BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ QUANG ĐÌNH NAM
NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ
BÀN CHÂN KHOÈO BẨM SINH Ở TRẺ EM
THEO PHƯƠNG PHÁP PONSETI Chuyên ngành : Chấn thương chỉnh hình
Mã Số : 62720725
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề
Bàn chân khoèo bẩm sinh là một phức hợp các biến dạng phức tạp ở
vùng cổ chân và bàn chân theo không gian ba chiều gồm: biến dạng
thuổng và vẹo trong của nửa sau bàn chân, biến dạng khép ngửa của nửa
trước bàn chân và biến dạng lõm gan chân.
Với tần suất xấp xỉ 1/1000 trẻ sinh ra còn sống, bàn chân khoèo
(BCK) bẩm sinh vô căn là một trong những dị tật bẩm sinh phổ biến.
Nhiều nghiên cứu khoa học cơ bản, lâm sàng cũng như dịch tễ học
nhằm xác định bệnh nguyên và bệnh sinh của BCK để phòng ngừa dị tật
phổ biến này, nhưng đến hiện tại bệnh nguyên và bệnh sinh vẫn chưa
được biết. Đến nay, chưa có nghiên cứu dịch tễ học về BCK đối với
quần thể dân cư Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Ở thập niên 50 điều trị BCK bẩm sinh chủ yếu là nắn chỉnh bằng tay
và bó bột với các phương pháp của Kite J., Ponseti I. hoặc kéo giãn - nắn
chỉnh bằng tay và nẹp theo Bensahel H., Seringe R Tuy vậy, một số
bệnh nhân (BN) đã không đạt được nắn chỉnh hoàn toàn biến dạng với
điều trị bảo tồn nên sự quan tâm đến điều trị phẫu thuật gia tăng trong
những thập niên sau đó. Cùng với thời gian, những biến chứng của phẫu
thuật như tái phát, chỉnh sửa quá mức, cứng và đau đã được ghi nhận. Vì
vậy, gần đây xu hướng nắn chỉnh bằng tay và bó bột đang trở lại, đặc
biệt là phương pháp Ponseti Nhiều công trình cho thấy kết quả nắn chỉnh
ban đầu thành công của phương pháp Ponseti I rất cao 92-98%, với sự
duy trì chức năng và không đau ở bàn chân của phương pháp Ponseti đã
được minh chứng trong một công trình theo dõi 35 năm.
Tại Việt Nam, điều trị bảo tồn BCK với nắn chỉnh bằng tay – bó bột
hoặc kéo giãn - nắn chỉnh bằng tay – băng dính và nẹp tùy theo điều
kiện mỗi nơi nhưng rất nhiều trường hợp bị bỏ quên hoặc điều trị không
đúng, khi lớn lên thì phải phẫu thuật. Kết quả của phương pháp điều trị
kiện Việt Nam, đánh giá mức độ nặng, kết quả nắn chỉnh ban đầu và tái
phát theo phân loại Diméglio, xác định các yếu tố nguy cơ tái phát giúp
các đồng nghiệp trong nước có thể điều trị BCK bằng phương pháp
Ponseti hiệu quả hơn.
4. Bố cục luận án
Gồm 119 trang: đặt vấn đề 2 trang, tổng quan 38 trang, đối tượng và
phương pháp nghiên cứu 17 trang, kết quả nghiên cứu 30 trang, bàn luận
29 trang, kết luận và kiến nghị 3 trang; 32 hình, 39 bảng, và 123 tài liệu
tham khảo (15 tiếng Việt, 102 tiếng Anh, 6 tiếng Pháp). CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Những đặc điểm chung về bàn chân khoèo
1.1.1. Tần suất
Có sự khác biệt về tần suất giữa các nhóm chủng tộc và dân tộc, với
tần suất 6,8/1000 ở Quần đảo Pô-li-nê-đi, 1,12/1000 ở người da trắng,
0,76/1000 ở người gốc Tây Ban Nha, 0,5/1000 ở người Nhật Bản và
0,39 ở người Trung Quốc.
