ii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN 4
1.1. Khái quát về khu vực nghiên cứu 4
1.1.1. Điều kiện tự nhiên quần đảo Cát Bà 4
1.1.1.1. Đặc điểm địa chất – địa mạo 4
1.1.1.2. Đặc điểm địa hình 8
1.1.1.3. Điều kiện khí tượng thủy văn 8
1.1.2. Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội 10
1.1.2.1. Dân số, lao động và phân bố dân cư 10
1.1.2.2. Các hoạt động kinh tế - xã hội 12
1.2. Tổng quan về kinh tế xanh, tăng trưởng xanh và nguồn vốn thiên nhiên 17
1.2.1. Kinh tế xanh 17
1.2.2. Khái niệm Tăng trưởng xanh 20
1.2.3. Khái niệm nguồn vốn thiên nhiên 22
1.3. Tình hình thực hiện kinh tế xanh, tăng trưởng xanh gắn với bảo toàn vốn thiên
nhiên 23
1.3.1. Tình hình chung trên thế giới 23
1.3.2. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới 25
1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27
1.3.4. Tình hình thực hiện ở Việt Nam 28
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 32
2.2. Cách tiếp cận trong nghiên cứu 32
3.4.1. Điểm mạnh 67
3.4.2. Điểm yếu 68
3.4.3. Cơ hội 69
3.4.4. Thách thức 70
3.5. Bảo tồn nguồn vốn thiên nhiên gắn với phát triển kinh tế xanh tại quần đảo Cát Bà75
3.5.1. Đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái 75
3.5.2. Phát triển nghề cá bền vững 76
3.5.3. Phát triển kinh tế biển xanh 77
3.5.4. Mô hình phát triển giao thông xanh 78
3.5.5. Giải pháp thực hiện 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 84
PHỤ LỤC 87 iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTEU Liên hiệp Châu Âu
GDP Tổng thu nhập quốc nội
HST
Hệ sinh thái
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural
Resources (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế)
MCD
Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng
NTTS Nuôi trồng thủy sản
Bảng 3.8. Tổng hợp nguồn vốn thiên nhiên ở Cát Bà 57
Bảng 3.9. Một số dịch vụ hệ sinh thái của nguồn vốn thiên nhiên ở Cát Bà 58
Bảng 3.10. Thống kê diện tích các loại sử dụng đất trong khu vực 59
Bảng 3.11. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại Cát Bà 60
Bảng 3.12. Các loài hải sản người dân thường khai thác 62
Bảng 3.13. Sản lượng khai thác thủy sản huyện Cát Hải 62
Bảng 3.14. Diện tích nước mặt NTTS huyện Cát Hải 65
Bảng 3.15. Sản lượng NTTS của huyện Cát Hải 65
Bảng 3.16. Tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của quần đảo
Cát Bà trong phát triển nền kinh tế xanh………………………………………… 74 vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1.Sơ đồ vị trí quần đảo Cát Bà – Hải Phòng 4
Hình 1.2. Cơ cấu lao động trong các ngành nghề của huyện Cát Hải 11
Hình 1.3. Hình ảnh đàn dê ở xã Trân Châu 13
Hình 1.4. Ba yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường trong nền kinh tế truyền thống 19
Hình 1.5. Ba yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường trong nền kinh tế xanh 19
Hình 3.1. Rừng ngập mặn ven biển xã Xuân Đám, Cát Bà 38
Hình 3.2. Hồ nước mặn Áng Vẹm, Cát Bà 40
Hình 3.3: Phân bố Voọc Đầu trắng Cát Bà 46
Hình 3.4. Khu vực xây dựng hồ chứa nước xã Trân Châu 54
Hình 3.5. Cơ cấu sử dụng đất tại Cát Bà 60 1
phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính,
cải thiện nâng cao chất lượng môi trường qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế”.
