Bài tập tình huống luật hình sự có đáp án
Bài 1:
A trộm cắp tài sản của B trị giá 100 triệu đồng. Hành vi của A cấu thành tội
trộm cắp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự và bị Tòa án
tuyên phạt 3 năm tù. Anh (chị) hãy xác định:
a. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự, loại tội mà A thực hiện thuộc loại
tội gì? Tại sao?(4 điểm)
b. Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp cấu thành tội phạm cơ bản, cấu
thành tội phạm tăng nặng hay cấu thành tội phạm giảm nhẹ? Tại sao? (3 điểm)
Trả lời
a. Loại tội mà A đã thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng
Giải thích:
Khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS) quy định:
3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà
mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm
nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của
khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là
tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt
đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội
phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình
phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Theo đó, các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi dấu hiệu về mặt nội
dung chính trị, xã hội (tính nguy hiểm cho xã hội) và dấu hiệu về mặt hậu quả
pháp lí (tính phải chịu phạt).
Xét về mặt nội dung chính trị, xã hội:
Xét về mặt nội dung chính trị, xã hội là xét về tính nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm. Nguy hiểm cho xã hội nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho
các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm
luật.
1
b. Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp cấu thành tội phạm (CTTP) tăng
nặng
Giải thích:
2
Trước hết, CTTP là tổng hợp các dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho một loại
tội phạm được quy định trong luật hình sự. Dựa theo tính chất và mức độ nguy
hiểm của tội phạm, luật hình sự phân CTTP thành: CTTP cơ bản ( là CTTP chỉ
bao gồm những dấu hiệu định tội); CTTP giảm nhẹ (là CTTP chứa những tình
tiết làm tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm giảm đi đáng kể); CTTP
tăng nặng (là CTTP ngoài dấu hiệu định tội còn chứa dấu hiệu khác làm tính
chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm tăng lên). Các tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự (TNHS) được quy định trong Điều 48 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009). Như vậy, dấu hiệu bắt buộc để phân loại CTTP cơ bản, tăng
nặng hay giảm nhẹ là các dấu hiệu định khung, vì khi thỏa mãn những dấu hiệu
đó sẽ cho phép chuyển khung hình phạt được áp dụng từ khung bình thường lên
khung tăng nặng hoặc xuống khung giảm nhẹ.
Xét trường hợp của A: A trộm cắp tài sản của B trị giá 100 triệu đồng. Hành vi
của A cấu thành tội trộm cắp theo khoản 2 Điều 138 BLHS và bị Tòa án tuyên
phạt ba năm tù.
Khoản 1 Điều 138 là CTTP cơ bản (vì chỉ bao gồm dấu hiệu định tội): “người
nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm
mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc
đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm
đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không
giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Tức là, nếu A trộm
cắp tài sản của B trị giá từ hai triệu đến dưới năm mươi triệu thì hành vi của A
sẽ thuộc trường hợp CTTP cơ bản. Tuy nhiên, hành vi của A lại cấu thành tội
trộm cắp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS, ngoài các tình tiết để
định tội là trộm cắp tài sản, A còn có thêm tình tiết tăng nặng là “chiếm đoạt tài
sản có giá trị từ năm mươi triệu đông đến dưới hai trăm triệu đồng” (cụ thể là
tất cả các hành vi khách quan được mô tả trong CTTP. Như vậy tội hiếp dâm chỉ
có thể được xác lập khi có hành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân đã
được thực hiện, tức là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại tới quan hệ xã hội
được luật hình sự bảo vệ đã xảy ra, hậu quả từ hành vi phạm tội đã phát sinh.
Hậu quả ở đây có thể là sức khỏe của nạn nhân, danh dự, nhân phẩm của nạn
nhân bị ảnh hưởng, thậm chí có thể là tính mạng của nạn nhân bị đe dọa gây
thiệt hại. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Hậu quả của hành
vi hiếp dâm không thể phát sinh khi hành vi giao cấu chưa được thực hiện và
ngược lại, khi hành vi giao cấu trái với ý muốn được thực hiện thì hậu quả cũng
phát sinh. Dấu hiệu hành vi và hậu quả trong tội hiếp dâm luôn là các yếu tố đi
4
kèm với nhau, không thể thiếu một trong hai yếu tố đó. Nếu thiếu một trong hai
yếu tố đó thì tội hiếp dâm không thể xác lập.
Trong trường hợp trên, A đã có hành vi dùng vũ lực để hiếp dâm chị H, dẫn đến
hậu quả nghiêm trọng là chị H uất ức mà tự sát.
b.Xác định tội hiếp dâm mà anh A thực hiện và bị xét xử thuộc loại tội phạm gì?
