iĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM
ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG VÀ PHÂN BÓN QUA
LÁ ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA HOA LAN
HỒ ĐIỆP GIỐNG V3 TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Thanh Vân đã tận tình
giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá
trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám đốc Trung tâm dạy nghề huyện Đồng
Hỷ - Tỉnh Thái Nguyên, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các đồng chí cán bộ nơi
tôi tiến hành thực hiện đề tài đã luôn động viên, giúp đỡ rất nhiều cả về tinh thần và
vật chất cho tôi hoàn thành chương trình học tập và luận văn tốt nghiệp.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền Trang
1.5.2. Những nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá, sử dụng phân bón lá 22
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.1.3. Phạm vi nghiên cứu: 25
2.1.4. Vật liệu nghiên cứu 25
iv
2.2. Nội dung nghiên cứu 26
2.3. Phương pháp nghiên cứu 28
2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 31
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa sinh trưởng
đến sinh trưởng, phát triển của hoa Lan Hồ Điệp giống V3 32
3.1.1. Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa sinh trưởng
đến sinh trưởng, phát triển của Hoa lan Hồ Điệp giống V3 32
3.1.2. Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa sinh trưởng đến
các chỉ tiêu năng suất, chất lượng của Hoa lan Hồ Điệp giống V3 36
3.1.3. Tình hình sâu bệnh hại đối với hoa lan Hồ Điệp giống V3 40
3.1.4. Phân cấp và sơ bộ hạch toán đối với Hoa lan Hồ Điệp giống V3 42
3.2. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sinh trưởng, phát triển
của giống hoa Lan Hồ Điệp giống V3 44
3.2.1. Đánh giá ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sinh trưởng, phát triển
của Hoa lan Hồ Điệp giống V3 44
3.2.2. Đánh giá ảnh hưởng của phân bón qua lá đến các chỉ tiêu năng suất,
chất lượng của Hoa lan Hồ Điệp giống V3 48
3.2.3. Tình hình sâu bệnh hại đối với hoa lan Hồ Điệp giống V3 52
3.2.4. Phân cấp và sơ bộ hạch toán đối với Hoa lan Hồ Điệp giống V3 53
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tốc độ phát triển của ngành sản xuất hoa, cây
cảnh giai đoạn 2000-2011 5
Bảng 1.2 Cơ cấu số lượng, chủng loại hoa ở Việt Nam qua các năm 7
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa sinh trưởng đến động thái ra lá
của cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 32
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến sự tăng trưởng chiều rộng lá
của cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 34
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến sự tăng trưởng chiều dài lá
của cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 34
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến động thái tăng trưởng 35
đường kính thân của cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 35
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến sự ra hoa và sinh trưởng
phát triển hoa của cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 36
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến sự ra hoa và chất lượng
hoa lan Hồ Điệp giống V3 38
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến diễn biến thành phần
bệnh hại chủ yếu trên cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 40
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của chế phẩm ĐHST đến diễn biến thành phần
sâu hại chủ yếu trên cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 41
Bảng 3.9. Phân cấp hoa lan Hồ Điệp giống V3 thí nghiệm sử dụng
chế phẩm Điều hòa sinh trưởng 42
Bảng 3.10. Sơ bộ hạch toán thu – chi thí nghiệm sử dụng chế phẩm Điều hòa
sinh trưởng cho Hoa lan Hồ Điệp giống V3 43
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của phân bón qua lá đến động thái ra lá
của cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 45
Hình 3.1. Biểu đồ ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa sinh trưởng đến
động thái ra lá của cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 33
Hình 3.2. Biểu đồ ảnh hưởng của chế phẩm Điều hòa sinh trưởng đến