Chiến lược cũng đề ra mục tiêu chung là: “Tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế
cac-bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển
kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở
2
thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội”. Hiện nay,
các ngành và các địa phương cả nước đang triển khai thực hiện Chiến lược này và
việc đánh giá đúng thực trạng nguồn vốn thiên nhiên (natural asset/capital) là một
trong những hành động phải ưu tiên phục vụ cho tăng trưởng xanh và xây dựng,
phát triển kinh tế xanh ở nước ta trong thời gian tới.
Quần đảo Cát Bà là quần thể gồm 367 đảo đá vôi, trong đó đảo Cát Bà có diện
tích lớn nhất và là một trong ba đảo có diện tích lớn nhất, nhưng là đảo đá vôi lớn
duy nhất ở nước ta. Nơi đây chứa đựng tiềm năng bảo tồn thiên nhiên rất lớn (nguồn
vốn thiên nhiên) với nhiều giá trị quốc gia và toàn cầu. Năm 1989, Chính phủ quyết
định thành lập Vườn Quốc gia trên đảo Cát Bà, năm 2004 UNESCO công nhận là
khu dự trữ sinh quyển Thế giới, năm 2010 Chính phủ quyết định thành lập Khu bảo
tồn biển ở vùng biển đông nam đảo Cát Bà, năm 2012 Chính phủ trình UNESCO
xem xét công nhận Quần đảo Cát Bà - Long Châu là Di sản thiên nhiên thế giới
(thẩm định không được vì lý do pháp lý) và còn có các giá trị của một Công viên
Địa chất (GeoPark).
Với tiềm năng và thế mạnh như vậy, Cát Bà đã trở thành trung tâm du lịch
biển và trung tâm nghề cá nổi tiếng ở nước ta. Cơ sở hạ tầng ở đây khá phát triển
với tổ hợp nhiều khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ dưỡng, chùa chiền, di chỉ văn hóa –
khảo cổ, cảnh đẹp tự nhiên huyền ảo, khí hậu trong lành, nhiều bãi biển nhỏ đẹp và
những khu rừng nguyên sinh, bên cạnh các cảng bến tấp nập tàu thuyền và người
qua lại.
Cùng với xu hướng phát triển kinh tế xanh, tăng trưởng xanh của cả nước, việc
khai thác và phát triển quần đảo Cát Bà theo hướng tăng trưởng xanh đang là mối 1.1. Khái quát về khu v
ự
Quần đả
o Cát Bà là qu
Bắc -
Tây Nam, trong đó đ
diện tích lớn nhấ
t, nhưng là đ
nằm ở vùng Đông Bắ
c Vi
Nội khoảng 150km về
phía Đông Nam. Qu
Long, cách thành phố H
ạ
Cát Hải, huyện Cát Hả
i, thành ph
Phòng khoảng 30km về
phía Đông.
Quần đả
o Cát Bà có v
- Vỹ độ bắc:
20° 35' 57.9"
- Kinh độ đ
ông: 106° 53' 55"
- Toạ độ
trung tâm là: 20° 44' 24'' v
ần đảo Cát Bà nằm ở
phía nam v
ạ
Long khoảng 25km về
phía Đông Nam. Phía Tây giáp đ
i, thành ph
ố Hải Phòng và các
h trung tâm thành ph
phía Đông.
Phía Đông và phía Nam là biể
n Đông
o Cát Bà có v
ị trí địa lý:
20° 35' 57.9"
- 20° 52' 48"
ông: 106° 53' 55"
- 107° 12' 55"
trung tâm là: 20° 44' 24'' v
ỹ độ bắc, 107° 3' 25" kinh đ
ộ
Hình 1.1.
Sơ đồ vị trí quần đảo Cát Bà – Hải Phòng
t hành chính, qu
ần đảo này thuộc huyện đảo Cát Hải
-
ố
Hải Phòng.
nhiên qu
ần đảo Cát Bà
-
một trong hai
ph)
5
Hệ tầng Phổ Hàn gồm chủ yếu các thành tạo trầm tích carbonate chứa hoá
thạch Trùng lỗ, San hô và Tay cuộn. Các thành tạo của hệ tầng này có mặt ở Cát Bà
với 3 phụ hệ tầng, tổng bề dày 400m - 650m.
