Fenton (H
2
O
2
/Fe
2+
):
+ Clo và hypoclorit: là những chất oxi hóa mạnh và có hiệu quả nhưng nó lại
áp dụng cho các hộ sử dụng nước với quy mô nhỏ.
Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
HVCH Mai Thế Nam 15 K19 KHMT Oxi quang hóa
Chiếu tia cực tím vào nước và sau đó lắng, chất oxi hóa đưa vào có thể là oxi
tinh khiết hay sục khí. Chất hấp phụ quang hóa có thể là Fe(II), Fe(III), Ca(II), có
thể sử dụng ánh sáng mặt trời làm nguồn tia cực tím, phản ứng có thể xảy ra ở nhiệt
độ phòng và ánh sáng thấp, không đòi hỏi các thiết bị phức tạp. Do As(III) bị oxi
hóa thành As(V) với tốc độ rất chậm nên có thể sử dụng các chất oxi hóa mạnh như
Cl
2
, H
2
O
2
, O
3
. Phần lớn chi phí chính để xử lý của phương pháp này là các chi phí
dành cho các chất oxi hóa trên.
1.2.2. Keo tụ - kết tủa
Phương pháp keo tụ đơn giản nhất là sử dụng vôi sống (CaO) hoặc vôi tôi
(Ca(OH)
2
) để khử As. Hiệu suất đạt 40-70%, với nồng độ As ban đầu là 50µg/L sử
dụng vôi tôi để khử As đạt hiệu quả cao nhất ở điều kiện pH=10,5. Tuy nhiên,
phương pháp này không thể xử lý được As với nồng độ đạt tiêu chuẩn và sau xử lý
thường để lại cặn. Ngoài ra còn có thể sử dụng phương pháp keo tụ, kết tủa bằng
Hấp phụ bằng oxit nhôm hoạt hóa:
Vật liệu hấp phụ này có khả năng tách được 2 dạng As là As(III) và As(V).
Nó có đặc tính hóa học, diện tích bề mặt và độ rỗng tương đối lớn, có khả năng hấp
phụ cao hơn gấp 10 lần so với các vật liệu thông thường khác khi có các ion cạnh
tranh.
Hấp phụ bằng vật liệu Laterit:
Laterit là loại đất axit có màu đỏ, rất phổ biến ở các vùng nhiệt đới. Thành
phần chủ yếu của các Laterit là các hiđrôxit sắt và nhôm, hoặc hiđrôxit ngậm nước
của chúng, và một lượng nhỏ các hợp chất của mangan, titan. Ở điều kiện tự nhiên,
loại đất sét này có điện tích bề mặt dương, có khả năng hấp phụ các chất bẩn mang
điện tích âm như asenic. Có thể đưa laterit trực tiếp vào nước cần xử lý như một
chất hấp phụ, sau đó lắng hoặc có thể sử dụng như vật liệu hấp phụ trong bể lọc.
Hấp phụ lên vật liệu có thành phần là sắt:
Mạt sắt (sắt kim loại), sắt hiđrôxit, các vật liệu phủ sắt, oxit sắt là những vật
liệu được sử dụng cho quá trình hấp phụ As từ nước ngầm. Quá trình loại bỏ As
bằng cách hấp phụ lên mạt sắt kim loại đã được nghiên cứu ở trong phòng thí
nghiệm và đã được áp dụng ngoài hiện trường. Hiệu quả loại bỏ As vô cơ ra ngoài
dung dịch của sắt đạt đến 95%. As được hấp phụ trên bề mặt của sắt ở trạng thái oxi
hóa V. Phổ nhiễu xạ tia X cũng cho thấy trên bề mặt của mạt sắt có sự hiện diện của
cả sắt kim loại, Fe
3
O
4
, Fe
2
O
3
, và hiđrôxit sắt.
Sử dụng mạt sắt kết hợp với cát:
Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
2
cho kết quả xử lý rất tốt, dung lượng hấp phụ cực đại
của hai vật liệu chế tạo được là 370,4 µg/g và 1000 µg/g [13].