3
1.1.2. Các yếu tố nguy cơ ở trẻ
1.1.2.1. Trẻ trai: nhiều hơn hẳn ở trẻ trai so với trẻ gái hằng định trong
nhiều nghiên cứu.
1.1.2.2. Sanh non: theo Parker S., sanh non liên quan chặt chẽ với BCK.
Tuy nhiên sanh non không phải hằng định.
1.1.2.3. Sanh ngôi mông: liên quan chặt chẽ với BCK theo Parker S., và
có xu hướng tăng theo Lochmiller; nhưng theo Kancherla V., sanh ngôi
mông cho thấy tỉ số số chênh (TSSC) giảm.
1.1.2.4. Trọng lượng thai thấp: liên quan chặt chẽ với BCK theo Parker
Tóm lại, những nghiên cứu dựa vào dân số với số liệu điện tử chứng
sanh cho thấy đánh giá yếu tố nguy cơ và tần suất hằng định hơn là
những nghiên cứu trong bệnh viện. Các yếu tố nguy cơ hằng định trong
nhiều nghiên cứu là trẻ trai, mẹ hút thuốc trong lúc mang thai. Tuy
nhiên, tần suất thay đổi tùy theo điều kiện địa lý, chủng tộc và dân tộc.
1.2. Giải phẫu bệnh
Giải phẫu BCK đã được Scarpa A. mô tả chi tiết vào năm 1803. Tác
giả nhấn mạnh di lệch vào trong và lật trong của xương ghe, xương hộp
và xương gót so với xương sên.
Đến năm 1866, Adams W. đã mô tả những đặc điểm của BCK và
kết luận rằng bất thường cốt yếu nằm ở sự lệch hướng vào trong và mặt
lòng của cổ và đầu xương sên, đây là hệ quả của việc thích nghi với vị
trí thay đổi của xương gót và xương ghe.
Từ đây, có nhiều công trình nghiên cứu về giải phẫu BCK và đáng
tin cậy là những nghiên cứu ở thai chết lưu hoặc sơ sinh chết.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc giải phẫu bệnh
nhưng với những kỹ thuật hóa miễn dịch tinh vi hiện nay, chúng ta đang
từng bước hiểu rõ hơn trong nghiên cứu cấu trúc BCK. Những cấu trúc
hằng định của BCK là giảm kích thước nửa sau bàn chân với nhân sinh
xương và nguyên bào sụn của nửa sau bàn chân nhỏ hơn bình thường,
loạn sản động mạch (đặc biệt động mạch chày trước) qua chụp mạch
máu, rối loạn cấu trúc cơ, và xơ hóa mặt trong bàn chân.
1.3. Bệnh sinh
Mặc dù bệnh nguyên chưa được biết, những thuyết bệnh sinh như
thuyết khiếm khuyết chất nguyên sinh mầm nguyên phát theo Irani R. và
Sherman M., thuyết thần kinh theo Issac H., thuyết mô sợi theo Ippolio
E. và Ponseti I. là cơ sở khoa học trong việc điều trị BCK.
1.4. Phân loại bàn chân khoèo ở trẻ em
BCK bẩm sinh có thể phối hợp với rối loạn thần kinh cơ hoặc các
Phân loại dựa vào 6 biến dạng lâm sàng bao gồm: nửa trước bàn
chân với bờ cong ngoài, nếp gấp trong, độ bao phủ đầu xương sên; nửa
sau bàn chân với nếp gấp sau, thuổng, độ sờ thấy gót. Mỗi biến dạng
được phân thành 3 mức độ: bình thường (0 điểm), vừa (0,5 điểm), nặng
(1 điểm).
