trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa kế toán
------
chuyên đề
thực tập tốt nghiệp
Đề tài:
phân tích tình hình tài chính thông qua hệ
thống báo cáo tài chính tại công ty cổ phần
cơ khí và thiết bị áp lực - vvmi
Họ và tên sinh viên : Trơng Thị Hơng Giang
Lớp : Kế toán tổng hợp A
Khoá : 46
Giáo viên hớng dẫn : Trần Đức Vinh
Hà Nội 04/2008
LỜI MỞ ĐẦU
Báo cáo tài chính đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với công tác
quản lý của một doanh nghiệp, đồng thời hệ thống báo cáo tài chính cũng là
nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với các đối tượng bên ngoài doanh
nghiệp. Báo cáo tài chính không chỉ cho biết tình hình tài chính của doanh
nghiệp trong một thời điểm nhất định mà còn cho biết được hiệu quả hoạt
động mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ kinh doanh.
Phân tích báo cáo tài chính đóng một vai trò quan trọng trong hoạt
động quản lý của mỗi công ty nhằm đánh giá thực trạng tài chính, hiệu quả
hoạt động. Từ đó, đề ra các giải pháp thích hợp nhằm cải thiện tình hình tài
chính cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của công
ty. Do đó việc phân tích báo cáo tài chính luôn thu hút được sự quan tâm của
các nhà quản trị doanh nghiệp cũng như của các đối tượng bên ngoài.
Qua quá trình thực tập tại công ty cổ phần cơ khí và thiết bị áp lực-
VVMI, nhận thấy vai trò quan trọng của công tác phân tích tài chính. Trong
khi đó, công ty lại không hề chú trọng đến việc phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp. Do đó em lựa chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính
khoáng sản Việt Nam) có quyết định số 467 NVL-TCCBLĐ về việc thiết lập
lại Xí nghiệp kinh doanh vật tư và chế tạo bình áp lực-Than nội địa. Nhiệm vụ
của Xí nghiệp trong giai đoạn này là sản xuất bình khí axetylen, kinh doanh,
cung ứng vật tư, thiết bị, phụ tùng, hàng hoá cho nghành than, sửa chữa phục
hồi thiết bị sản xuất, kinh doanh than, vật liệu xây dựng phục vụ cho nền kinh
tế quốc dân.
Ngày 14/10/2004 Xí nghiệp kinh doanh vật tư và chế tạo bình áp lực-
Than nội địa được cổ phần hoá và đổi tên thành Công ty Cổ phần cơ khí và
thiết bị áp lực-Than nội địa (nay là công ty TNHH một thành viên Công nghiệp
mỏ Việt Bắc). Tổng số vốn là 2.200.000.000 đ trong đó vốn Ngân sách là
1.122.000.000 chiếm 51%, vốn cổ phần phổ thông là 1.078.000.000 chiếm
49%.
Ngày 18/04/2007 doanh nghiệp đổi tên thành Công ty Cổ phần cơ khí
và thiết bị áp lực-VVMI.
Tên giao dịch quốc tế: APLUCO
Trụ sở chính: Số 506 đường Hà Huy Tập-Yên Viên-Gia Lâm-Hà Nội.
Tel : 048782971
Mã số thuế : 0100100015-013
Số lượng cán bộ công nhân viên hiện nay là 140 người
Công ty hiện nay là thành viên của công ty TNHH một thành viên công
nghiệp mỏ Việt Bắc với chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp hiện nay là
chế biến và kinh doanh than, chế tạo, sửa chữa và lắp đặt thiết bị áp lực, phụ
tùng, hàng hoá phục vụ sản xuất và đời sống, sửa chữa, hiệu chỉnh điện.
Có thể đánh giá khái quát về công ty thông qua một số chỉ tiêu phản ánh hoạt
động của công ty trong 3 năm 2005, 2006 và 2007 như sau:
Bảng 01:Bảng một số chỉ tiêu phản ánh khái quát về doanh nghiệp
Đơn vị: 1000đ
Stt Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Mặc dù giá vốn hàng bán và chi
phí có tăng nhưng với tốc độ không nhanh bằng tốc độ tăng doanh thu nên lợi
nhuận trước thuế của doanh nghiệp vẫn tăng. Tuy nhiên, đến năm 2007 sau 2
năm cổ phần hoá, doanh nghiệp bắt đầu phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
nên lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp năm 2007 giảm so với năm 2006 là
-155.915 nghìn đồng đạt 90,6%. Thông qua bảng số liệu trên ta có thể thấy
quy mô của công ty ngày càng được mở rộng. Điều này được thể hiện ở việc
tổng tài sản và số lượng cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp ngày càng
tăng. Cụ thể so với năm 2005 tổng tài sản trong năm 2006 có giảm không
đáng kể (giảm -49.506 nghìn đồng đạt 99,8%) nhưng đến năm 2007 tổng tài
sản của công ty đã tăng đáng kể. So với năm 2006 tổng tài sản tăng
14.165.541 nghìn đồng đạt 148%. Thu nhập bình quân một lao động của công
ty là khá cao so với mặt bằng thu nhập của nước ta hiện nay. Hơn nữa chỉ tiêu
này lại được tăng dần qua các năm. So với năm 2005 thu nhập bình quân một
lao động trong năm 2006 tăng 380 nghìn đồng đạt 116%. Năm 2007 so với
năm 2006 thu nhập bình quân một lao động tăng 70 nghìn đồng đạt 103%.