Tội phạm, hiểu theo nghĩa khái quát nhất là những hành vi nguy hiểm cho xã
hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt.
Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu như trên, nhưng những hành vi phạm tội cụ
thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất khác nhau. Do vậy, tại
khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự, tội phạm đã được phân thành bốn nhóm khác
nhau: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm
trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Sự phân thành bốn nhóm tội như vậy
vừa là biểu hiện cơ bản, vừa là cơ sở thống nhất nhất cho sự phân hóa trách
nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự. Đồng thời là cơ sở thống nhất cho việc xây
dựng các khung hình phạt cụ thể để áp dụng cho từng loại tội phạm xảy ra.
Căn cứ để phân loại tội phạm được thể hiện trong Khoản 3, Điều 8 BLHS năm
1999, là căn cứ phân loại tội phạm dựa vào mức độ của tính nguy hiểm cho xã
hội của hành vi phạm tội.
Tội hiếp dâm được các nhà làm luật ấn định tại Điều 111 của BLHS, thực tiễn
Một tên A ăn trộm chiếc sh sau đó mang tới gửi nhà B ( bạn thân) . B hỏi A xe ở
đâu mà ko mang về nhà. A bảo xe ăn trộm sau đó bảo B giữ hộ mai có người
mua rồi sẽ cho B tiền. Nói xong A đi về . tới trưa ngày hôm sau A tới lấy xe .
sau đó đến chiều mang cho B 5 tr, .
Vậy trong trường hợp này B phạm tội j?
Đồng phạm tội trộm xe hay tội che dấu tội phạm/?
Trả lời
1/ Về tội danh:
Tội phạm tại Điều 250 BLHS là một tội ghép, nó quy định hai hành vi khác
nhau là "chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có" và "tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có".
Hành vi chứa chấp là những hành vi như cất giữ, bảo quản
Hành vi tiêu thụ là những hành vi như mua để dùng, nhận để bán lại, giới thiệu
người khác mua, chuyển tài sản đo cho người khác theo yeu cầu của người
6
phạm tội
Vì vậy khi xác định tội danh, nếu người phạm tội thực hiện hành vi chứa chấp
thì định tội là "Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có"; nếu người
phạm tội thực hiện hành vi tiêu thụ thì định tội là "Tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có" chứ không định tội như tên gọi của điều luật là "Chứa
chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". Trường hợp người
phạm tội thực hiện cả hai hành vi chứa chấp và tiêu thụ thì định tội là "Chứa
chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
Ở trường hợp trên, B chỉ thực hiện hành vi cất giữ mà không thực hiện hành vi
tiêu thụ. Vì vậy tội danh của B là "Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội
mà có".
2/ Vì sao nó là chứa chấp
Tình tiết "không hứa hẹn trước" chỉ có giá trị để xác định B không đồng phạm
với A về tội "Trộm cắp tài sản". Còn nó cũng là dấu hiệu đặc trưng của cả tội
"Che giấu tội phạm", chứ không chỉ riêng tội "Chứa chấp hoặc tiêu thụ ". Và
nhân dân xã, huyện mà tổ chức của B, C, D đã có những hoạt động đặt mìn phá
trụ sở UBND xã, bao vây UBND xã, huyện, bắn chết một số cán bộ công an xã,
huyện.
Về mặt khách quan của tội phạm: “hành vi khách quan của tội phạm được đặc
trưng bởi hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân”(1). Trong tình huống này, B, C, D đã có những hành động cụ thể như
sau để có thể khẳng định hành vi của nhóm B, C, D có dấu hiệu của tội phạm
này:
Thứ nhất, hoạt động thành lập tổ chức để lật đổ chính quyền nhân dân, thể hiện
bằng một số hành vi cụ thể: B, C, D đã lôi kéo, tập hợp người vào tổ chức với
động cơ chống chính quyền nhân dân;
Thứ hai, đề ra chủ trương, đường lối hoạt động của tổ chức: trước hết B, C, D sẽ
liên hệ với nước ngoài để lấy vũ khí, sau đó có vũ khí trong tay tiến hành đặt
mìn phá trụ sở UBND xã; bao vây UBND xã, huyện và có hành vi xâm phạm
trực tiếp đến tính mạng của một số cán bộ công an xã, huyện mà tổ chức của B,
C, D bao vây.