động thái tăng trưởng đường kính thân của cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 35
Hình 3.3. Biểu đồ ảnh hưởng của Phân bón qua lá đến động thái ra lá
của cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 45
Hình 3.4. Biểu đồ ảnh hưởng của Phân bón qua lá đến động thái
tăng trưởng đường kính thân của cây hoa lan Hồ Điệp giống V3 48
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của
nền kinh tế, xã hội… nhu cầu sử dụng hoa nói chung và hoa lan nói riêng tăng
nhanh, không chỉ dùng trong những dịp lễ tết như trước đây mà nhu cầu về hoa
trong cuộc sống thường ngày của người dân cũng rất lớn. Bên cạnh đó, nhu cầu về
số lượng cũng đòi hỏi ngày càng cao, số liệu thống kê cho thấy các loài hoa có chất
lượng cao xuất hiện trên thị trường chủ yếu nhập từ Đài Loan, Thái Lan, Trung
Quốc, được tiêu thụ nhiều nhất ở các đô thị, thành phố lớn. Điều này cho thấy sản
xuất hoa ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người dân
Hiện nay, Lan Hồ Điệp là một trong những loại phong lan được trồng phổ
biến trên thế giới, so với đa số các loại lan khác thì Hồ Điệp khá nổi bật bởi các đặc
tính đa dạng, kích thước hoa to, màu sắc hấp dẫn, lâu tàn và ra hoa quanh năm, lan Hồ
Điệp được mệnh danh là hoàng hậu của các loại lan. Lan Hồ Điệp có nguồn gốc ở Tây
Á, trải rộng trên những núi cao từ Trung Quốc, Tây Tạng đến châu Úc, cây tăng
trưởng và phát triển tốt ở những vùng có độ ẩm cao và nhiệt độ khoảng 15 – 30
0
kỹ thuật chăm sóc Lan hiệu quả theo hướng công nghiệp, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm điều hòa sinh trưởng và phân bón
qua lá đến hiệu quả sản xuất của hoa Lan Hồ Điệp Giống V3 tại Thái Nguyên”.
2. Mục đích của đề tài
- Xác định loại chế phẩm điều hòa sinh trưởng phù hợp đối với sinh trưởng,
phát triển lan Hồ Điệp giống V3 tại Thái Nguyên.
- Xác định loại phân bón qua lá phù hợp đối với sinh trưởng, phát triển lan
Hồ Điệp giống V3 tại Thái Nguyên.
3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh trưởng đối với hoa lan Hồ Điệp giống V3.
- Theo dõi tình hình sâu, bệnh hại đối với hoa lan Hồ Điệp giống V3.
- Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng hoa đối với hoa lan Hồ Điệp giống V3.
- Hạch toán kinh tế đối với hoa lan Hồ Điệp giống V3.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỂ TÀI
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu sản xuất phân bón lá và chế phẩm
để tăng năng suất cây trồng đang phát triển mạnh. Các loại chế phẩm này bản chất
giống như các chất giúp cây tăng trưởng có sẵn trong cây song ở nồng độ thấp, chưa
đáp ứng cho cây sinh trưởng phát triển tốt được. Với nghề trồng hoa, việc sử dụng
chế phẩm điều hoà sinh trưởng có nhiều thuận lợi, đó là:
- Hoa không phải là thực phẩm cho người và vật nuôi, do đó các ảnh hưởng
độc hại (nếu có) của chất điều tiết sinh trưởng không ảnh hưởng đến con người và
vật nuôi.
ngừng tăng lên, nhiều tạp chí về hoa lan được xuất bản, nhiều cuộc hội thảo về lan
đã được tổ chức. Trước đây việc nuôi trồng và xuất khẩu chủ yếu là lan rừng nên
nguy cơ khoảng 13 loài tuyệt chủng, ngày nay việc trồng lan dần theo quy mô công
nghiệp, việc xuất khẩu lan đã đạt tới số lượng hàng trăm ngàn giò, hàng vạn cành
lan trong một năm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
Thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng mở rộng. Kim ngạch
thương mại hoa lan cắt cành trên thế giới năm 2000 đạt 150,0 triệu USD, trong đó
Nhật Bản là nước nhập khẩu hoa lan cắt cành đứng thứ nhất thế giới, sau đó là Ý,
tiếp theo là Pháp, Đức đứng thứ tư và thứ năm là Mỹ .
Vì có giá trị kinh tế cao nên rất nhiều nước đã tập trung vào việc nghiên cứu
hoa lan chất lượng cao để phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Các
nước như Thái Lan, Nhật Bản, Inđônêsia, Hà Lan đã đầu tư mạnh cho các trang trại,
công ty để sản xuất hoa chậu và hoa cắt. Họ tập trung chủ yếu vào việc nhân nhanh
lan sạch bệnh, hoa đẹp, có mùi thơm, đa dạng về màu sắc và hình dạng để cung cấp
cho hơn 50 nước trên thế giới. Do đó, chúng ta có thể nói rằng sản xuất lan đã đem
lại lợi nhuận rất cao cho các nước đang phát triển và phát triển.