- Phụ hệ tầng dưới (D
3
- C
1
ph1) gồm các đá vôi phân lớp dày, xen đá vôi dạng
khối, màu xám và xám đen.
- Phụ hệ tầng giữa (D
3
- C
1
ph2) gồm các đá vôi phân lớp màu đen, đá vôi silic,
sét vôi phân dải, đá silic dạng thấu kính màu đen, phân phiến. Thành phần canxit
của đá vôi đạt tới 97 - 98%, sét hữu cơ 2 - 3%, tương tự của đá vôi silic là 65 - 68% và
30 - 38%.
- Phụ hệ tầng trên (D
3
- C
1
ph3) gồm các đá sét bột kết màu xám, đá silic màu
xám, xám đen, đá vôi phân dải màu đen.
Tại Cát Bà, các đá của hệ tầng Phổ Hàn lộ ở khu vực Việt Hải, Xuân Đám và
giả dạng trứng cá ở phần cao. Thành phần canxit của đá đạt tới 99 - 100%, thành
phần thạch anh có thể tới 1%.
d) Các thành tạo Đệ tứ (Q)
Thành tạo Đệ tứ gồm các trầm tích bở rời đa nguồn gốc, phân bố rộng rãi trên
đảo và đáy biển xung quanh. Trầm tích Đệ tứ cổ nhất bắt gặp có tuổi Pleistocen
muộn và thứ tự trẻ dần như sau:
- Hệ tầng Vĩnh Phúc, tuổi Pleistocen muộn (Q
III
2
vp): Hệ tầng Vĩnh Phúc gồm
các trầm tích nguồn gốc biển, thành phần vụn thô gồm: cuội, sỏi và chủ yếu là sạn,
cát, màu vàng nâu, chứa nhiều mảnh vụn thân mềm và san hô, phân bố ở Ao Cối
(phía Tây đảo Cát Bà) tạo nên thềm biển cao 10m tương đối điển hình. Trầm tích
của hệ tầng còn phổ biến ở thung lũng Trung Trang, hiện là vùng canh tác chủ yếu
của đảo Cát Bà.
- Hệ tầng Hải Hưng, tuổi Holocen sớm - giữa (Q
IV
1-2
hh), gồm các trầm tích
vụn thô nguồn gốc biển, chủ yếu là cát, sạn, sỏi và cuội, chứa phong phú mảnh vụn
san hô và thân mềm và có thể gọi là trầm tích vụn vỏ sinh vật. Trầm tích của hệ tầng phân
bố hạn chế ở Cái Bèo (đông nam Cát Bà) tạo nên thềm biển quy mô nhỏ, cao 4 - 5m.
- Hệ tầng Thái Bình, tuổi Holocen muộn (Q
IV
3
tb)
Phần trầm tích lục địa của hệ tầng này đã được mô tả ở phần trên (trầm tích Đệ
tứ không phân chia trên đảo).
+ Trầm tích bãi: nguồn gốc sóng, phổ biến ở khu vực Cát Bà - Long Châu.
Theo thành phần vật chất và nguồn cung cấp, phân biệt thành 2 loại: Cát thạch anh
và Áng Sỏi). Ở trên mặt, trầm tích này thường có màu nâu hồng, nâu xám và ở dưới
20cm hoặc 60cm là trầm tích màu xám xanh, xám đen, giàu mùn hữu cơ và trầm tích
thực vật ngập mặn và đây cũng là tầng sinh phèn tiềm tàng.
+ Trầm tích doi cát triều, delta triều: Trầm tích này thành tạo do dòng triều rút,
tạo nên các dạng tích tụ ngầm, thường xuất hiện ở vùng cửa Lạch triều lớn như lạch
Cửa Vạn và Lạch Huyện. Thành phần cơ học của trầm tích gồm chủ yếu là cát lẫn
mảnh vụn vỏ sinh vật và gravel.