Như vậy ta có thể thấy Công ty cổ phần cơ khí và thiết bị áp lực-VVMI là
một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Lợi nhuận liên tục tăng qua các
năm, đóng góp ngày càng nhiều hơn vào Ngân sách, nâng cao phúc lợi cho
cán bộ công nhân viên trong toàn công ty. Nhìn chung Công ty đang có một
xu thế phát triển tốt trong tương lai.
1.2 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
1.2.1 Đặc điểm sản phẩm sản xuất
Doanh nghiệp sản xuất các loại sản phẩm cơ khí như: bình sinh khí,
nồi hơi, thiết bị áp lực, gông lò, tấm chèn và một số thiết bị cơ khí khác. Đây
là các thiết bị được sản xuất từ nguyên vật liệu chính là thép, yêu cầu chất
lượng sản phẩm cao.
1.2.2 Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Có thể khái quát quy trình công nghệ chung sản xuất sản phẩm của
công ty như sau:
60 nhân viên với trình độ tay nghề cao.
- Phân xưởng cơ khí sửa chữa: Đảm nhận công việc chế tạo các loại
kết cấu thép, thực hiện lắp đặt các dây chuyền thiết bị, nồi hơi theo đơn đặt
hàng, sửa chữa máy móc, thiết bị phục vụ các mỏ than trong ngành than và
các đơn vị khác. Phân xưởng gồm có 60 nhân viên.
Có thể khái quát hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thông qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh
1.4 Đặc điểm tổ chức quản lý
1.4.1 Đặc điểm tổ chức quản lý công ty
Mô hình tổ chức quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình một cấp.
Đứng đầu là giám đốc công ty, tiếp đó có 2 phó giám đốc và các phòng ban.
Công ty cổ phần cơ khí và thiết
bị áp lực-VVMI
Phân xưởng chế tạo áp lực
Phân xưởng cơ khí sửa chữa
- Giám đốc: Là người điều hành mọi hoạt động hàng ngày của công ty.
Giám đốc có trách nhiệm xây dựng chiến lược phát triển, phương án đầu tư,
tổ chức quản lý trong công ty. Giám đốc là người trực tiếp chịu trách nhiệm
trước cấp trên về hiệu quả hoạt động kinh doanh trong toàn công ty.
- Phó giám đốc kinh doanh: Chịu trách nhiệm trước giám đốc về công
tác quản lý tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trong toàn công ty. Phó giám
đốc kinh doanh thực hiện xây dựng chiến lược, chính sách tiêu thụ sản phẩm,
lập kế hoạch tiêu thụ hàng năm và xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm.
- Phó giám đốc kỹ thuật: Là người phụ trách công tác kỹ thuật, công
nghệ sản xuất sản phẩm, chỉ đạo sản xuất sản phẩm, an toàn lao động, phụ
trách công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm, vật tư, hàng hoá nhập
kho….Phó giám đốc kỹ thuật chịu trách nhiệm trước giám đốc về mọi vấn đề
có liên quan đến sản xuất như: chất lượng, số lượng, chủng loại sản phẩm, kế
hoạch sản xuất, định mức tiêu hao nguyên vật liệu, định mức nhân công, chi
đủ các khoản nộp Ngân sách…
1.4.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty
Sơ đồ 3: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Giám đốc
PGĐ kinh doanh
Phòng
tổ chức
lao
động
Phòng
kế toán
tài
chính
Phòng
kế
hoạch
Phòng
kỹ thuật
Phòng
kdoanh
XNK
Phòng
kdoanh
tổng
hợp
PGĐ kỹ thuật
1.5 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán
1.5.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
Phòng kế toán của doanh nghiệp gồm có 4 nhân viên, bao gồm Kế toán
trưởng và 3 kế toán viên. Mỗi kế toán viên chịu trách nhiệm đảm nhận một số
kế toán trưởng.
+ Nhận phiếu nhập-xuất kho vật tư về kiểm tra và lập sổ chi tiết
nguyên vật liêu, công cụ dụng cụ, thành phẩm , hàng hoá. Lên Bảng kê số 3,
8, 10 Nhật ký chứng từ số 6
+ Thực hiện kế toán TSCĐ: Căn cứ vào các chứng t ừ có liên quan,
tiến hành lên sổ chi tiết TSCĐ, Nhật ký chứng từ số 9, 10.
Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 4: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
KẾ TOÁN
TRƯỞNG
KẾ TOÁN
THANH
TOÁN
- Tiền mặt
- Tiền gửi
- Công nợ
- Tạm ứng
THỦ QUỸ
- Vật tư
- Hàng hoá
- TSCĐ
KẾ TOÁN
TỔNG HỢP
- Tiêu thụ
- Tập hợp chi
phí sx và tính
giá thành
1.5.2. Một số nguyên tắc kế toán chủ yếu áp dụng tại Công ty
Doanh nghiệp tổ chức hạch toán kế toán theo Quyết định số
15/2006/QĐ-BTC. Cụ thể đối với một số phần hành doanh nghiệp áp dụng
hàng hoá, hoá đơn chi phí mua hàng.
- Chứng từ bán hàng: hoá đơn GTGT; Bảng kê hàng hoá bán ra…
- Chứng từ về TSCĐ: Biên bản giao nhận TSCĐ; biên bản thanh lý
TSCĐ; biên bản đánh giá lại TSCĐ, biên bản kiểm kê TSCĐ, bảng tính và
phân bổ khấu hao TSCĐ
Công ty sử dụng một số chứng từ khác theo quy định của Bộ Tài chính.
1.5.4. Đặc điểm hệ thống tài khoản kế toán.
Hệ thống tài khoản cấp 1 được công ty sử dụng theo quyết định số
15/2006/QĐ-BTC cụ thể như sau:
* Tài khoản thuộc Bảng cân đối kế toán
- TK loại 1: TK111, TK112, TK131, TK133, TK136, TK138, TK141,
TK142, TK144, TK152, TK153, TK154, TK155, TK156, TK157.
- TK loại 2: TK211, TK214, TK241.
TK loại 3: TK311, TK315, TK331, TK333, TK334, TK335, TK336,
TK338, TK341.
TK loại 4: TK 411, TK 413, TK414, TK415, TK421, TK431
TK loại 5: TK511, TK515
TK loại 6: TK621, TK 622, TK 627, TK632, TK635, TK 641, TK642
TK loại 7: TK711
TK loại 8: TK811
TK loại 9: TK911
TK ngoài bảng
TK 007: Ngoại tệ các loại
Hệ thống TK cấp 2 được công ty chi tiết theo đối tượng sử dụng và
hạch toán phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh và hoạt động kế toán
trong công ty.
1.5.5. Đặc điểm hệ thống sổ kế toán
Doanh nghiệp thực hiện ghi sổ theo hình thức Nhật ký-Chứng từ. Hệ
thống sổ được sử dụng trong doanh nghiệp như sau:
* Sổ kế toán chi tiết:
toán chi tiết
Bảng tổng
hợp chi tiết
Bảng kê
Báo cáo tài chính
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Ghi chú:
doanh thu, chi chi phí và xác định kết quả kinh doanh và lập các báo cáo tài
chính, báo cáo quản trị doanh nghiệp.
1.5.6. Đặc điểm hệ thống Báo cáo kế toán
1.5.6.1. Báo cáo kế toán do nhà nước quy định
* Các loại báo cáo kế toán theo quy định của Nhà nước
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Các báo cáo trên được Công ty lập vào cuối mỗi quý, mỗi năm
* Báo cáo được nộp cho các cơ quan:
- Cơ quan thuế: Cục thuế Hà Nội
- Cơ quan thống kê: Cục thống kê Hà Nội
- Doanh nghiệp cấp trên: Công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc
- Cơ quan đăng ký kinh doanh: Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam
1.5.6.2. Báo cáo quản trị
* Các loại báo cáo quản trị
- Báo cáo lập vào cuối năm
+ Báo cáo xếp loại doanh nghiệp
+ Báo cáo các khoản phải thu và nợ phải trả
- Báo cáo lập vào cuối quý
* Nguyên tắc nhất quán: việc phân loại và trình bầy các khoản mục
trong BCTC được thực hiện nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác.
* Nguyên tắc trọng yếu và tập hợp: tuân thủ nguyên tắc trọng yếu và
tập hợp. Các khoản mục trọng yếu được trình bầy riêng biệt trong BCTC. Các
khoản mục không trọng yếu thì được tập hợp với các khoản mục khác có cùng
tính chất hoặc chức năng, hoặc được trình bầy trong thuyết minh BCTC.
* Nguyên tắc bù trừ: khi ghi nhận các sự kiện kinh tế và các sự kiện để
lập và trình bầy BCTC công ty không tiến hành bù trừ giữa tài sản và nợ phải
trả, tất cả các khoản mục tài sản và nợ phải trả được trình bầy riêng biệt trên
BCTC.
