i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM VŨ XUÂN HỢI ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM NƯỚC MẶT VÀ
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHẤT
LƯỢNG NƯỚC SÔNG, HỒ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Thái Nguyên– 2014 iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS.TS. Trịnh Thị Thanh.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề
được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Học viên
Vũ Xuân Hợi
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Vũ Xuân Hợi v
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2.3.4. Đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng nước sông, hồ 25
2.4. Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 25
2.4.2. Phương pháp điều tra, lấy mẫu thực địa 25
2.4.3. Phương pháp phân tích 26
2.4.4. Phương pháp sử dụng chỉ số chất lượng nước (WQI) 27
2.4.5. Phương pháp tính tải lượng, nồng độ các chất ô nhiễm 30
2.4.6. Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu 31
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Tổng quan về các sông hồ trên địa bàn quận Đống Đa 32
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Đống Đa 32
3.1.2. Khái quát về các sông, hồ trên địa bàn quận Đống Đa 35
3.1.2.1. Các sông trên địa bàn quận Đống Đa 35
3.1.2.2. Các hồ trên địa bàn quận Đống Đa 38
3.2. Thực trang ô nhiễm các sông, hồ của quận Đống Đa. 41
3.2.1. Kết quả phân tích 41
3.2.2. Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước sông, hồ 56
3.2.3. Đánh giá ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng chỉ số WQI đánh giá
mức độ ô nhiễm sông, hồ. 67
3.3. Nguyên nhân gây ô nhiễm và dự báo ô nhiễm 69
3.3.1. Nguyên nhân chính gây ô nhiễm các sông, hồ tại quận Đống Đa 69
3.3.2. Dự báo mức độ ô nhiễm 70
3.4. Đề xuất giải pháp cải thiện chất lượng các sông, hồ 81
3.4.1.Các giải pháp tổng thể 81
3.4.2. Các giải pháp cụ thể 83
KẾT LUẬN VÀ KHIẾN NGHỊ 86
1. KẾT LUẬN 86
2. KIẾN NGHỊ: 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 90
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
PO
4
3-
Phosphat
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCMT Tổng cục môi trường
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TSS Tổng chất rắn lơ lửng
UBND Ủy ban nhân dân
WQI Chỉ số chất lượng nước
WQI
SI
Chỉ số chất lượng nước tính toán cho mỗi thông số
viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.3. Số lượng cơ sở sản xuất, dịch vụ kinh doanh nhỏ tại 4 phường khu vực
đoạn sông Tô Lịch chảy qua quận Đống Đa, Hà Nội. 37
Bảng 3.4. Tổng hợp các hồ trên địa bàn quận Đống Đa 41
Bảng 3.5. Kết quả tính toán WQI nước sông Tô lịch mùa khô 2012 56
Bảng 3.6. Kết quả tính toán WQI nước sông Tô lịch mùa mưa 2013 57
Bảng 3.7: Kết quả tính toán WQI nước sông Lừ mùa khô 2012 58
Bảng 3.8: Kết quả tính toán WQI nước sông Lừ mùa mưa 2013 59
Bảng 3.9. Kết quả WQI các hồ mùa khô 2012 60
Bảng 3.10. Kết quả WQI các hồ mùa mưa 2013. 60
Bảng 3.11. Mức đánh giá chất lượng nước theo chỉ số WQI do nghiên cứu đề xuất 61
Bảng 3.12. Tổng hợp kết quả tính toán WQI các hồ 62
Bảng 3.13. Tổng hợp WQI theo mùa của các hồ 66
Bảng 3.14. Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 71
Bảng 3.15. Định mức sử dụng nước sinh hoạt cho các cấp đô thị. 71
Bảng 3.16: Xu hướng lượng nước thải và tải lượng BOD