+ Trầm tích vũng vịnh: Trầm tích này phân bố phổ biến ở vịnh Lan Hạ và các
tùng áng xung quanh. Thành phần cơ học gồm chủ yếu là bùn sét và sét bột, màu
xám và xám đen, độ ướt cao.
+ Trầm tích Đệ tứ không phân chia (Q): Trầm tích Đệ tứ không phân chia trên
đảo Cát Bà gồm deluvi, proluvi và coluvi, thành phần độ hạt từ mịn đến thô và rất
thô (tảng, khối). Các trầm tích này lấp đầy các dạng địa hình karst cổ như: thung
lũng, phễu, hang karst. Nhờ đó thảm thực vật phát triển thành rừng cùng với quá
trình tạo đất feralit vàng đỏ, đặc biệt ở các thung lũng chậm thoát nước. 8
1.1.1.2. Đặc điểm địa hình [1,2,16,19]
Quần đảo Cát Bà có đặc trưng địa hình là núi non hiểm trở, độ cao < 500m, độ
cao từ 50 - 200m chiếm tỷ lệ cao, xu hướng của địa hình là cao ở phía tây bắc và
thấp dần ở phía đông nam.
a) Địa hình karst: là dạng địa hình đặc trưng và phổ biến cho khu vực đá vôi
đảo Cát Bà. Địa hình karst được tạo bởi hoạt động của quá trình karst hóa, sắc nhọn,
hiểm trở hình thành trên đỉnh núi đá vôi tinh khiết. Dạng địa hình hoạt động do rửa
lũa, hoà tan đá vôi của quá trình karst đã tạo nên các hang động karst. Chiều sâu và
độ rộng của hang khá lớn và phân bố trên đảo với một số lượng khá nhiều, như:
động Đá Hoa (Gia Luận), động Trung Trang, hang Quân Y, Dân Y, hang Eo Bùa,
hang Tiền Đức, hang Luồn, Nằm xen kẽ với các núi đá vôi là địa hình thung lũng
C), khi thời tiết rất khô nóng nhiệt độ cao
nhất tuyệt đối lên tới 37
o
C - 40
o
C. Thời tiết nóng, ẩm, dễ có dông, mưa lớn, áp thấp
nhiệt đới bão.
b) Chế độ gió
Khí hậu bị phân hoá thành 2 mùa rõ rệt: mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9), thời
tiết nóng ẩm (nhiệt độ trung bình thường trên 25
o
C) và mưa nhiều kéo dài (lượng
mưa tháng trên 100mm), thường xuất hiện bão, áp thấp nhiệt đới, dông, …; mùa
đông (từ tháng 11 đến tháng 3), trời rét lạnh (nhiệt độ trung bình dưới 20
o
C), ít mưa
(dưới 100mm). Thời kỳ chuyển tiếp là tháng 4, tháng 10 các khối không khí suy yếu
thời tiết ôn hoà hơn.
Tốc độ gió trung bình năm 2,4m/s, cao nhất vào tháng 7 (3,4m/s) và thấp nhất
vào tháng 1 (1,8m/s). Mùa hè gió mùa đông nam, tốc độ trung bình 2,5m/s - 3,0m/s,
cực đại 20m/s - 30m/s. Mùa đông gió mùa đông bắc, tốc độ trung bình 2,5m/s -
3,0m/s, tốc độ cực đại 20m/s -25m/s trong các đợt gió mùa đông bắc mạnh.
c) Các đặc trưng mưa, bốc hơi và nhiệt độ không khí
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm
sau. Hàng năm có 100 - 150 ngày mưa với tổng lượng mưa trung bình năm
1.806mm, dao động từ khoảng 1.600 - 2.000mm.