Trong số các loài lan, lan Hồ Điệp được ưa thích về màu sắc, kiểu dáng trang
nhã nhưng cũng không kém phần kiêu sa và được mệnh danh là “ nữ hoàng “ của
5
các loài hoa lan. Chính vì vậy, việc trồng lan Hồ Điệp không chỉ dừng lại ở qui mô
gia đình mà đã nhanh chóng được mở rộng và trở thành lãnh vực quan trọng trong nông
nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều nước trên thế giới như Đài Loan, Nhật
Bản, Hà Lan, Mỹ.
Trong những năm gần đây, lan Hồ Điệp trở thành lan trồng chậu phổ biến và
được ưa chuộng nhất. Tổng sản lượng chiếm trên 75% trong các loại lan được trồng
trên thế giới. Tại Hà Lan, Hồ Điệp cũng là loại lan được trồng trong chậu phổ biến
và có giá trị cao nhất trong ngành trồng hoa. Tại Mỹ, Hồ Điệp là hoa trồng chậu
trang trí và quà tặng cao cấp.
4.410.000
6.800.000
Giá trị thu nhập TB (Tr.đ/ha/năm) 140 275 350 420
Mức tăng diện tích so với 2000 (lần) 1,0 2,1 1,9 2,4
Mức tăng giá trị sản lượng so với
2000 (lần)
1,0 2,0 4,6 7,2
(Số liệu thống kê và điều tra tổng hợp của Viện Nghiên cứu Rau quả năm 2012)
6
So với năm 2000, diện tích hoa, cây cảnh năm 2011 đã tăng 2,4 lần, giá trị
sản lượng tăng 7.2 lần (đạt 6.800 tỷ đồng, trong đó xuất khẩu xấp xỉ 50 triệu USD)
Mức tăng giá trị thu nhập/ha là 3,0 lần (đã có nhiều mô hình đạt 800 triệu đến 2,5 tỷ
đồng/ha/năm). Tốc độ tăng trưởng này là rất cao so với các ngành nông nghiệp khác.
Cũng theo kết quả điều tra, nhu cầu thị trường hoa, cây cảnh của Việt Nam
trong giai đoạn 2000 – 2011 trung bình tăng 9%/năm. Mức độ tiêu dùng hoa, cây
cảnh trung bình của người dân đô thị năm 2000 là 25.000đ/ người/ năm, đến năm
2011 tăng lên 52.000đ/ người /năm. Ở nông thôn, mức độ tiêu dùng tương ứng chỉ
bằng 20% so với đô thị. Sự tăng trưởng của ngành sản xuất hoa, cây cảnh luôn ổn định
trong suốt 11 năm qua.
Theo ước tính, có được kết quả trên là do sự đóng góp của nhân tố xã hội (do
thu nhập ngày càng cao, đời sống người dân ngày càng cải thiện), chiếm 40%; sự
đầu tư của Nhà nước về cơ sở hạ tầng và cơ chế chính sách chiếm 15%; sự nỗ lực
của người dân 25% và do kết quả đóng góp của khoa học 20%.
Trước năm 1995, Việt Nam chủ yếu sử dụng những loại hoa, cây cảnh truyền
thống, thông dụng như quất, đào, mai, hồng, cúc, layơn, huệ, thược dược. Những
năm gần đây, một số chủng loại hoa, cây cảnh cây cảnh mới, cao cấp đã dần dần
10. Hoa khác 7 8 10
Sản xuất hoa Lan đã có sự thay đổi đáng kể tuy nhiên vẫn chiếm phần trăm
nhỏ so với các loại hoa khác (6%) và việc trồng hoa Lan ở Việt Nam mới chỉ phát
triển mạnh mẽ ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Đà Lạt và thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh có khí hậu ấm áp quanh năm là trung tâm văn hóa
kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật của miền Nam có một tiềm năng lớn về nuôi
trồng và kinh doanh hoa lan.
Từ năm 1980 Việt Nam đã xuất khẩu lan sang Liên Xô, Tiệp Khắc. Năm
1987 ở thành phố Hồ Chí Minh đã có các vườn lan quốc doanh và tư nhân cùng với
sự ra đời của nhiều hội lan, cây cảnh và có nhiều cơ sở nghiên cứu ra đời. Theo số
liệu điều tra bước đầu tính đến năm 1986 thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 15 gia
đình có vườn lan với số lượng 1000 – 7000 chậu và đến năm 1987 ở thành phố Hồ
Chí Minh đã có vườn quốc doanh tư nhân: vườn lan T78, vườn lan Hàng Không dân
8
dụng, đến năm 2004 có 50 ha, năm 2005 là 80 ha, và mở rộng diện tích lên 200 ha
vào năm 2011.