8
Về mặt chủ quan của tội phạm: nhóm B, C, D đã cố ý thành lập tổ chức “Vì Dân
Chủ và Nhân Quyền” vì đã có động cơ từ trước là chống chính quyền và đã có
những hoạt động cụ thể để thực hiện hành vi của mình.
Hai, Tội bạo loạn (Điều 82 BLHS). Bởi lẽ: Về khách thể của tội phạm: hành vi
của B, C, D và tổ chức Vì Dân Chủ và Nhân Quyền đã xâm phạm đến sự an
toàn(sự vững mạnh) của chính quyền nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân.
Về mặt khách quan của tội phạm: trong tình huống trên, nhóm B, C, D đã có
những hoạt động cụ thể: tiến hành hoạt động vũ trang với việc tập hợp đông
người( là những thành phần bất mãn với chế độ và một số đối tượng khác) bao
vây trụ sở CQNN, lực lượng vũ trang nhân dân để đốt phá, gây nổ, tấn công các
CQNN(ở đây là trụ sở UBND xã, huyện), bắn giết cán bộ(giết một số cán bộ
công an xã, huyện).
Về mặt chủ quan của tội phạm: nhóm B, C, D thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực
những cán bộ công an xã, huyện, là những người tham gia trực tiếp vào các hoạt
động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, hoạt động này của nhóm B, C, D có mục
đích là nhằm chống chính quyền nhân dân, có thể nói đây là những hoạt động để
phục vụ cho động cơ trực tiếp và chủ yếu là nhằm chống chính quyền nhân dân,
là những hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống chính quyền được
diễn ra mà không có sự cản trở bởi bất cứ yếu tố nào.
Về mặt chủ quan của tội phạm: hành vi này của B, C, D được thực hiện với lỗi
cố ý trực tiếp, có nghĩa là B, C, D nhận thức được hành vi giết cán bộ công an
xã, huyện của mình có thể làm cho hoạt động của chính quyền lâm vào bế tắc vì
cán bộ cán cốt, nhân lực không đủ để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước,
quản lý xã hội nhưng vẫn mong muốn cho hậu quả xảy ra(vẫn tiến hành bao vây
trụ sở ủy ban, bắn chết một số cán bộ công an xã, huyện).
2. Theo quan điểm của anh, chị, hãy xác định tội danh của nhóm B, C, D và
phân tích rõ cơ sở để định tội cho nhóm B, C, D.
Căn cứ vào những tình tiết mà đề bài đưa ra cũng như đối chiếu với BLHS, thì
có thể khẳng định nhóm B, C, D đã phạm Tội hoạt động nhằm lật đổ chính
quyền nhân dân theo quy định tại Điều 79 BLHS. Bởi những lẽ sau đây:
Về mặt khách quan của tội phạm: B, C, D đã có hành vi thành lập tổ chức chống
chính quyền nhân dân theo quy định của BLHS “người nào hoạt động thành lập
hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì ” cụ thể là: B, C,
D đã lên vùng núi tập hợp một số thành phần bất mãn với chế độ XHCN đồng
thời mua chuộc một số đối tượng thanh niên nhẹ dạ cả tin để lập nên tổ chức Vì
10
Dân Chủ và Nhân Quyền. Ở đây, nhóm B, C, D đã có “những chủ trương,
đường lối hoạt động cho tổ chức chống chính quyền nhân dân chuẩn bị được
thành lập đó là: có các hành vi tuyên truyền, rủ rê người khác cùng đứng ra
thành lập tổ chức”(2) Vì Dân Chủ và Nhân Quyền( là hành vi đã tập hợp được
một số thành phần bất mãn với chế độ và mua chuộc được một số đối tượng nhẹ
dạ cả tin).
Hoạt động thành lập tổ chức chống chính quyền nhân dân mà B, C, D đã thực
chức với số lượng thành viên trên 50 người(có tổ chức chặt chẽ) và chính hành
vi gây niềm tin với nước ngoài đã chứng minh tổ chức này không chỉ dừng lại ở
việc nhằm làm suy yếu chính quyền nhân dân mà cao hơn thế nữa là nhằm lật
đổ chính quyền hay nói cách khác nhờ nước ngoài cung cấp cơ sở vật chất để có
đủ sức mạnh, tiềm lực làm thay đổi chế độ chính trị, kinh tế xã hội của đất nước.
Hơn nữa việc chống lại chính quyền nhân dân chỉ là động cơ còn mục đích rõ
ràng ở đây phải là nhằm lật đổ chính quyền nhân dân hay nói cách khác cái cuối
cùng mà tổ chức của B, C, D hướng tới ở đây là lật đổ được chính quyền nhân
dân.