1.4.6. Phân loại theo Richards B. và cộng sự
Phân loại được các tác giả dùng để đánh giá kết quả điều trị:
Tốt: bàn chân bằng sau khi cắt gân gót qua da (hoặc không cần
cắt gân gót).
Trung bình: bàn chân bằng sau khi (hoặc cần phải) được giải
phóng phần mềm phía sau, chuyển gân chày trước, cắt ngắn cột
ngoài hoặc phối hợp.
Xấu: bàn chân bằng sau khi (hoặc cần phải) được giải phóng phần
mềm phía sau-trong.
Mặc dù có nhiều hệ thống phân loại được đưa ra, phân loại
Diméglio và Pirani được sử dụng phổ biến nhất.
1.5. Điều trị bàn chân khoèo ở trẻ em
1.5.1. Điều trị bảo tồn
1.5.1.1. Phương pháp Vật lý trị liệu
Phương pháp vật lý trị liệu (VLTL) được triển khai vào những năm
1970 bởi Masse P., Bensahel H. và cộng sự. Phương pháp bao gồm nắn
chỉnh bàn chân hằng ngày, kích thích cơ quanh bàn chân (đặc biệt là các
cơ mác), và bất động tạm thời bàn chân với băng dính đàn hồi.
6
1.5.1.2. Phương pháp nắn chỉnh bằng tay và bó bột
Các phương pháp nắn chỉnh bằng tay và bó bột được áp dụng phổ
biến là phương pháp Kite và phương pháp Ponseti.
Sud A.và cộng sự so sánh tỉ lệ nắn chỉnh ban đầu giữa 2 phương
pháp Ponseti và Kite bằng nghiên cứu tiền cứu ngẫu nhiên; phương pháp
1.5.2. Điều trị phẫu thuật
Dietz D. tổng kết 14 nghiên cứu loạt ca điều trị phẫu thuật về tỉ lệ
tái phát cần phải phẫu thuật thêm. Thời gian theo dõi từ 2 đến 16 năm.
7
Số bàn chân được điều trị từ 16-271. Kết quả cho thấy tỉ lệ BCK cần
phẫu thuật thêm nữa từ 0-68%, trung bình 24%.
Thompson G. đánh giá 3 nhóm BCK được phẫu thuật trong số 244
BCK với 27% theo dõi hơn 10 năm, 73% theo dõi dưới 10 năm. 112
BCK nhóm phẫu thuật giải phóng giới hạn (à la carte) có 74% cần phẫu
thuật thêm và 8% bó bột lại. 39 BCK nhóm phẫu thuật giải phóng phần
mềm mặt sau-trong do phẫu thuật giải phóng không hoàn toàn trước đó
có 10% cần phẫu thuật thêm nữa và 28% cần bó bột lại. Nhóm 93
BCKphẫu thuật từ đầu giải phóng mặt sau-trong có 9% phẫu thuật lại và
11% bó bột lại.
Tại Việt Nam, điều trị phẫu thuật BCK ở trẻ em được áp dụng nhiều
trước đây do không chẩn đoán sớm, bị bỏ quên, điều trị bảo tồn sớm
chưa theo bài bản, và tái phát cao do không được theo dõi đúng mức.
Các báo cáo phẫu thuật BCK ở trẻ em tại Việt Nam như của N.V.Thanh
(1985), B.C.Hoành (1995), N.N.Hưng và cộng sự (1997) cho kết quả
xấu khá cao 8-19%. Năm 2012, N.N.Hưng cũng đã báo cáo kết quả phẫu
thuật ở 448 BCK dưới 24 tháng tuổi chưa được điều trị hoặc thất bại với
điều trị bảo tồn; nhóm 1 gồm 268 BCK chỉ phẫu thuật giải phóng phần
mềm chọn lọc được theo dõi trung bình 15 năm 7 tháng, nhóm 2 gồm
180 BCK phẫu thuật giải phóng phần mềm chọn lọc kết hợp nạo xốp
xương hộp được theo dõi trung bình 6 năm 4 tháng; tác giả kết luận
nhóm 2 cho kết quả tốt và rất tốt là 92,8%, vượt trội so với nhóm 1. Đây
là báo cáo đầu tiên có thời gian theo dõi lâu dài tại Việt Nam.