Ở Hà Nội, mười năm gần đây, khi đời sống người dân thủ đô nâng cao, nhu
cầu thưởng thức hoa lan tăng, nhiều khi cung không đủ cầu và phong trào nuôi
trồng lan tự phát lan rộng cả đến các vùng phụ cận khiến các nhà khoa học phải vào
cuộc, đi sâu nghiên cứu và sản xuất, kinh doanh hoa lan. Do do mà hiện nay thủ đô
và các tỉnh, thành lân cận, đến thời điểm này, nông dân nhiều huyện ngoại thành Hà
Nội đã trồng mới được gần 1.300 ha hoa các loại. Những huyện có truyền thống trồng
hoa tử lâu năm như Từ Liêm đã trồng được hơn 400 ha hoa, Mê Linh gần 500 ha
Tại Viện Sinh học Nông nghiệp thuộc Trường Đại học Nông nghiệp I Hà
Nội đã cho ra đời hàng vạn cây giống hoa lan có giá trị kinh tế như: Hồ Điệp
(Phalaenopsis), Cát lan (Cattleya), lan Thái (Dendrobium)… Ngoài ra viện còn làm
cố vấn kỹ thuật, chuyển giao qui trình nuôi trồng một số giống lan có hiệu quả kinh
Nam giáp Thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp Bắc Kạn, phía Đông giáp các tỉnh Lạng
Sơn, Bắc Giang, phía Tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ. Thái Nguyên có 9
huyện thị gồm: thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, huyện Định Hoá, Phú
Lương, Võ Nhai, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình và huyện Phổ Yên. Thái Nguyên là
một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục y tế của Việt Nam nói chung,
của vùng trung du miền Đông Bắc nói riêng. Đây là một trong những vùng chè nổi
tiếng của cả nước, một trung tâm công nghiệp gang thép của phía bắc, cửa ngõ giao
lưu kinh tế - xã hội giữa trung du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ. Thái Nguyên là
nơi tụ hội các nên văn hoá dân tộc, đầu mối của các hoạt động văn hoá, giáo dục
của vùng núi phía Bắc rộng lớn còn có lợi thế để phát triển nông nghiệp.
Nghề trồng hoa ở Thái Nguyên mới được khai thác và phát triển bởi vậy nghề
trồng hoa nơi đây còn rất non trẻ, nhưng tốc độ phát triển rất nhanh. Như hoa lily,
hoa hồng, hoa cúc, hoa đào, hoa lan do lợi nhuận từ nghề trồng hoa đem lại cao,
nên diện tích hoa các loại ngày một tăng nhanh và cây hoa đã trở thành cây chủ lực
cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp của Thái Nguyên.
Sản xuất hoa ở Thái Nguyên chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống và áp
dụng phương pháp nhân giống hoa cổ truyền, dễ làm, quen với kinh nghiệm của
nông dân, chi phí thấp. Do đó trong sản xuất, phương pháp trồng thoa truyền thống
10
là chủ yếu và chiếm ưu thế.
Hiện nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đội ngũ cán bộ nông nghiệp
được đào tạo cơ bản, người dân đã mạnh dạn sử dụng cây con giống bằng phương
pháp nuôi cấy mô tế bào tạo cây giống khoẻ, sạch bệnh cùng với những trang thiết
bị hiện đại phục vụ cho sản xuất trồng hoa. Đây là một lợi thế làm tiền đề cho ngành
sản xuất hoa lan phát triển.
1.3. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ GIỐNG HOA LAN HỒ ĐIỆP TRÊN THẾ
GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.3.1. Các nghiên cứu về giống hoa lan Hồ Điệp trên Thế giới
Nam chưa được biết đến đó là Paphio pledilum helenae, Renamthera citrina,
Paphiopedilum hiepii và Vanda bidupensis.
1.4. NHỮNG NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ CÂY HOA LAN HỒ ĐIỆP
1.4.1. Nguồn gốc và phân loại
1.4.1.1. Nguồn gốc, vị trí phân bố
* Nguồn gốc
Cây lan Orchida thuộc họ phong lan Orchidaceae, bộ lan Orchidales, lớp một
lá mầm Monoctyledoneae.