5
có trong nước thải sinh
hoạt trên địa bàn quận Đống Đa vào năm 2015, 2020 72
Hình 3.1. Bản đồ qui hoạch quận Đống Đa 32
Hình 3.2: Diễn biến pH và DO của nước sông Tô Lịch 42
Hình 3.3: Diễn biến BOD
5
và COD của nước sông Tô Lịch 43
Hình 3.4: Diễn biến TSS và NH
4
+
của nước sông Tô Lịch 44
Hình 3.5: Diễn biến PO
4
3-
và Coliform của nước sông Tô Lịch 45
Hình 3.6: Diễn biến pH và DO của nước sông Lừ 46
Hình 3.7: Diễn biến giá trị BOD
5
và COD của nước sông Lừ 47
Hình 3.8: Diễn biến TSS và NH
4
+
của nước sông Lừ 48
Hình 3.9: Diễn biến PO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, nền kinh tế thế giới trong
nửa sau thế kỷ XX đã phát triển rất nhanh. Sự phát triển mà người ta gọi là “Thần
kỳ” đó đã làm cho cuộc sống của con người thay đổi rất nhiều. Chất lượng cuộc
sống được nâng lên, tuổi thọ bình quân tăng….Nhưng bên cạnh đó, tăng trưởng
kinh tế đã làm xuất hiện những xu hướng tiêu cực đang ngày một ảnh hưởng
nghiêm trọng tới cuộc sống của hành tinh chúng ta. Suy thoái môi trường là một
trong những xu hướng đó. Các hệ sinh thái cơ bản đóng vai trò vào việc duy trì sự
sống trên trái đất như đất, rừng, nước…ngày nay đang bị suy thoái hết sức nghiêm
trọng. Tình trạng ô nhiễm nước là đáng báo động hơn cả, nhất là ở những khu đô thị
và công nghiệp. Ô nhiễm nước mặt với các loại tác nhân có độc tính cao như kim
loại nặng, vi sinh vật gây bệnh…ngày càng lan rộng và thậm chí xâm lấn sâu vào cả
nước ngầm. Đây là một trong những thực trạng đáng ngại nhất của sự hủy hoại môi
trường tự nhiên. Môi trường nước rất dễ bị ô nhiễm, các ô nhiễm từ đất, không khí
đều có thể làm ô nhiễm nước, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người và các sinh vật
khác.
Quận Đống Đa nằm ở trung tâm thủ đô Hà Nội. Phía Bắc giáp quận Ba Đình,
phía Đông Bắc giáp quận Hoàn Kiếm (ranh giới là phố Lê Duẩn), phía Đông giáp
quận Hai Bà Trưng (ranh giới là phố Lê Duẩn và đường Giải phóng), phía Nam
giáp quận Thanh Xuân (ranh giới là đường Trường Chinh và đường Láng), phía Tây
giáp quận Cầu Giấy (ranh giới là sông Tô Lịch). Quận Đống Đa là quận có mật độ
dân số cao nhất thành phố Hà Nội.
Trên địa bàn Quận có 2 con sông chảy qua là sông Tô Lịch và Sông Lừ,
ngoài ra còn có nhiều hồ lớn nhỏ như: hồ Xã Đàn, hồ Đống Đa, hồ Linh Quang, hồ
Ba Mẫu,…Hệ thống sông, hồ ở đây đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận và
điều hoà nước và khí hậu, tạo cảnh quan, và là nơi vui chơi giải trí của cộng đồng.
Hiện nay, các sông, hồ Hà Nội nói chung cũng như quận Đống Đa nói riêng đang
tiếp nhận trên 400.000 m
- Hiện trạng chất lượng nước các dòng sông, nước các hồ trên địa bàn Quận,
phân tích và đánh giá mức độ ô nhiễm các dòng sông, các hồ;
- Các nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước mặt và Dự báo mức độ ô nhiễm
các sông, hồ trên địa bàn quận Đống Đa;
- Đề xuất các giải pháp cải thiện, nâng cao chất lượng nước các sông, hồ
- Xây dựng bản đồ khoanh vùng ô nhiễm nước khoanh vùng về hiện trạng ô
nhiễm nước các dòng sông, các hồ.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Vận dụng những kiến thức đã học trong Nhà trường vào thực tế;
- Kết quả của đề tài là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về công nghệ, giải
pháp cải thiện chất lượng các dòng sông, các hồ bị ô nhiễm.