- Tổng lượng bốc hơi đạt 700mm - 750mm/năm, xấp xỉ 50% tổng lượng mưa
năm. Các tháng 10 và 11 lượng bốc hơi lớn nhất trong năm, đạt trên 80 mm và các
tháng 2 và 3 lượng bốc hơi thấp, chỉ đạt 30 mm. Lượng bốc hơi cao cùng với tính
chất địa hình karst của đảo có khả năng thoát nước lớn nên tình trạng khô kiệt xảy
Theo số liệu của Cục Thống kê thành phố Hải Phòng (2011), mức gia tăng dân
số tự nhiên ở khu vực đảo Cát Bà trung bình là 0,68%/năm, thấp hơn so với mức
tăng bình quân hàng năm của thành phố Hải Phòng và cả nước. Dân cư tương đối
ổn định, hiện tượng di cư tự do đến đảo ít. Tổng số dân số năm 2011 là 16.566
người, tỷ lệ nam và nữ trong những năm qua không biến động lớn (Bảng 1.1).
Bảng 1.1. Tình hình dân số các xã, thị trấn khu vực đảo Cát Bà (2011)
Đơn vị: người
TT Xã Tổng số hộ
Số khẩu
Tỷ lệ sinh
(%)
Tỷ lệ chết
(%)
Tỷ lệ tăng
tự nhiên (%)
1 Gia Luận 77 580 1,67 0,34 1,33
2 Phù Long 576 2064 1,22 0,58 0,64
3 Hiền Hào 123 354 0,42 0,28 0,14
4 Xuân Đám 254 851 1,88 1,08 0,8
5 Trân Châu 440 1563 1,79 0,7 1,09
6 Việt Hải 68 210 0,95 0,95 0
7 T.T Cát Bà 4013 10944 1,37 0,59 0,78
Tổng 5.551 16.566 TB: 0,68 %
(Nguồn: UBND các xã, thị trấn Cát Bà năm 2011)
b) Dân cư
Dân cư phân bố không đồng đều, cao nhất ở Thị trấn Cát Bà là 593,9
người/km
2
, thấp nhất là xã Việt Hải với 6,24 người/km
)
Trong năm 2011 tỷ lệ lao động nữ chiếm 50,7%, lao động nam chiếm 49,3%
.Tỷ lệ lao động được đào tạo của huyện Cát Hải tăng chậm trong thời kỳ 2004 -
2011. Công tác đào tạo, dạy nghề được chú trọng hơn trước nhưng tỷ lệ lao động
qua đào tạo của huyện vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung bình của toàn thành phố
Hải Phòng. Năm 2011 đạt khoảng 16,5% so với tỷ lệ 35% của toàn thành phố Hải
Phòng và 25,5% của cả nước. Nếu tính thêm số lượng lao động có kỹ năng thông
qua tự đào tạo (nhưng không có chứng chỉ chuyên môn) thì tỷ lệ có thể đạt 18%.
Hình 1.2. Cơ cấu lao động trong các ngành nghề của huyện Cát Hải
21.1%
30.5%
14.3%
12.1 %
22%
Nông lâm nghiệp
Thủy sản
Dịch vụ và du
lịch
Nghề khác
Công nghiệp
12
Lao động nông - lâm nghiệp chiếm 21,1%, thuỷ sản 30,5%, công nghiệp 22%,
dịch vụ du lịch 14,3%, nghề khác 12,1%. Như vậy lao động trong ngành thuỷ sản là
cao nhất.
1.1.2.2. Các hoạt động kinh tế - xã hội
11,7 ha với sản lượng đạt 62 tấn [7]. Nguyên nhân do hệ thống thuỷ lợi yếu kém
13
nên việc dẫn nước còn rất hạn chế và chưa điều tiết được nguồn nước, các nguồn
suối chỉ đáp ứng được cho canh tác khoảng 1/3 diện tích đất nông nghiệp.
Cây màu (ngô, khoai, sắn, đậu, lạc) tổng diện tích 61 ha với sản lượng đạt
133.3 tấn cũng đã góp phần tăng thêm lương thực và thu nhập cho các hộ dân trong
vùng. Rau xanh được trồng chủ yếu ở Trân Châu, Xuân Đám, Việt Hải với diện tích
là 20 ha, sản lượng 31,2 tấn. Hiện tại sản lượng rau xanh vẫn chưa đáp ứng đủ nhu
cầu tiêu thụ rau ngày càng tăng trên đảo.