Gần đây, dựa trên nguyên lý Ilizarov, một số nhà khoa học trên thế
giới và trong nước đã sáng chế ra những bộ khung cố định ngoài để điều
bệnh viện Từ Dũ. Năm 2009, B.V.Đức đã trích dẫn báo cáo của
N.B.M.Phước về kết quả điều trị BCK theo phương pháp Ponseti ở 15
BN với 26 BCK vô căn tại bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai được theo dõi
4-14 tháng. Kết quả đạt 24/26 BCK (92,3%). Cắt gân gót 7/26 BCK
(27%). Vì thời gian theo dõi ngắn nên các tác giả chưa đánh giá được tỉ
lệ tái phát trong giai đoạn mang nẹp sau nắn chỉnh ban đầu.
Tóm lại, mặc dù có ít nghiên cứu chứng cứ mức độ cao, nhiều
nghiên cứu cho thấy phương pháp Ponseti là phương pháp hiệu quả và
nhanh chóng trong nắn chỉnh BCK bẩm sinh; xử trí tái phát trong
phương pháp Ponseti ít xâm nhập bằng cách bó bột lại hoặc chuyển gân
chày trước nếu so sánh với phẫu thuật giải phóng lại các khớp, đục
xương sửa trục, và hàn khớp.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Từ năm 2004 đến 2012, các trẻ bị BCK bẩm sinh có năm sinh từ
2003 trở về sau được thu thập số liệu tại Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh
Hình Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong nghiên cứu khảo sát các đặc điểm của mẹ và trẻ, nhóm bệnh
nghiên cứu gồm 233 trẻ BCK bẩm sinh vô căn. Nhóm chứng gồm 232
trẻ không có bệnh lý bẩm sinh, có năm sinh từ 2003 trở về sau, mẹ sinh
sống ở các tỉnh trong vùng nghiên cứu gồm tất cả các tỉnh miền Nam
bao gồm cả Bình Thuận và các tỉnh Tây Nguyên từ Gia Lai trở vào vì
9
phần lớn các bệnh nhi bẩm sinh và mắc phải về cơ xương khớp tại các
tỉnh trong vùng nghiên cứu được thăm khám và điều trị tại bệnh viện
Chấn thương Chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong nghiên cứu điều trị BCK theo phương pháp Ponseti, 155 BN
với 228 BCK bẩm sinh vô căn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi được điều trị.
trong nước đến khi bột mềm thì lột từng lớp hoặc cắt bằng dao, kéo. 10 2.2.2.4. Cắt gân gót
Chỉ định: gập lưng < 20
0
sau khi đã chỉnh sửa hết các biến dạng khác,
bàn chân lồi khi cố gập lưng tối đa, và bàn chân lõm nặng khó nắn
chỉnh và nguy cơ tuột bột tái diễn.
2.2.2.8. Biến dạng ngửa động và di chứng
Nếu chỉ có biến dạng ngửa động đơn thuần thì thực hiện phẫu thuật
chuyển gân chày trước ra xương chêm 3 từ 3 tuổi trở đi.
Di chứng khép nửa trước bàn chân: thực hiện phẫu thuật cắt ngắn
xương hộp, có thể kèm theo kéo dài xương chêm 1 ở trẻ từ 5 tuổi.
2.2.3. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả
Kết quả nắn chỉnh ban đầu: kết quả hoàn chỉnh nếu nắn hết 5 biến
dạng (lõm, thuổng, vẹo trong, khép và xoay trong) hoặc chấp nhận nếu
còn 1 trong 5 biến dạng nhưng không cần phải phẫu thuật (không quá 1
điểm theo phân loại Diméglio).