3
3.2. Ý nghĩa thực tế
- Chỉ ra những yếu tố gây ra tác động đến chất lượng nước các dòng sông,
các hồ trên địa bàn Quận;
- Phân tích và đánh giá mức độ ô nhiễm của các hồ, các dòng sông tại quận
Đống Đa;
- Xây dựng được bản đồ khoanh vùng các khu vực ô nhiễm cần phải khắc
phục;
- Là cơ sở giúp các cơ quan quản lý Nhà nước có biện pháp quản lý, xử lý
nhằm nâng cao chất lượng nước các dòng sông, các hồ trên địa bàn quận Đống Đa.
- Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và
nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.
- Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và
thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
- Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước
so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc
trong các thời kỳ trước đó.
- Khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước là khả năng nguồn nước có
thể tiếp nhận thêm một lượng nước thải mà vẫn bảo đảm chất lượng nguồn nước
cho mục đích sử dụng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam hoặc tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật nước ngoài được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho
phép áp dụng [10].
* Khái niệm về chỉ số chất lượng nước
- Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index- WQI) là một chỉ số được tính
toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất
5
lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước đó; được biểu diễn qua một thang
điểm [14].
-Các nguyên tắc xây dựng WQI bao gồm:
+ Bảo đảm tính phù hợp;
+ Bảo đảm tính chính xác;
+ Bảo đảm tính nhất quán;
+ Bảo đảm tính liên tục;
+ Bảo đảm tính sẵn có;
+ Bảo đảm tính có thể so sánh.
năm trên toàn lãnh thổ vào khoảng 1.940 mm/năm nhưng do ảnh hưởng của địa hình
đồi núi, lượng mưa phân bố không đều trên cả nước và biến đổi mạnh theo thời gian
đã và đang tác động lớn đến trữ lượng và phân bố tài nguyên nước ở Việt Nam.
Việt Nam có hơn 2.360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có
109 sông chính. Toàn quốc có 16 lưu vực sông (LVS) với diện tích lưu vực lớn hơn
2.500 km
2
, 10/16 lưu vực có diện tích trên 10.000 km
2
. Tổng diện tích các LVS trên
cả nước lên đến trên 1.167.000 km
2
, trong đó, phần lưu vực nằm ngoài diện tích
lãnh thổ chiếm đến 72% [2].
Vị trí địa lý, đặc điểm điều kiện tự nhiên đặc thù nên khoảng 60% lượng
nước của cả nước tập trung ở LVS Mê Công, 16% tập trung ở LVS Hồng - Thái
Bình, khoảng 4% ở LVS Đồng Nai, các LVS lớn khác, tổng lượng nước chi chiếm
phần nhỏ còn lại (hình 1.1)
Hình 1.1: Tỷ lệ phân bố tài nguyên nước theo các LVS
(Nguồn:Báo cáo tài nguyên nước, những vấn đề và giải pháp quản lý khai
thác, sử dụng nước, Bộ TN&MT, 2009) [3].
7
Tổng lượng nước mặt của nước ta phân bố không đều giữa các mùa một
phần là do lượng mưa phân bố không đồng đều cả về thời gian và không gian, gây
nên lũ lụt thường xuyên và khô hạn trong thời gian dài. Lượng mưa thay đổi theo
mùa và thời điểm mùa mưa, mùa khô ở các vùng là khác nhau. Ở miền Bắc, mùa
đại hóa đất nước, nhiều ngành công nghiệp được mở rộng quy mô sản xuất, cũng
như phạm vi phân bố. Cùng với đó là sự gia tăng lượng nước thải lớn, nhưng mức
đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu. Vùng Đông Nam bộ, với
toàn bộ các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi tập trung các KCN
lớn, là vùng có lượng phát sinh nước thải công nghiệp lớn nhất cả nước. Số lượng
KCN có hệ thống xử lý nước thải vẫn đang ở mức trung bình (50-60%), hơn nữa
50% trong số đó vẫn chưa hoạt động hiệu quả.