Về khách thể của tội phạm: hành vi của nhóm B, C, D đã trực tiếp xâm phạm tới
sự tồn tại của chính quyền nhân dân (bao vây UBND và bắn chết một số cán bộ
nhằm làm cho BMNN không còn đủ cơ sở để duy trì hoạt động được).
Về chủ thể của tội phạm: trong tình huống trên chủ thể là B, C, D- là những
người đã đủ độ tuổi chịu TNHS và không bị mắc các bệnh làm mất khả năng
nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì mới có thể có khả năng thực hiện các hoạt
động: lôi kéo các thành phần bất mãn với chế độ; đặt mìn phá trụ sở; liên hệ qua
Internet với nước ngoài; bao vây trụ sở ủy ban và giết một số cán bộ nhà nước./.
Câu 1 : Phòng vệ quá muộn là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ?
Sai. Vì : Phòng vệ quá muộn là trường hợp 1 người có hành vi gây thiệt hại cho
người tấn công sau khi sự tấn công của người này đã kết thúc. Sự gây thiệt hại
này không đạt MĐ ngăn chặn sự tấn công nguy hiểm cho XH cho nên
khôngđược LHS nước ta thừa nhận là phòng vệ mà là TF bình thường. Cong
vượt quá gới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp 1 người có đủ cơ sở pháp
lý để phòng vệ, nhưng đã sử dụng phương pháp thủ đoạn phòng vệ quá mức cần
thiết, gây thiệt hại cho người tấn ccông 1 cách quá đáng trong trường hợp này
người phòng vệ phải chịu TNHS những được giảm nhẹ ĐB.
Câu 2 : Phòng vệj quá sớm là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ?
Sai.Vì : Phòng vệ quá sớm khi chưa có sự tấn công nguy hiểm hoặc sự tấn công
chưa có nguy cơ xãy ra ngay tức khắc mà 1 người đã gây thiệt hại cho người #,
bởi họ cho rằng người này sẽ tấn công mình. Trong trường hợp này chưa đủ cơ
chính.
Câu 8 : Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho XH trong trường hợp bị
cưỡng bức về tinh thần không phải chịu TNHS ?
Sai. vì người có hành vi gây thiệt hại cho XH trong trường hợp bị cưỡng chế về
tinh thần bị coi là có lỗi bởi vì không phải mọi trường hợp cưỡng chế về tinh
thần đều loại trừ khả năng ý chí do vậy vẫn phải chịu TNHS vì còn khả năng ý
chí
Câu 9 : Miễn TNHS trong trường hợp được quy định tại K 3 Đ 80 BLHSs là do
tự ý nữa chừng chấm dứt việc FT ?
13
Sai. Vì tự ý nữa chừng chấm dứt hành vi FT Đ19 là không chủ định thực hiện
TF do vậy họ không có hành vi chuẩn bị FT hơn nữa K3 Đ80(tyội ZĐ) không
đòi hỏi người FT hoàn toàn tự giác( tác là không có sự cản trở của nguyên nhân
khách quan) Đây là chính sách đối với những người HĐ ZĐ, rõ ràng bản chất
của việc miễn TNHS trong trường hợp này hoàn toàn # với trường hợp Đ19.
Câu 10 : dồng phạm phức tạp là FT có tổ chức ?
Sai.Vì 2 khái niệm này không đồng nhất, đồng phạm phức tạp là khái niệm rộng
hơn 1 tộ có tổ chức.
Câu 11 : Không chấp ahnh mệnh lênh của người thi hành công vu là FT chống
người thi hành công vụ ?
Sai. Vì theo Đ257 BLHS thì chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ
lực đe doạ, tức là TF được thực hiện = hành động. Do vậy trường hợp được nêu
là không hành động nên không phải FT này.
Câu 12 : Bàn bạc thoả thuận trước là dấu hiệu bắt buộc của đồng phạm ?
Sai. Vì theo LHS VN có 2 hình thức đồng phạm dựa vào dấu hiệu chủ quan,
đồng phạm được phân chia :
- Đồng phạm có thông mưu trước.
- Đồng phạm không có thông mưu trước.
Trong hình thức đồng phạm có thông mưu trước có sự bàn bạc thoả thuận trước
về việc cùng thực hiện TF giữa những người cùng FT còn trong đồng phạm
đường sắt đã không thực hiện nhiệm vụ của mình (do ngủ gật) song có người
phát hiện và bẻ ghi để 2 đoàn tàu không đâm vào nhau. Trong trường hợp này
mặc dù chưa có hạu quả(tai nạn) xảy ra nhưng người bẻ ghi vẫn phải bị truy cứu
trách nhiệm hinh sự theo K4 Đ202BLHS VN.