Tái phát: đánh giá các biến dạng có bị tái phát hay không. 1 biến
dạng được xem là tái phát và cần xử trí nếu ≥ 2 điểm theo phân loại
Diméglio.
Kết quả sau cùng: đánh giá kết quả theo dõi tốt, trung bình và xấu
theo phân loại Richards B. và cộng sự.
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu và thống kê
Số liệu được xử lý với phần mềm thống kê Stata 10.0.
130 (56,0%) 1,75
(1,17 – 2,61)
0,004
Tuổi thai
≥ 37 tuần
< 37 tuần
206 (90,0%)
23 (10,0%)
219 (94,4%)
13 (5,6%) 1,88
(0,88 – 4,15)
0,076
Trọng lượng thai
> 2500gr
≤ 2500gr
195 (86,7%)
30 (13,3%)
211 (91,3%)
20 (8,7%)
30 (12,9%) 0,85
(0,55 – 1,30)
0,63
(0,32 – 1,21)
0,386
Lần sanh
Con so
Con rạ
135 (58,7%)
95 (41,3%)
121 (52,2%)
111 (47,8%) 0,76
(0,52 – 1,12)
0,157
Kiểu sanh
Sanh thường
Sanh mổ
174 (75,6%)
56 (24,4%)
170 (73,6%)
68 (29,2%)
87 (37,5%)
71 (30,6%)
61 (26,3%)
2,22
(1,39 – 3,55)
1,97
(1,21 – 3,23)
0,000
13
Tây Nguyên
27 (11,6%)
13 (5,6%)
3,68
(1,74 – 7,79)
3.2. Kết quả điều trị
3.2.1.Đặc điểm nhóm BN nghiên cứu
3.2.1.1. Tuổi bắt đầu điều trị
Sơ sinh 53 BN (34,2%), 1-3 tháng 65 BN (41,9%), 4-6 tháng 25 BN
Kiểm định chuẩn xác Fisher với p = 0,366 > 0,05.
3.2.2. Phương pháp điều trị
3.2.2.1. Số lần bột
Từ 1-10 lần. Phần lớn các BCK có ≤ 5 lần bó bột (75,4%).
3.2.2.2. Cắt gân gót
Cắt gân gót được thực hiện ở 180/228 BCK (78,9%).
3.2.2.3. Biến chứng
Tuột bột 30 BCK (13,2%), ban đỏ 6 BCK (2,6%), chèn bột 5 BCK
(2,2%), bàn chân lồi 6 BCK (2,6%).
Bảng 3.3: Thời điểm tuột bột lần đầu (n = 30).
Thời điểm tuột bột lần đầu
Số BCK
Tỉ lệ (%)
Trước cắt gân
21
70,0
Lần bột 2
8
26,7
Lần bột 3
8
26,7
Lần bột 4
3
10,0
14
Lần bột 5
2
6,6
Cắt gân
0,012
Tuột bột
0,000
Ban đỏ
0,001
Bảng 3.5: Các yếu tố liên quan đến kết quả nắn chỉnh ban đầu trong
phân tích đa biến (n = 228).
Các yếu tố liên quan
P
Ý nghĩa
Tuổi bắt đầu điều trị
0,002
Biến dạng lõm
0,018
Số lần bột
0,001
Tuột bột
0,030
Không ý nghĩa
Mức độ nặng
0,056
Cắt gân
0,362
Ban đỏ
0,234
3.2.3.2. Thời gian theo dõi
101 BN với 142 BCK theo dõi 24-117 tháng, trung bình 44 tháng.
chêm): 3 chuyển gân trước đó, 1 chuyển gân cùng lúc.
3.2.4. Kết quả theo dõi cuối cùng
Tốt 106 BCK (74,7%), trung bình 32 BCK (22,5%), xấu 4 BCK
(2,8%).
Bảng 3.7: Các yếu tố liên quan đến kết quả sau cùng trong phân
tích đơn biến (n=142).