Cây ăn quả khu vực đảo Cát Bà có tổng sản lượng là 444,7 tấn /năm với diện
tích trồng là 239,7 ha (không kể diện tích cây vải của VQG Cát Bà). Ngoài ra còn
một số diện tích trồng cây ăn quả khác như na, mít, táo, dứa, … xen kẽ trên đất thổ
cư. Đặc biệt, cây cam được trồng ở xã Gia Luận nơi có điều kiện đất đai phù hợp,
có nguồn gen tốt, được người dân địa phương thừa nhận như một “thương hiệu” có
uy tín trong vùng.
Chăn nuôi:
Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trên địa bàn huyện tăng trưởng bình quân
4,75%. Hoạt động chăn nuôi không chỉ mang lại thu nhập mà còn phục vụ sinh hoạt
trong gia đình và tạo ra phân bón cho nông nghiệp.
Nghề nuôi ong trên địa bàn hiện nay tương đối phát triển với số lượng lên đến
2.201 đàn và sản lượng đạt 8.056 lít (với giá mật ong nuôi hiện tại từ 100 - 200 ngàn
đồng /lít) đã mang lại hiệu quả kinh tế khá cao so với trồng lúa và cây màu các loại.
Xã Trân Châu có phong trào chăn nuôi dê phát triển, dê là đối tượng nuôi
chính, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Thịt dê là món ăn đặc sản của du khách và
người địa phương, giá bán từ 200.000 - 250.000 đ/kg. Hiện xã Trân Châu có 35 hộ
nuôi dê với trên 1.200 con, chiếm 40% tổng đàn dê của huyện Cát Hải (3.000 con),
1/9 tổng đàn dê thành phố (10.000 con). Dê được nuôi theo phương thức chăn thả,
nguồn thức ăn từ tự nhiên.
Những năm qua mặc dù diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) trên địa bàn
không thay đổi lớn, nhưng sản lượng nuôi trồng lại tăng lên rất lớn. Trong đó,
NTTS được thực hiện dưới hai hình thức là nuôi cá lồng bè và nuôi đầm hồ.
Xã Phù Long có diện tích NTTS lớn nhất với nhiều hình thức nuôi trồng ven
bờ như: nuôi ngao, đầm nuôi tôm tự nhiên, đầm quảng canh trong rừng ngập
mặn,… Hai xã Xuân Đám và Hiền Hào cũng có một số bãi nuôi ngao với diện tích
15
không lớn lắm. Nuôi cá lồng bè phổ biến ở các khu vực vịnh kín thuộc thị trấn Cát
Bà, xã Việt Hải, Gia Luận.
NTTS trong khu vực có sản lượng tăng nhanh với một số loài đặc sản có giá
trị kinh tế cao trong xuất khẩu như Tu Hài, Cá Song, Cá Hồng, Cá Thác, Cá Vược.
Hiện nay chính quyền địa phương đang tiếp tục quy hoạch, sắp xếp, bố trí hợp lý
nghề nuôi cá lồng bè, nuôi tôm đầm và công tác vệ sinh môi trường ở các khu vực
nuôi tốt hơn. Sản lượng NTTS bình quân đạt 4.018 tấn/năm. Sản phẩm NTTS từng
bước đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và dịch vụ du lịch.
Chế biến thủy sản
Chủ yếu tập trung phát triển sản xuất nước mắm. Tính đến nay, trên địa bàn
huyện có 3 doanh nghiệp và gần 100 hộ tham gia sản xuất nước mắm. Sản lượng
sản xuất nước mắm bình quân đạt trên 4 triệu lít/năm. Giá trị tổng sản lượng sản
xuất nước mắm tăng cao, do được chú trọng đầu tư cải tiến công nghệ sản xuất để
nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh và mở rộng thị trường. Hàng năm,
sản lượng sản xuất mắm tôm khô đạt 70 tấn, thuỷ sản khô đạt 150 tấn, sứa đạt 950
tấn, chả cá, chả mực đạt 15 tấn.