Câu 16 : Nếu người đưa hối lộ chủ động khái báo thì họ đước côi là không có
lỗi ?
Sai, vì căn cứ đoạn 2 K6 Đ289 BLHS VN thì trong trường hợp người đưa hối lộ
tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì vẫn
bị coi là có tội, nhưng có thể được miễn trách nhiệm HS.
Câu 17: Người chuẩn bị FT chiếm đoạt chất phóng xạ phải chịu TNHS trong
mọi trường hợp ?
Sai, vì căn cứ K3 Đ8 BLHS VN về tội ít nghiêm Ọ, nghiêm Ọ, rất nghiêmỌ,
ĐB nghiêm Ọ và căn cứ vào K1 Đ17 BLHS VN về TNHS đối với người chuẩn
bị FT thì : Nếu người chuẩn bin FT chiếm đoạt chất phóng xạ thuộc K1 Đ236
thì không phải chịu TNHS vì đây là tội nghiêm Ọ có mức cao nhất khung hình
phạt là 07 năm tù.
Câu 18 : Hành vi chuẩn bị FT chữa mại dâm luôn phải chịu TNHS ?
Sai, vì căn cứ K3 Đ8 BLHS VN về tội ít nghiêm Ọ, nghiêm Ọ, rất nghiêm Ọ,
ĐB nghiêm Ọ và căn cứ vào K1 Đ17 BLHS VN về TNHS đối với người chuẩn
bị FT thì : Nếu người FT chứa mại dâm thuộc K1 Đ254 thì không phải chịu
TNHS vì đây là tội nghiêm Ọ có mức cao nhất của khung hình phạt là 7 năm tù.
Câu 19 : Người có hành vi giúp sức ở dạng ‘hứa hẹn trước’ phải chịu TNHS
ngay cả khi lời hứa đó không đước thức hiện ?
Đúng,vì Luật hình sự không đòi hỏi lời hứa hẹn trước của người giúp sức phải
đước thức hiện, bởi lẻ chính lời hứa hẹn của người giúp sức đã cũng cố ý định
15
FT, cũng cố quyết tâm FT or quyết tâm FT đến cùng của người trức tiếp thừc
hiệ TF.
Câu 20 : Không phải mọi trường hợp chuẩn bị FT hiếp dâm đểu phải chịu
TNHS ?
15/3/1976 or sắc lệnh số 150/ SL ngày 12/4/1953 trừng trị bọn địa chủ cường
16
hào ngoan cố or là 1 BLHS VN hoàn chỉnh.
BLHS VN chỉ là 1 hình thức cụ thể của đạo luật HS và là hình thức hoàn thiện
nhất. Như vậy khái niệm đạo luật hình sự rộng hơn khái niệm BLHS VN.
Câu 25 : việc phân biệt giữa lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp trong khi AD
luật HS chỉ có ý nghĩa đối với việc QĐ hình phạt mà không có ý nghĩa đối với
việc định tội ?
Sai, vì khi AD luật HS lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp không phải chỉ có ý
nghĩa đối với việc QĐ hình phạt mà còn có ý nghĩa đối với việc định tội. Ví
dụ :Tội bức tử(Đ100 BLHS VN) nếu người FT với lỗi cố ý gián tiếp làm nạn
nhân xử tự sát thì xử theo Đ100 BLHS VN. Nếu người FT có lỗi cố ý trực tiếp
đối với hậu quả làm nạn nhân chết thì sẽ bị xử lý theo Đ93 BLHS VN.
Câu 26 : Khi AD luật HS chỉ phải xác định hậu quả của TF nếu như tôi đó là tội
có cấu thành TF vật chất ?
Sai, vì trong mọi trường hợp khi AD luật HS đèu phải xác địng hậu quả của
hành vi người FT để định tội hoặc định hình phạt, chứ không phải cấu thành TF
vật chất mới xác định hậu quả của TF.
Câu 27: Cơ sở duy nhất của việc quy định độ tuổi của Đ 12 BLHS VN : độ tuổi
là điều kiện để có năng lực TNHS ?
Sai, vì ngoài cơ sở độ tuổi quy định tại Đ12 BLHS VN là điều kiện để có năng
lực TNHS còn có các cơ sở sau :
-về chính sách hình sự : chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước ta đối với
người chưa thành niên.
- y/c đấu tranh chống vàphòng ngừa TF trong từng thời điềm giai đoạn nhất
định.