Các yếu tố liên quan
P
Ý nghĩa
Tuổi bắt đầu điều trị
0,05
Mức độ nặng
0,048
Kết quả ban đầu
0,000
Thời gian theo dõi
0,000
Không ý nghĩa
Chương trình nẹp
0,509
Tái phát
0,413
16
Bảng 3.8: Các yếu tố liên quan đến kết quả sau cùng trong phân
tích đa biến (n = 136).
Các yếu tố liên quan
P
dân số về BCKBSVC. Tuy nhiên, một nghiên cứu dựa vào bệnh viện là
khả thi và giúp tìm hiểu các yếu tố nguy cơ BCK bẩm sinh nếu hạn chế
được các yếu tố gây sai lệch càng nhiều càng tốt. Bảng 3.1 cho thấy
nguy cơ BCK tăng cao có ý nghĩa ở bé trai, sanh ngôi mông và mẹ sinh
sống ở các tỉnh.
4.2. Kết quả điều trị
4.2.1. Đặc điểm nhóm bệnh nghiên cứu
Phần lớn BN được điều trị từ sơ sinh đến 3 tháng với 34,2% sơ sinh
và 41,9% từ 1-3 tháng tuổi, là giai đoạn theo Diméglio A. các dây
chằng, bao khớp bàn chân chưa co rút nhiều nên kết quả nắn chỉnh tối đa
là có thể thực hiện được.
Dị tật phối hợp chiếm tỉ lệ 13,6%. Những dị tật phối hợp này đã
được ghi nhận trong y văn nhưng đôi khi rất khó phân biệt giữa BCK vô
17
căn hay bệnh lý. Bảng 3.2 cho thấy mặc dù dị tật phối hợp không gặp ở
những BCK mức độ nhẹ nhưng cũng không làm tăng mức độ nặng của
BCK.
4.2.2. Phương pháp điều trị
Phương pháp Ponseti được áp dụng trong nghiên cứu này tuân thủ
những nguyên tắc và những bước chi tiết theo Ponseti I. dựa trên nền
tảng giải phẫu bệnh và sinh lý bệnh. Tuy nhiên chúng tôi thực hiện một
số cải biên. Thao tác nắn chỉnh ngoài việc giạng và ngửa bàn chân trong
khi đè lên cạnh ngoài của đầu xương sên chúng tôi chú trọng động tác
kéo dọc trục bàn chân giúp nắn chỉnh biến dạng lõm và khép hiệu quả
hơn do tác động trực tiếp lên dây chằng chày ghe và gót ghe; các dây
chằng này co rút ngắn và dày lên ở BCK như được chứng minh trong
cấu trúc mô học của Ippolito E. và Ponseti I., và Carroll N
Động tác kéo dọc trục bàn chân tiếp tục được duy trì trong quá trình
quấn gòn và bó bột bằng cách quấn gòn trùm lên các đầu ngón tay của
4.2.3. Kết quả điều trị
4.2.3.1. Kết quả nắn chỉnh ban đầu
Chúng tôi sử dụng phân loại Diméglio không những để đánh giá
mức độ nặng ban đầu, diễn tiến trong quá trình bó bột mà còn để đánh
giá kết quả nắn chỉnh ban đầu. Kết quả thành công 97,4% với 75,9% nắn
sửa hoàn chỉnh là kết quả đáng khích lệ, cao hơn so với các tác giả áp
dụng các phương pháp bảo tồn khác có kết quả đạt dưới 90% và điều trị
phẫu thuật kết quả đạt sấp xỉ 90% (bảng 4.1).
Bảng 4.1: Kết quả điều trị BCK tại Việt Nam.