Lưu lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ các
Khu công nghiệp trong cả nước được tổng hợp trong bảng 1.1 sau đây:
9
Bảng 1.1. Tổng lưu lượng và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ
các khu công nghiệp
Vùng Khu vực
Lượng
nước thải
Tổng lượng các chất ô nhiễm (kg/ngày)
(m
3
/ngày)
TSS
BOD
5
1.122
Quảng Ninh 8.050
1.771
1.103
2.568
467
644
Hải Dương 23.806
5.237
3.261
7.594
1.381
1.904
Hưng Yên 12.350
2.717
3.116
Duyên hải miền
Trung
Đà Nẵng 23.792
5.234
3.260
7.590
1.380
1.903
Thừa Thiên Huế 4.200
924
575
1.340
244
336
Quảng Nam 13.024
803
1.107
Đông Nam Bộ
Tp. HCM 57.700
12.694
7.905
18.406
3.347
4.616
Đồng Nai 179.066
39.395
24.532
57.122
10.386
14.325
3.732
679
936
Bình Phước 100
22
14
32
6
8
Long An 25.384
5.585
3.478
8.098
1.472
2.031
tâm hiện nay. Đây là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt ở
10
các địa phương có nền kinh tế nông nghiệp phát triển như đồng bằng sông Cửu
Long. Nước thải từ hoạt động nông nghiệp có chứa hóa chất bảo vệ thực vật, hay
thuốc trừ sâu, là thành phần độc hại cho môi trường và sức khỏe con người. Làm
mất cân bằng sinh thải, giảm tính đa dạng sinh học của vùng. Đặc biệt, các khu vực
này, đời sống dân cư vẫn gắn với nguồn nước sông, dùng làm nước sinh hoạt hay sử
dụng để nuôi trồng thủy sản.
- Nước thải y tế: Nước thải y tế được xem là nguồn thải độc hại nếu không
được xử lý trước khi thải ra môi trường. Do thành phần nước thải y tế chứa nhiều
hóa chất độc hại với nồng độ cao và chứa nhiều vi trùng, vi khuẩn lây lan bệnh
truyền nhiễm. Mức độ gia tăng lượng nước thải y tế năm 2011 so với năm 2000 là
hơn 20%. Hầu hết các bệnh viện do Bộ Y tế quản lý đã được đầu tư hệ thống xử lý
nước thải tập trung. Tuy nhiên, tại các bệnh viện thuộc Sở y tế địa phương quản lý
hay các bệnh viện thuộc ngành khác quản lý, cũng như các cơ sở khám chữa bệnh
tư nhân nằm rải rác, phần lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải. Theo Cục Quản lý
môi trường y tế thuộc Bộ Y tế, năm 2011, nước ta có hơn 13.640 cơ sở y tế, khám
chữa bệnh. Mỗi ngày, các đơn vị này thải ra khoảng 120.000 m
3
nước thải Y tế,
trong khi đó, chỉ có 53,4% trong tổng số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải y tế.
Trong đó, một số lượng lớn các chất độc hại trong nước thải y tế không thể xử lý
được bằng phương pháp xử lý nước thải thông thường [2].