Dịch vụ hậu cần thủy sản
Tập trung đáp ứng nhu cầu dịch vụ hỗ trợ cho nghề khai thác và NTTS trên
địa bàn huyện. Cảng dịch vụ hậu cần thuỷ sản tại thị trấn Cát Bà cùng các cơ sở tư
nhân đã làm tốt các dịch vụ như: sửa chữa tàu thuyền, cung cấp xăng dầu, máy móc
thiết bị, nước đá, nước ngọt, thu mua, bao tiêu sản phẩm.
Ngoài Cảng cá tại thị trấn Cát Bà, trên địa bàn huyện còn có các bến cá quy
174%/năm. Du lịch phát triển tạo ra nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho hàng
nghìn lao động địa phương và thúc đẩy các dịch vụ đi theo khác phát triển. Công tác
quảng bá, xây dựng thương hiệu du lịch thường xuyên được quan tâm và đẩy mạnh
thông qua các hoạt động khai mạc du lịch Cát Bà hàng năm, kỷ niệm Ngày Nghề cá
Việt Nam (1/4) và trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương.
Thương mại: Tổng mức luân chuyển hàng hóa bán lẻ đạt 324 tỷ đồng. Hàng
hóa thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và du khách được bảo đảm,
giá cả hàng hóa ổn định. Tổ chức thành công hàng năm các hoạt động hỗ trợ du
lịch, ví dụ: Hội chợ triển lãm Thương mại - Du lịch - Thủy sản Cát Bà năm 2014;
Liên hoan ẩm thực Cát Bà lần thứ II năm 2014, hưởng ứng Lễ hội Hoa Phượng Đỏ
lần thứ III. Ngoài ra, các nghề dịch vụ trên biển như: buôn bán cá mối, buôn bán
hàng ăn, nước sinh hoạt, thu mua hải sản cũng rất phát triển mang lại nguồn thu
nhập khá lớn cho người dân, thu nhập bình quân từ các nghề ngày khoảng 7 - 10
triệu đồng/tháng.
e) Giáo dục, y tế
Sự nghiệp giáo dục – đào tạo tiếp tục được quan tâm và phát triển, cơ sở vật
chất, thiết bị phục vụ cho dạy học đã được trang bị tốt hơn. Hiện tại số lượng học
sinh trong độ tuổi đi học được đến trường ở cấp tiểu học và trung học phổ thông đạt
100%. Số lượng học sinh thi tốt nghiệp qua các kỳ thi đạt 100% ở bậc trung học cơ
sở và bậc trung học phổ thông đạt 99,7%.
17
Các xã đã có trạm y tế xã riêng, mỗi trạm có từ 3 đến 7 cán bộ y tế. Ngoài ra,
trên địa bàn huyện có một Trung tâm y tế huyện đóng tại thị trấn Cát Bà và một số
cơ sở y tế tư nhân chăm sóc sức khoẻ, khám và chữa bệnh cho nhân dân. Các
chương trình y tế quốc gia được triển khai và thực hiện tốt, tình trạng vệ sinh an
toàn thực phẩm được cải thiện, các dịch bệnh lớn được kiểm soát tương đối hiệu quả.
h) Thông tin –văn hoá
Trên địa bàn đảo Cát Bà có một Trung tâm bưu điện đóng tại Thị trấn Cát Bà,
ở mỗi xã đều có điểm bưu điện văn hoá xã riêng. Các điểm bưu điện đều đáp ứng
bảo sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững và không làm gia tăng mất cân
bằng trong xã hội [23].
Từ năm 2008, trong chiến lược phát triển kinh tế, nhiều tổ chức quốc tế như
Liên hiệp quốc, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Liên hiệp Châu Âu
(EU), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), , cũng như các quốc
gia có nền kinh tế phát triển, đã triển khai và thúc đẩy các dự án xanh và coi đây là
một trong những giải pháp giúp thoát khỏi tình trạng suy thoái tài nguyên và môi
trường hiện nay [25].