Số BCK
Phương pháp
Kết quả đạt
(%)
Tác giả
228 (155 BN)
Ponseti
97,4
N.B.M.Phước
26 (15 BN)
Ponseti
92,3
L.C.Thắng
(53 BN)
VLTL
62,3
T.T.T.Hà
(166 BN)
VLTL
75-90
100
96
Colburn M. & CS
57
95
Goksan S. & CS
130
97
Lehman W. & CS
45
92
19
Ependegui T.
53
77,5-86,4
Morcuendes J.& CS
256
98
Richards B. & CS
267
94,4
Bảng 3.4 thấy tuổi bắt đầu điều trị càng lớn càng ảnh hưởng xấu đến
kết quả ban đầu có ý nghĩa (p=0,023<0,05) mặc dù 6 BCK thất bại thuộc
nhóm dưới 3 tháng tuổi. Bảng 3.4 cũng cho thấy kết quả nắn chỉnh ban
đầu chịu ảnh hưởng có ý nghĩa thông kê bởi mức độ biến dạng, biến
dạng lõm, số lần bột, cắt gân, tuột bột và ban đỏ. Theo Frick S., thất bại
trong nắn chỉnh lõm với lần bột đầu tiên dẫn đến di chứng cứng và nắn
chỉnh không hoàn toàn. Hơn nữa việc chỉ định số lần bột và cắt gân gót
để đạt kết quả tối ưu nhưng những BCK như thế thường có kết quả nắn
Số BCK
Theo dõi
(tháng)
Tỉ lệ
tái phát (%)
Tác giả
136
44
6,6
Morcuendes J. & CS
256
26
11
Dobbs M. & CS
86
27
31
Haft G. & CS
73
35
41
Richards B. & CS
267
51,6
37
Mặc dù tiêu chuẩn đánh giá tái phát cũng như chương trình mang
nẹp được cho là tuân thủ hay không khác nhau giữa chúng tôi và các tác
giả trên, bảng 3.6 cho thấy mối liên quan giữa chương trình mang nẹp và
tái phát có ý nghĩa (p=0,001<0,01). Các BCK tái phát chủ yếu trong 6
tháng theo dõi đầu tiên với 8 BCK (5,9%); sau 12 tháng không ghi nhận
hai cũng như tái phát sau khi chuyển gân chày trước. Lampasi M. và
cộng sự theo dõi 38 bàn chân khoèo tái phát được phẫu thuật giải phóng
phần mềm, có thể kèm theo phẫu thuật xương, và chuyển gân chày trước
ở độ tuổi trung bình 4,8 năm; với thời gian theo dõi trung bình 24,8 năm,
11 bàn chân bị thất bại do kỹ thuật, chỉnh qua mức, và gập lưng bàn
chân yếu, và nhóm nghiên cứu cho rằng chuyển gân chày trước chỉ nên
được chỉ định khi mất cân bằng cơ là yếu tố chính gây ra biến dạng.
Chúng tôi ghi nhận 4 bàn chân (3,3%) có di chứng khép nửa trước
bàn chân và đều được cắt ngắn cột ngoài; kỹ thuật được áp dụng là cắt
ngắn xương hộp, và 1 bàn chân kèm kéo dài xương chêm trong từ 5 tuổi.
Các bàn chân này cải thiện đáng kể hình thể và dáng đi sau phẫu thuật
cắt ngắn xương hộp. Kết quả lâu dài rất tốt đã được N.N.Hưng công bố
ở nhóm 180 BCK phẫu thuật giải phóng phần mềm chọn lọc kết hợp nạo
xốp xương hộp được theo dõi trung bình 6 năm 4 tháng. Như vậy,
chuyển gân chày trước và cắt ngắn cột ngoài cải thiện chức năng và
thẩm mỹ của BCK được điều trị bảo tồn trước đó nhưng vẫn còn di
chứng ngửa động hoặc khép nửa trước bàn chân hoặc cả hai.