1.2.2. Vấn đề quản lý sông, hồ Hà Nội
* Vấn đề quản lý sông trên địa bàn Tp. Hà Nội
Do địa bàn Hà Nội dốc từ Bắc xuống Nam, toàn bộ nước thải sinh hoạt và
+ Nước thải công nghiệp: Lưu lượng nước thải từ các khu công nghiệp và
dịch vụ chiếm hơn 55% tổng lượng nước thải của Hà Nội. Nước thải có nhiều chất ô
nhiễm đặc trưng cho các ngành sản xuất và nhìn chung nồng độ của chúng đều vượt
quy định cho phép theo tiêu chuẩn môi trường QCVN 40:2011/BTNMT – Quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp. Hiện nay trên địa bàn Hà nội,
bên cạnh 9 khu công nghiệp tập trung cũ, đã hình thành thêm 5 khu công nghiệp
mới. Các loại nước thải này cần phải xử lý, tuy nhiên hiện nay chỉ mới khoảng
11.500 m
3
nước thải (tương đương 4,4%) được xử lý.
+ Nước thải bệnh viện: Trên địa bàn Tp.Hà Nội có trên 30 bệnh viện trung
ương, các bộ ngành và thành phố. Các bệnh viện này tập trung thành khu vực như
khu vực Bệnh viện Việt Đức, Bệnh vện C, Bệnh viện K, khu vực Bệnh viện Hữu
nghị, Bệnh viện quân y 108, khu vực Bệnh vện Nhi Việt nam - Thuỵ điển, Bệnh viện
phụ sản Hà nội hoặc phân bố rãi rác trên địa bàn thành phố. Ngoài ra còn có các
phòng khám tư nhân, phòng khám đa khoa,…Nước thải bệnh viện chứa nhiều chất
bẩn và độc hại. Hàm lượng chất bẩn hữu cơ theo BOD
5
cao. Đặc biệt trong nước thải
bệnh viện chứa nhiều vi trùng gây bệnh. Phần lớn nước thải bệnh viện đều chưa được
khử trùng và xử lý. Một số công trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học và
12
hoá học của các bệnh viện Hai Bà Trưng, Nhi Thuỵ điển làm việc không đúng quy
trình, hiệu quả xử lý thấp.
Việc xả nước thải chưa qua xử lý và khử trùng của các cơ sở y tế, bệnh viện
đã làm nhiễm bẩn một số nguồn nước khu vực xung quanh. Các mương hở như
mương Quỳnh lôi, mương Láng trung, mương Hào Nam hiện nay đang bị ô nhiễm
13
310mm/ngày; với hệ thống cống là 70mm/giờ. Kể cả khi gói thầu giai đoạn 2 hoàn
thành, thì mỗi khi mưa lớn, hệ thống thoát nước không thể tiêu hết nước ngay mà
phải chờ một thời gian từ nửa tiếng đến vài giờ đồng hồ nước mới rút hết. Với
những trận mưa như hồi tháng 10 năm 2008 (tổng lượng mưa ở khu vực Hà Nội phổ
biến từ 350 - 550 mm, có nơi lên tới 707mm), tình trạng gập úng vẫn diễn ra.
+ Khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng: Dự án thoát nước số II, sử
dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản được thực hiện trong giai đoạn 2006-2014, với
tổng diện tích khoảng 300ha đất, liên quan khoảng 7.000 hộ dân, trải dài theo các
tuyến mương, sông, hồ thuộc 8 quận, huyện của Hà Nội.
Trong 13 gói thầu, mới có 4 gói hoàn thành và đưa vào sử dụng, còn lại đang
thi công. Tuy nhiên, vấn đề giải phóng mặt bằng cho thực hiện các gói thầu gặp
nhiều khó khăn do tình hình quản lý, sử dụng đất rất phức tạp. Ngoài quận Cầu
Giấy đã hoàn thành, bàn giao mặt bằng, các quận Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh
Xuân, Đống Đa, Tây Hồ, Ba Đình và huyện Thanh Trì hiện vẫn đang vướng mắc.