Lan Hồ Điệp có tên khoa học là Phalaenopsis sp, là loại lan có hoa lớn, đẹp,
bền. Lan Hồ Điệp có màu sắc phong phú, không thua kém giống lan nào khác từ
trắng, hồng, đỏ, vàng, tím đến các loại lan Hồ Điệp có sọc nằm ngang hoặc thẳng đứng
hoặc có đốm to hay nhỏ. Giống Phalaenopsis có khoảng 70 loài trong đó có 44 chủng
loại, mọc từ dãy Hymalaya đến châu Á có hơn 20 loài lan ưa nóng có ở các nước Đông
Nam Á như bán đảo Mã Lai, Indonesia, Philippine, đông Ấn Độ [11].
Lan Hồ Điệp được khám phá vào năm 750, đầu tiên được ông Rumphius xác
định dưới tên là Angraecum album. Đến năm 1753, Linne đổi lại là Epidenndrum
amabilis vào năm 1825, Blume một nhà thực vật Hà Lan định danh một lần nữa
là Phalaenopsis amabilis Bl và tên đó được dùng cho đến ngày nay [22].
* Vị trí phân bố
Cây hoa lan mọc ở khắp mọi nơi trên thế giới, từ miền gió tuyết đến sa mạc
nóng bỏng khô cằn, từ miền núi cao rừng thẳm đến đồng cỏ của miền bình nguyên
và ngay cả các vùng sình lầy cũng có lan. Đa số lan mọc tập trung ở các rừng cây
12
nhiệt đới, ở các nước Châu Á như Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia, Việt Nam có
Dendrobium, Vanda, Phalaenopsis, Archinis, Renanthera, ở Châu Nam Mỹ như
Costarica, Venezuela, Colombia có các giống Cattleya, Odontoglosum, Miltonia [9].
Lan Hồ Điệp sống ở độ cao 200- 400 m nên vừa chịu khí hậu nóng ẩm vừa
chịu khí hậu mát, nhiệt độ trung bình từ 20
5. Epidendroi deae
6. Vandoideae
13
Cả 6 họ phụ này đều phổ biến rộng rãi trên trái đất. Họ lan của Việt Nam
cũng khá phong phú, theo thống kê sơ bộ gần đây có khoảng 140 chi và 730 loài.
Như vậy, họ lan đã trở thành 1 đối tượng cực kỳ phong phú và đặc sắc của hệ thực
vật Việt Nam, không những là một trong những họ thực vật lớn nhất mà còn đóng
góp nhiều về mặt giá trị sử dụng cho nền kinh tế nước nhà. Tuy nhiên, việc phân
loại cây trồng hết sức phức tạp, cho đến nay chưa có khoá phân loại cho các đơn vị
dưới loài, trong khi đó việc phân loại cho các đơn vị dưới loài hết sức quan trọng,
nhất là trong công tác chọn giống cây trồng [12].
Đối với Hoa lan Hồ Điệp được phân loại như sau:
Ngành: Magnoliophyta (thực vật hạt kín)
Lớp: Monocotyledoneae (lớp một lá mầm liliopsida)
Bộ: Orchidaceae
Họ: Orchidaceae
Giống: Phalaenopsis
Loài: Phalaenops is spp
Tên khoa học: Phalaenopsis wedding promenade [22].
1.4.2. Đặc điểm thực vật học của Hoa lan Hồ Điệp
Thân cây họ lan: cây lan sống ở những nơi hoang dã, ở các địa điểm rất khác
nhau, điều kiện môi trường rất khác nhau như các sườn núi cao giá lạnh, trên cây
cao gió thốc hoặc ẩm ướt tối tăm ven suối trong rừng rậm , cấu trúc loài lan cũng
đa dạng để thích nghi.
Lan Hồ Điệp thuộc loại lan đơn thân, tức là thân của chúng rất ngắn không hề
có giả hành, cũng không có thời kỳ ngủ nghỉ rõ rệt. Lan đơn thân sinh trưởng rất
chậm chạp, thân chính của nó trong môi trường thuận lợi hàng năm lại mọc ra các lá
mới, chúng mọc theo hướng cao hơn theo phương thẳng đứng còn cành hoa thì mọc
của các loài lan mọc ở 2 phía của thân cây. Lá của lan kiếm mọc trên cây thường
dày và cứng hơn mọc dưới đất vì chúng phải lưu trữ nước và dinh dưỡng.