Năm 2008, Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP) đã đề xuất ý
tưởng kinh tế xanh (green economy) và định nghĩa là “nền kinh tế vừa mang lại
hạnh phúc cho con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro về
môi trường và khủng hoảng sinh thái” [27]. Như vậy, thực chất kinh tế xanh là một
nền kinh tế phát thải ít cacbon, tăng trưởng theo chiều sâu, tiết kiệm tài nguyên
thiên nhiên, thân thiện với môi trường, đổi mới công nghệ và tăng trưởng bền vững,
tạo ra việc làm và công bằng xã hội, hướng vào cải thiện sinh kế của người dân [11].
Kinh tế xanh cùng với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường là ba trụ cột của
phát triển bền vững và là sự lựa chọn tốt nhất cho phát triển bền vững ở các quốc
gia. Phát triển kinh tế không còn là mục tiêu duy nhất mà còn phải quan tâm đến ổn
định xã hội, bảo vệ môi trường toàn cầu.
Như vậy, khác với nền kinh tế truyền thống (kinh tế nâu) lấy phát triển là
trọng tâm của quá trình tăng trưởng thì kinh tế xanh tập trung phát triển cả ba trụ
cột: phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường nhằm phát triển một
cách toàn diện và bền vững cuộc sống con người trong một mối quan hệ chặt chẽ
(Hình 1.4, 1.5).
19 Hình 1.4. Ba yếu tố kinh tế, xã hội, môi
trường trong nền kinh tế truyền thống
Hình 1.5. Ba yếu tố kinh tế, xã hội, môi
Các chỉ số tổng hợp về tiến bộ và phúc lợi xã hội: chỉ số tổng hợp về kinh tế vĩ
mô, bao gồm ngân sách quốc gia về kinh tế và môi trường, hoặc những chỉ số đem
lại cái nhìn toàn diện hơn về phúc lợi,…
Đánh giá:
Từ những phân tích trên dễ dàng thấy được nền kinh tế xanh có nhiều ưu điểm
nổi bật như trong nền kinh tế xanh vấn đề sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn vốn
thiên nhiên được quan tâm, phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường, cải thiện
cuộc sống người dân,… Bên cạnh những ưu điểm nổi bật như vậy, nền kinh tế xanh
cũng có những nhược điểm như: thời gian đầu khi thực hiện kinh tế xanh thì sự tăng
trưởng có thể sẽ chậm, khó thực hiện vì cần phải làm nhiều việc cùng một lúc từ sử
dụng hiệu quả tiết kiệm tài nguyên, xóa đói giảm nghèo, đầu tư cho bảo tồn và phát
triển, giảm thiểu phát thải khí nhà kính,… Để hướng tới lựa chọn phát triển kinh tế
xanh tại Cát Bà học viên đã lựa chọn một số tiêu chí so sánh giữa nền kinh tế xanh
và nền kinh tế nâu nhằm làm nổi bật lên ưu điểm của nền kinh tế xanh (bảng 1.5).
Bảng 1.5. So sánh nền kinh tế xanh và kinh tế nâu
Kinh tế nâu Kinh tế xanh
- Phát triển là trọng tâm - Phát triển đồng thời kinh tế - ổn định xã
hội – bảo vệ môi trường
- Khai thác và sử dụng nhiều năng
lượng hóa thạch
- Khai thác và sử dụng năng lượng tái tạo,
sử dụng công nghệ cac-bon thấp
- Khai thác và sử dụng cạn kiệt tài
nguyên đặc biệt là tài nguyên không tái
tạo, đa dạng sinh học suy giảm…
- Hướng tới sử dụng hợp lý và bảo tồn
nguồn tài nguyên
- Gia tăng ô nhiễm môi trường (Gia tăng
khí hiệu ứng nhà kính, thải nhiều chất
thải vào môi trường…)