Hấp phụ trên vật liệu tổng hợp có thành phần từ các oxit Fe
2
O
3
, MnO
2
, SiO
2
Vật liệu này có dạng cầu xốp có hiệu quả xử lý As tương đương và tốt hơn
sản phẩm của nước ngoài (GFH của công ty Seimens). Trong số các dạng tổng hợp,
sản phẩm chứa 3 thành phần là các oxit của sắt, mangan, silic cho kết quả tốt nhất.
Sản phẩm này có khả năng xử lý As (III) tốt hơn As (V).
1.2.4. Trao đổi ion
Có thể loại bỏ các ion asenat bằng phương pháp trao đổi ion với vật liệu trao
đổi gốc anion axit mạnh (Cl
-
). Loại vật liệu trao đổi này có ưu điểm là có thể sử
dụng dung dịch muối đậm đặc NaCl để hoàn nguyên hạt trao đổi ion đã bão hòa As.
Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
HVCH Mai Thế Nam 18 K19 KHMTPhương pháp này rất hiệu quả trong việc loại bỏ As, tuy nhiên nếu trong dung dịch,
các ion cạnh tranh với As (như sulfat, florua, nitrat…) có nồng độ lớn, hiệu quả của
quá trình tách loại sẽ giảm đi đáng kể. Khi đó các anionit chuyển từ gốc H
(5 – 10%), CaO, MgO, Na
2
O, K
2
O,
MnO, TiO
2
… Ngoài ra, còn một số kim loại ở dạng vết như: As, Cd, Zn, Cu, Se,
Cr,… Tro bay có độ mịn cao, kích thước hạt từ 1 – 100µm, trung bình 20µm, do đó
tro bay có diện tích bề mặt riêng khá lớn và mang tính kiềm.
Có thể biểu diễn công thức của tro bay với tỉ lệ các thành phần các nguyên tố
tương ứng là: Si
1
Al
0,45
Ca
0,51
Na
0,047
Fe
0,039
Mg
0,02
K
0,013
Ti
0,011
.
Ứng dụng
Ngày nay, khoảng 10 – 20% lượng tro bay được tái sử dụng trong các sản
y
].zH
2
O,
trong đó: M - Các cation bù trừ điện tích khung ;
z - Số phân tử H
2
O kết tinh trong zeolitơ ;
[ ] - Thành phần một ô mạng cơ sở của tinh thể ;
y/x - Tỷ số nguyên tử Si/Al gọi là modun của zeolit, tỷ số này thay đổi
theo từng loại zeolit.
Quy luật Lowenstein chỉ ra rằng, trong cấu trúc zeolit không tồn tại liên kết
Al-O-Al mà chỉ có dạng liên kết Si-O-Al và Si-O-Si. Do đó, tỷ lệ y/x ≥ 1.
b) Phân loại
- Theo nguồn gốc:
+ Zeolit tự nhiên: điển hình như analcime, chabazit, clinoptilolit, erionit,
faujasit, ferrierit, heulandit, laumontit, mordenit, phillipsit,… Loại này kém bền
vững, luôn có xu hướng chuyển sang các pha khác bền theo chu kỳ biến đổi địa chất
lâu dài;
+ Zeolit tổng hợp: khác với zeolit tự nhiên, zeolit tổng hợp đáp ứng tốt hơn
về nghiên cứu và ứng dụng công nghiệp vì nó có cấu trúc đồng đều, tinh khiết, đa
dạng về chủng loại.
- Theo kích thước mao quản:
+ Zeolit có mao quản nhỏ: kích thước lỗ xốp nhỏ hơn 5 Å;
+ Zeolit có mao quản trung bình: kích thước lỗ xốp trung bình từ 5-8 Å;
+ Zeolit có mao quản lớn: kích thước lỗ xốp lớn hơn 8 Å.