+ Khó khăn trong quản lý: Hiện nay, việc quản lý hệ thống sông, hồ có nhiều
bất cập, sự phân cấp quản lý còn chưa thống nhất giữa các ban ngành, các địa
phương trong quản lý và khai thác. Sự phức tạp, chồng chéo trong quản lý, khai
thác dẫn đến tình trạng không thống nhất khiến hệ thống sông, hồ không phát huy
hết chức năng phục vụ công tác thoát nước và điều hòa vi khí hậu.
Việc quản lý yếu kém, chồng chéo vừa là nguyên nhân gây ra ô nhiễm vừa là
nguồn gốc gây khó khăn trong việc cải tạo sông, hồ đang bị ô nhiễm nặng. Hiện
nay, Hà Nội đã phân cấp các hồ về quận, huyện để tập trung công tác quản lý, khai
thác hồ về một đầu mối. Nhưng, khi được giao về địa phương, các hồ vẫn bị bỏ rơi,
bị lấn chiếm và xả rác. Trong khi đó, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên
Thoát nước Hà Nội lại chỉ được giao nhiệm vụ quản lý mực nước hồ và tiêu thoát
nước vào mùa mưa.
Cùng với khó khăn từ khâu quản lý, khó khăn do thiếu kinh phí cải tạo
sông, hồ dễ nhìn ra nhất và cũng khó giải quyết nhất bởi chi phí xử lý ô nhiễm
thường rất lớn.
15
Hình 1.3: Mô hình phân cấp quản lý hồ
(Nguồn: Tô Văn Trường, Bất cập trong quản lý hồ ở Hà Nội, 2011) [21]
Hệ thống quản lý mô tả trên đây là điển hình của cách quản lý từ trên xuống
và coi kiểm soát xử phạt là biện pháp chủ yếu. Hệ thống này có một thuận lợi lớn là
chức năng nhiệm vụ của các bên rất rõ ràng, các cấp đều biết mình phải làm gì, ở
khâu nào, và chịu trách nhiệm như thế nào. Hệ thống này cũng cho phép sự nhất
quán thông suốt từ trên xuống dưới và có thể triển khai diện rộng nhanh chóng theo
pháp lệnh. Nó cũng cho phép huy động các cơ quan từ trên xuống dưới tham gia khi
có các hoạt động cụ thể cho một mục tiêu nhất định hoặc công tác truyền thông, ví
dụ như nhân ngày Bảo vệ Môi trường thế giới thì tổng vệ sinh các hồ.
Tuy nhiên, nếu đặt vấn đề quản lý hồ theo quan điểm phát triển bền vững và
bảo vệ sinh thái thì việc quản lý theo hệ thống trên sẽ bộc lộ những bất cập. Ở cấp
bậc cao nhất trong thực hiện Luật, có tới năm Sở giúp cho UBND các chính sách về
bảo vệ hồ. Mỗi sở đều có chức năng khai thác hồ từ các góc cạnh khác nhau, không
xuất phát từ khía cạnh bảo vệ hệ sinh thái. Do vậy các chính sách đưa ra và các biện
16
pháp thực hiện đều không coi cách tiếp cận hệ sinh thái là một chiến lược. Điều này
khá nguy hiểm vì hệ sinh thái của hồ ao không được ưu tiên bảo vệ (không đạt được
mục tiêu cao nhất đã được đặt ra trong điều 63 Luật Bảo vệ Môi trường). Từ đó việc
bảo vệ hồ ở các cấp dưới cũng không tiếp cận hệ sinh thái hồ dẫn đến các dự án cải
tạo, phục hồi chỉ mang tính thực hiện nhiệm vụ.
Thiếu sự giám sát: nhìn sơ đồ quản lý trên, có thể thấy ngay việc thiếu giám
sát chất lượng sinh thái hồ (sức khỏe của hồ). Khi thiếu các cơ quan giám sát, cơ
chế giám sát, thì việc phát hiện những sai phạm cũng như hạn chế trong công tác
quản lý, xử lý hồ sẽ không được quan tâm.