Lá của lan Hồ Điệp to dày, đầy dặn, lá mọc đối xứng, ôm lấy thân cây. Số lá
trên thân cây thường không nhiều, thông thường 1 cây lan trưởng thành có từ 4 lá
trở lên. Trong nách lá có 2 chồi phụ, chồi phụ trên to hơn là chồi sơ cấp, bên dưới là
chồi dinh dưỡng sơ cấp. Các chồi sơ cấp này sinh trưởng đến một mức độ nào đó thì
bắt đầu đi vào giai đoạn ngủ nghỉ. Màu sắc của lá gồm 3 loại: lá màu xanh, mặt trên
lá và mặt dưới lá màu đỏ, mặt trên lá đốm và mặt dưới lá màu đỏ. Căn cứ vào màu
15
sắc lá có thể phân biệt được màu sắc hoa của chính nó, lá màu xanh thường ra hoa
màu trắng hoặc hoa nhạt màu, còn các lá màu khác thường cho hoa màu đỏ.
Lan Hồ Điệp để thích nghi với điều kiện sinh thái nguyên sinh, thông thường
bề mặt trên của lá không có khí khổng, chỉ có mặt dưới của lá mới có khí khổng.
Lan Hồ Điệp là loại thực vật CAM, giống như các thực vật CAM khác nên khí
khổng mở ra vào ban đêm để thu nhận CO
2
để tạo ra chất dự trữ trong cơ thể, vào
ban ngày CO
2
được sử dụng cho quá trình quang hợp. Ưu điểm của loại thực vật
này là khí khổng không mở vào ban ngày nên cây không bị mất nước do quá trình
thoát hơi nước. Điều kiện này đối với cây không được cung cấp nước thường xuyên
là rất có lợi. Khi cây có đủ nước thì khí khổng cũng mở ra vào ban ngày để hút khí
CO
2
tiến hành quang hợp bình thường. Nếu gặp phải điều kiện khô hạn nghiêm
trọng thì khí khổng sẽ đóng lại, quá trình quang hợp diễn ra chỉ vửa đủ cho lượng
CO
ta cho trồng hoa lan trong bệnh viện và cho mang hoa lan vào thăm bệnh nhân. Số
lượng phấn khối có thể là 2, 4, 6, 8 tùy loài hoa. Cát lan và Laelia rất giống nhau về
tất cả các mặt nhưng khác nhau về số phấn khối. Cát lan có 4 phấn khối còn Laelia
có 8. Phía dưới nắp là một điểm trũng bóng, nếu lấy đầu que diêm chấm vào điểm
đó ta sẽ thấy có một chất nhầy và dính. Đây chính là đầu nhụy nơi tiếp nhận phấn.
Bầu hoa: khi phấn khối rơi vào đầu nhụy tạo ra sự thụ phấn. Hoa sẽ héo đi
nhanh chóng, bầu hoa phình rộng ra thành quả lan. Trong mỗi quả có rất nhiều hạt
(hàng vạn, hàng triệu tùy loại). Sau vài tháng hoặc lâu hơn, quả lan sẽ chín và nứt
dọc theo 3 khe của 3 ô. Các hạt lan có thể bị gió cuốn đi rất xa. Hạt lan không chứa
chất dinh dưỡng như những loài thực vật khác nên chúng không thể mọc thành cây
lan con được nhưng chúng vẫn sinh sôi nảy nở và phát triển vì chúng có những hạt
đã gặp được loài nấm cộng sinh hỗ trợ các chất dinh dưỡng để cây lan con lớn dần
tới khi bộ rễ phát triển để có thể tự nuôi sống.
Họ lan được xếp vào đỉnh cao của mức độ tiến hóa trong các họ cây có hoa.
Kết luận này dựa vào sự hoàn chỉnh của cấu trúc hoa lan tạo cho sự thụ phấn bằng
côn trùng được thuận lợi nhất. Nếu thụ phấn chỉ do phấn của bông hoa rơi trên đầu
nhụy của chính bông hoa đó thì loài hoa này nhanh chóng bị thoái hóa hơn. Phấn
của hoa lan được kết dính nên không dễ dàng rơi xuống đầu nhụy dù gió có lay
mạnh bông hoa.
Khi hoa còn là nụ, nụ có thể là nghiêng hay dựng đứng ở các vị trí khác nhau.