Câu 28 : Người bị mắc bệnh tâm thần luôn không phải chịu TNHS ?
Sai,vì người bị mắc bệnh tâm thần ở dạng nhẹ mà năng lực nhận thức vẫn còn
và họ có khả năng điều khiển hành vi của họ, tuy khả năng nhận thức và khả
năng điều khiển hành vi bị hạn chế, nếu có hành vi FT thì vẫn có thể truy cứu
đó. ví dụ : hành vi giết người gây thiệt hại cho nhiều QHXH như quan hệ giữa
nạn nhân với gia đình, giữa nạn nhân với cơ quan nơi người đó làm việc, quyền
sống , quyền được tôn trọng bảo vệ của người đó. Trong tội giết người quy định
tại Đ3 BLHS VN khách thể trực tiếp chính là quyền sống quyền được tôn trọng
và bảo vệ tính mạng.
Câu 33 : Người giúp sức ở dạng « hứa hẹn trước » chỉ phải chịu TNHS trong
trường hợp họ đã thực hiện lời hứa hẹn đó ?
Sai, vì người giúp sức ở dạng hứa hẹn trước mặc dù họ chưa thực hiện lời hứa
hẹn trước nhưng vẫn phải chịu TNHS bởi lẽ lời hứa hẹn trước đó đã làm cho
người phạm tội vững tâm về tư tưởng để họ thực hiện TF. VD :A hứa với C tới
giờ hẹn sẽ đi xe tới chở tài sản mà C trộm cắp được nhưng đến giờ hẹn A không
đến mà C đã thực hiện xong hành vi của mình thì A vẫn bị truy cứu TNHS.
Câu 34 : Hành vi tấn công – cơ sở của phòng vệ chính đáng luôn là một TF ?
Sai, vì hành vi tấn công là cơ sở của phòng vệ chính đáng phải có tính nguy
hiểm đáng kể cho xã hội, có thể có dấu hiệu cấu thành TF, nhưng luật hình sự
không bắt buộc phải như vậy. bởi thực tế có những hành vi nguy hiểm cho xã
hội không phải là TF. VD : Hành vi người điên dùng dao tấn công người # là cơ
18
sở của phòng vệ chính đáng và hành vi này không phải là hành vi của TF.
Câu 35 : Người không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho XH của hành vi của
mình không phải chịu TNHS ?
Sai, vì trong trường hợp họ tuy không thấy trước hậu quả cho XH của hành vi
của mình nhưng họ buộc phải thấy trước hậu quả đó. Đây là trường hợp phạm
tội với lỗi vô ý cẩu thả. VD : Y tá do cẩu thả đã phát thuốc nhằm cho bệnh nhân
uống. Trong trường hợp người y tá tuy không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho
XH của hành vi của mình nhưng với nghề y tá buộc họ phải thấy trước và có
dấu hiệu chuyên môn để thấy trước là bệnh nhân uống nhằm thuốc sẽ dẫn đến
hậu quả nguy hiểm. Người y tá phải chịu TNHS với vô ý cẩu thả.
Câu 36 : Người say rượu phạm tội luôn phải chịu TNHS ?
Sai, vì nếu người say rượu bệnh lý « người phạm tội bị mắc 1 chứng bệnh vì
yếu tố ý chí và lý trí. Từ 2 yếu tố tâm lý # nhau của can phạm đối với hành vi
nguy hiểm của mình cũng như khả năng thấy trước và khuynh hướng ý chí đối
với hậu quả mong muốn có xảy ra hay không.
Câu 41: Gây thiệt hại trong trường hợp bị cưỡng bức về thân thể không thể chịu
TNHS vì họ bị uy hiếp về tinh thần ?
Sai, vì cưỡng bức về thân thể là trường hợp dùng sức mạnh bạo lực vật chất tác
động lên cơ thể khiếng người này không thể hoạt động theo ý muốn của mình
được. Như vậy trường hợp bị cưỡng bức về thân thể không phải chịu TNHS,
không phải vì họ uy hiếp về tinh thần mà vì biểu hiện nguy hại họ không phải là
hành vi phạm tội.
Câu 42 : Đạo luật hình sự là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật VN có
đ/t điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng ?
Sai, vì đạo luật hình sự là văn bản pháp luật do cơ quan quyền luật tối cao của
Nhà nước ban hành qui định TF và hình phạt đồng thời quy định nguyên tắc
chung của luật HS VN. Luật HS là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật
của Nhà nước bao gồm hệ thống pháp luật do nhà nước ban hành, qui định
những hành vi nguy hiểm cho XH là TF, đồng thời qui định những hình phạt đối
với TF ấy.