4.2.3.4. Kết quả theo dõi sau cùng
Thời gian theo dõi trung bình 44 tháng ở 142 BCK cho thấy kết quả
tốt 106/142 BCK (74,7%), trung bình 32/142 BCK (22,5%), xấu 4/142
(2,8%). Kết quả này là tương đồng với kết quả theo dõi của Radler C. và
cộng sự, và có xu hướng tốt hơn so với kết quả theo dõi của Richards B.
và cộng sự (bảng 4.4).
Bảng 4.4: Kết quả theo dõi sau cùng của phương pháp Ponseti.
Số
BCK
Theo dõi
(tháng)
Tốt
sau cùng chịu ảnh hưởng có ý nghĩa bởi mức độ nặng (p = 0,048 < 0,5)
và kết quả nắn chỉnh ban đầu (p = 0,000 < 0,01). Mối liên quan giữa
mức độ nặng và kết quả sau cùng cũng được Richards B. ghi nhận và tác
giả cho rằng phân loại BCK theo Diméglio A. trước khi điều trị giúp
chọn lựa phương pháp điều trị và tiên lượng kết quả sau cùng.
Một số yếu tố trong quá trình theo dõi không liên quan đến kết quả
sau cùng là chương trình mang nẹp và tái phát nhưng thời gian theo dõi
liên quan có ý nghĩa với kết quả sau cùng. Yếu tố thời gian theo dõi
cùng với yếu tố tuổi bắt đầu điều trị vẫn còn ảnh hưởng có ý nghĩa đến
kết quả sau cùng trong phân tích đa biến (bảng 3.8). Như vậy, các công
trình theo dõi càng dài sẽ cho kết quả sau cùng càng đáng tin cậy hơn.
Tóm lại, công trình này chưa đánh giá kết quả lâu dài các bàn chân
khoèo được điều trị với phương pháp Ponseti nhưng đã xác định các yếu
tố nguy cơ chính gây tái phát là kết quả nắn chỉnh ban đầu không hoàn
chỉnh và không tuân thủ chương trình mang nẹp, và kết quả theo dõi sau
cùng trung bình 44 tháng cho thấy kết quả tốt và trung bình chiếm tỉ lệ
khá cao.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu bệnh chứng so sánh 233 trẻ BCK bẩm sinh vô căn
với 232 trẻ không bị dị tật bẩm sinh về các đặc điểm của trẻ và mẹ;
nghiên cứu loạt ca đánh giá kết quả điều trị 228 BCK bẩm sinh vô căn ở
155 bệnh nhi dưới 12 tháng tuổi theo phương pháp Ponseti, chúng tôi có
một số kết luận:
1. Các đặc điểm của mẹ và trẻ liên quan đến BCK bẩm sinh vô căn
BCK gặp ở trẻ trai (69,1%) nhiều hơn gấp đôi so với trẻ gái
(30,9%).
BCK hai bên (50,2%) tương đương BCK 1 bên (49,8%), bên phải
(60,3%) chiếm ưu thế so với bên trái (39,7%).
Các đặc điểm của mẹ và trẻ liên quan có ý nghĩa đến BCK là trẻ
BCK thành công với 6 BCK được cắt gân gót lần hai; 1/9 BCK
thất bại được phẫu thuật giải phóng sau trong.
Di chứng và phẫu thuật chỉnh sửa di chứng:
25/142 BCK (17,6%) biến dạng ngửa động: 13/142 (9,2%)
chuyển gân chày trước và 12/142 (8,5%) có chỉ định chuyển gân
chày trước.
4/142 BCK (2,8%) di chứng khép nửa trước bàn chân được cắt
ngắn xương hộp ± kéo dài xương chêm 1 từ 5 tuổi.
Kết quả sau cùng:
Tốt 106/142 BCK (74,7%), trung bình 32/142 BCK (22,5%), và
xấu 4/142 BCK (2,8%).
Các yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa đến kết quả sau cùng trong phân
tích đơn biến như mức độ biến dạng, kết quả nắn chỉnh ban đầu
không còn có ý nghĩa trong phân tích đa biến.