* Nguyên tắc có thể so sánh: các thông tin, số liệu trong các BCTC
nhằm để so sánh được giữa các kỳ được trình bầy tương ứng với thông tin
bằng số liệu trong BCTC của kỳ trước kể cả thông tin diễn giải bằng lời nếu
cần thiết cho người sử dụng hiểu rõ được BCTC của kỳ hiện tại.
2.1.2. Phương pháp lập BCTC tại Công ty
* Phương pháp lập Bảng cân đối kế toán
Cuối kỳ, kế toán các phần hành hoàn tất việc ghi sổ kế toán tổng hợp và
sổ kế toán chi tiết, tiến hành khoá sổ kế toán, tính ra số dư cuối kỳ của các tài
khoản, kiểm tra, đối chiếu số liệu kế toán giữa các sổ sách có liên quan đảm
bảo khớp, đúng số liệu. Số liệu sau khi đã được kiểm tra được tổng hợp và gửi
cho kế toán trưởng.
Kế toán trưởng kiểm tra số liệu của cột số cuối năm của Bảng cân đối
kế toán năm trước, số liệu ở cột này sẽ được chuyển sang cột số đầu năm của
Bảng cân đối kế toán năm nay.
Từ sổ cái các tài khoản kế toán trưởng tổng hợp số liệu, lên Bảng cân
đối số phát sinh từ đó lên Bảng cân đối kế toán.
Ghi vào phần tài sản của Bảng cân đối kế toán số dư Nợ của các tài khoản
loại 1, loại 2 và số dư Nợ của TK331 và số dư Có của TK 214 (ghi âm). Ghi vào
phần nguồn vốn của bảng số dư Có của các tài khoản loại 3, loại 4, và số dư Có
của TK131 số dư Nợ của các TK loại 4 được ghi âm bên nguồn vốn.
dụng các sổ chi tiết và sổ tổng hợp của các phần hành kế toán.
Bản thuyết minh BCTC của công ty gồm có 8 phần chính:
- Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
- Niên độ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
- Chế độ kế toán áp dụng
- Tuyên bố về việc tuân thủ Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán tại
Việt Nam
- Các chính sách kế toán áp dụng
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bầy trong Bảng cân đối kế
toán và Báo cáo kết quả kinh doanh
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bầy trong Báo cáo lưu
chuyển tiền
- Những thông tin khác
2.1.3. Hệ thống BCTC của công ty trong 2 năm, 2006, 2007
(phụ lục)
2.2. Phân tích thực trạng tài chính thông qua hệ thống BCTC tại
Công ty cổ phần cơ khí và thiết bị áp lực-VVMI
2.2.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc xem xét, nhận định sơ bộ
ban đầu về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Từ đó giúp cho nhà quản lý
có được cái nhìn tổng quan nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp là
khả quan hay không. Đánh giá khái quát tình hình tài chính nhằm xác định
được mức độ độc lập về tài chính, tình hình huy động vốn và khả năng thanh
toán của doanh nghiệp cũng như xác định được những khó khăn về tài chính
mà doanh nghiệp đang gặp phải. Việc đánh giá khái quát tình hình tài chính
doanh nghiệp được thực hiện thông qua việc phân tích một số chỉ tiêu tài
chính chủ yếu của doanh nghiệp như sau:
Bảng 02: Bảng đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Đơn vị: 1000đ
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Hệ số thanh toán = TSNH
nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán = Tiền và tương đương tiền
nhanh Nợ ngắn hạn
Hệ số chuyển đổi thành = Tiền và tương đương tiền
tiền của TSNH TSNH
Vốn lưu động thuần = TSNH - Nợ ngắn hạn
Nhận xét: Tổng nguồn vốn doanh nghiệp huy động được trong năm
2006 so với năm 2005 giảm -49.506 nghìn đồng đạt 99.8% nhưng đến năm
2007 tổng nguồn vốn doanh nghiệp đã được tăng lên đáng kể cả về tốc độ và
quy mô của nguồn vốn đều tăng. Cụ thể, năm 2007 tổng nguồn vốn tăng so
với năm 2006 là 14.165.541 nghìn đồng đạt 148%. Sở dĩ có sự gia tăng đáng
kể của nguồn vốn như trên là do doanh nghiệp đã tiến hành huy động thêm cả
2 nguồn vốn hiện tại của doanh nghiệp là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Năm
2007 tổng nợ phải trả tăng thêm 13.431.178 nghìn đồng đạt 155% so với năm
2006, Vốn chủ sở hữu năm 2007 so với năm 2006 cũng tăng thêm 734.363
nghìn đồng đạt 114%. Đây là một dấu hiệu tốt thể hiện khả năng huy động
vốn của doanh nghiệp hiện nay là đang có xu hướng khả quan, hứa hẹn một
Trương Thị Hương Giang Lớp: Kế toán 46A