Câu 43 : Giết người = phương pháp có khả năng làm chết nhiều người là trường
hợp phạm tội phải có hậu quả nhiều người chết, kẻ phạm tội mới bị xử lý theo
điểm 1 K1 Đ 93 BLHS VN ?
Sai, vì Luật hình sự không đòi hỏi giết người = phương pháp có khả năng làm
chết nhiều người có hậu quả nhiều người chết. VD : A thù tức C định giết C, A
đã ném lựu đạn vào nhà C trong lúc C và vợ con đang ăn cơm lựu đạn không nổ
C và mọi người không chết nhưng A vẫn bị xử lý về trường hợp giết người =
phương pháp có khả năng làm chết nhiều người « Điểm 1 K1 Đ 93 BLHS VN »
Câu 44 : Không phải mọi hành vi không hành động phạm tội điều cấu thành tội
phạm vật chất ?
Đúng, vì không hành động phạm tội có thể cấu thành TF vật chất hoặc ở cấu
thành TF hình thức. VD : Không tố giác TF « điều 134 BLHS VN » là cấu thành
ý trực tiếp giữa tội giết người chưa thành đạt và tội cố ý gây thương tích.
Câu 52 : Mọi hành vi gây chết người với lỗi cố ý đêu bị xét xử theo Đ93 BLHS
về tôic giết người ?
Sai.Vì mỗi hành vi giết người do lỗi cố ý cụ thể bị xét xưe theo điều luật # nhau,
ngoài quy định tại Đ 93 có thể xử người FT theo các điều luật sau đây :
- AD dụng Đ 84 BLHS( tội khủng bố) nếu can phạm có MĐ chống chính quyền
nhân dân và xâm phạm đến tính mậng người #
- AD Đ 96 BLHS nếu trong khi thực hiện quyền phòng vệ đã vượt quá giới hạn
làm chết người tấn công mà hậu quả giết người là quá đáng.
21
- Ad Đ97 BLHS Nếu người vi phạm là người đang thi hành công vụ và gây chết
người trong lúc dang làm nhiệm vụ.
- AD Đ104 BLHS nếu người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho người
# mà hậu quả xãy ra làm chết người.
Câu 53 : Mọi hành vi làm chết người với lỗi vô ý đều bị xử lý theo Đ 98 BLHS
hay nói cách # Đ 98 BLHS là điều luật AD cho mọi trường hợp vô ý làm chết
người ?
Sai. Vì làm chết người với lỗi vô ý có thể bị xử theo nhiều điều luật # nhau
thuộc các chương # nhau : Nếu là do vi phạm các nguyên tắc an toàn giao thông
thì AD Đ202 BLHS, Nếu do vi phạm các quy định về an toàn bảo hộ lao động
thì AD Đ 227 BLHS, Nếu vi phạm các quy định về XD AD Đ229 BLHS, Nếu
vô ý làm chết người do vi phạm các quy định vè quản lý vũ khí, phương tiên kỹ
thuật, chất cháy ,chất nổ, chất độc, chất phóng xạ hoặc do thiếu trách nhiệm
trong việc quản lý vũ khí thì AD Đ235 hoặc 239 BLHS, Nếu do vi phạm các
quy định về chữa bệnh, điều chế thuốc, bán thuốc thì AD Đ 242 BLHS, Nếu do
vi phạm các quy định về vệ sinh thực phẩm thì AD Đ244 BLHS. Chỉ AD Đ 98
để xử lý đối với các hành vi vô ý làm chết người các trường hợp chưa được quy
định theo các điều luật trên. Ví dụ : Cẩu thả trong việc sử dụng điện trong việc
làm chết người, phá thai trái phép gây chết người.
Câu 54 : Mọi hành vi bắt trộm trẻ em đều cấu thành TF được quy định tại Đ120
Câu 59 : Mọi hành vi lừa đão nhằm chiếm đoạt TS công dân đều cấu thành tôi
lừa đão chiếm đoạt TS CD được quy định tại Đ159 BLHS ?
Sai.Vì nếu hành vi thủ đoạn lợi dụng chức vụ quyền hạn thì xử lý theo K2 Đ140
về tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt TS CD.
Câu 60 :Hành vi chiếm đoạt TS sau khi nhận TS 1 cách ngay thẳnghợp pháp là
hành vi cấu thành tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt TS được quy định tại Đ 140
BLHS ?
Sai. Vì : Hành vi chiếm đoạt TS XHCN mà do người có chức vụ quyền hạn thực
hiện và người này có trách nhiệm quản lý TS thì cấu thành tội tham ô tại Đ278.
Trong TF tham ô TS thì TS XHSN cũng được giao cho người có chức vụ quyền
hạn 1 cchs ngay thẳng hợp pháp để quản lý.
Câu 61 : Hành vi nạo thai trái phép gây hậu quả chết người là hành vi bị xét xử
theo điều242 BLHS ?
Sai. Vì nạo thai trái phép không phải là hành vi cchwã bệnh trái phép (Nghị
qytết 04/86 HĐTQ). Hành vi này phải được xét xử theo Đ 106 BLHS mới đúng.
Câu 62 : Mọi hành vi chiếm đoạt TS XHCN đều bị xét xử 1 trong các tội xâm
phạm sở hữu được quy định tại chương 14 phần các TF BLHS ?
Sai.Vì nếu TS XHCN bị chiếm đoạt là thiết bị của các công trình quan trọng với
ANQG thì hành vi này cấu thành TF ở Đ 231BLHS . Nếu TS chiếm đoạt không
đáng kể nhưng gây ảnh hưởng đến SX kinh doanh thì AD Đ143 BLHS. Nếu
chiếm đoạt TS XHCN có MĐ chống chính quyền nhân dân và có sự chỉ đạo của
nước ngoài thì cấu thành tôi ZĐ Đ80 BLHS.
23
Câu 63 : Các TF được quy định tại chương 19 phần các TF BLHS đều là TF về
chức vụ ?
Sai. Vì các tội quy định ở Đ 289,291 được thực hiện bởi các công dân bình
thường, tuy rằng nó xâm phạm đến HĐ bình thường của CQ nhà nước, tổ chức
XH nhưng bản chất không phải là TF về chức vụ vì chủ thể không hề lợi dụng
chức vụ quyền hạn để thực hiện TF.
Câu 64 : Mọi trường hợp chống người thi hành công vụ đều cấu thành TF được
24
Câu 70 : Người thực hành đồng phạm phải là người thực hiện toàn bộ hành vi
khách quan của TF ?
Sai. Vì thực tiễn và lý luận thừa nhận có 2 loại người thực hành : người tự mình
và người không tự mình thực hiện hành vi khách quan của TF. Nếu loại người
thứ 2 thì rõ ràng người thực hành không thực hiện hành vi khách quan của TF.
Câu 71 : Chhỉ cấu thành tội bức tử khi nạn nhân chết.
Sai. Vì chi cần người bị bức tử có hnàh vi tự sát chứ không đòi hỏi có chết
người. LHS không quy định thiệt hại tính mạng là dấu hiệu bắt buộc.
Câu 72 : Mọi hành vi đe doạ dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt TS công dân đều cấu
thành tội cướp TS công dân ?
Sai. Vì đe doạ dùng vũ lực chiếm đoạt TS CD ngoải Đ 151(133) còn có thể bị
xét xử theo Đ153(135) về tội cưỡng đoạt TS khi sự đe doạ không có tính ngay
tức khắc. Nếu lợi dụng chức vụ quyền hạn đe doạ dùng vũ lực thì AD
Đ156(280).
Câu 73 : Mọi trường hợp giao cấu với người dưới 16 tuổi đều CTTP ?
Sai. Vì theo Đ114,115 thì chủ thể phải là người đã thành niên (tức đạt 18 tuổi
trở lên). Nếu hành vi đó do người dưới 18 tuổi thực hiện mà không có yếu tố
mua dâm thì không có tội.
Câu 74 : Người đưa hối lộ chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì coi là
không có tội ?
Sai. Vì theo K5 đoạn 1 Đ227 ( 289) BLHS thì chỉ coi là không có tội khi người
đưa hối lộ bị ép buộc mà tự giác khai báo trước khi bị phát giác.
Câu 75 : Một người vận chuyển 5 kg thuốc phiện bán ra biên giới quốc gia là
phạm 2 điều 97 (156)và 185(194) đúng hay sai ?
Sai. Chỉ phạm vào Đ 194 theo điểm đ K2. Chỉ AD Đ185 (201) theo hướng dẫn
tại các thông tư liên nghành số ra ngày 30/3/1993, sôd 14 ngày 5/2/1995 và
thông tư liên tịch số 01 ngày 2/1/1998 chỉ xét xử 1 tội
Câu 76 : Nhanh chóng tẩu thoát là dấu hiệu bắt buộc của tôi cướp giật ?
Sai. Vì không pahi mọi trường hợp kẻ cướp giật đều phải thực hiện hành vi này.