Nghiên cứu và thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy giấy - Pdf 28

Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
LỜI CẢM ƠN
Em chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Minh Đức đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn
thành đồ án môn học. Thầy đã cung cấp cho em nhiều tài liệu hữu ích, sách tham
khảo, đặc biệt là cách sử dụng các tiêu chuẩn trong thiết kế, cách thu thập các số
liệu cần thiết cần thiết cho việc tính toán. Qua đồ án này, em được trang bị những
kiến thức chuyên ngành phục vụ cho công việc sau này, cho em có được sự liên hệ
giữa lý thuyết được học và áp dụng ngoài thực tế. Trong quá trình giảng dạy thầy
thường xuyên cung cấp cho chúng em những kiến thức ngoài thực tế mà thấy có
được trong quá trình làm việc, có sự so sánh giữa các phương án sao cho đạt hiệu
quả cao nhất với chi phí bỏ ra là ít nhất phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Qua
việc làm đồ án giúp em rèn luyện được nhiều kỹ năng tự nghiên cứu, kỹ năng đọc
tài liệu, tính cẩn thận, có trách nhiệm với công việc mình đang làm, tăng khả năng
làm việc nhóm và phải làm theo đúng thời hạn quy định. Đây là những kết quả mà
em cảm thấy mình thu được sau đợt làm đồ án này. Tuy em đã hết sức cố gắng để
làm đồ án và hoàn thành đồ án nhưng do kiến thức còn hạn chế, thời gian làm đồ án
không nhiều nên không tránh khỏi sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của
thầy cô để bài đồ án của em hoàn chỉnh hơn. Một lần nữa em xin cảm ơn thầy
Nguyễn Minh Đức đã tận tình hướng dẫn em. Em chúc thầy mạnh khỏe, công tác
tốt!
Em xin chân thành cảm ơn!
SVTH: PHẠM THỊ HIỀN 1 MSSV: 09510900504
Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, công nghiệp sản xuất giấy chiếm vị trí khá quan trọng trong nền kinh
tế nước ta. Cùng với sự phát triển của các nghành công nghiệp, dịch vụ khác, nhu
cầu về các sản phẩm giấy ngày càng tăng. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đạt
được to lớn về kinh tế – xã hội, nghành công nghiệp này cũng phát sinh nhiều vấn
đề môi trường bức xúc cần phải giải quyết, đặc biệt là nước thải phát sinh trong quá
trình sản xuất bột giấy, đây là loại nước rất khó xử lý. Cần có biện pháp xây dựng
các cơ sở gắn sản xuất với xử lý ô nhiễm môi trường, đổi mới công nghệ theo

cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ tài nguyên và
môi trường trong tương lai lâu dài, vì đó là sự sống còn của chính chúng ta và con
cháu sau này. Chính vì vậy cần phải xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường.
Tên đề tài: Nghiên cứu và thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy giấy.
Mục đích của đề tài:
+ Mục đích đào tạo:
Việc nghiên cứu, tham khảo tài liệu nhằm củng cố các kiến thức đã học trong
trường đồng thời có thể bổ sung một số kiến thức mới có liên quan đến đồ án, giúp
sinh viên từng bước làm quen với vấn đề thực tế, vận dụng các kiến thức đã học vào
thực tế, nâng cao kỹ năng tính toán.
+ Mục đích chuyên môn:
Trong quá trình thực hiện đồ án, sinh viên nâng cao được kỹ năng chuyên môn,
kỹ năng phân tích tổng hợp sử dụng tài liệu từ đó giúp ích cho quá trình công tác
sau này.
Phương pháp nghiên cứu
+ Thu thập số liệu:
Các dữ liệu về điều kiện tự nhiên: địa chất, địa hình, địa mạo, khí tượng thủy văn.
Các số liệu về số lượng và chất lượng nước thải.
+ Tổng hợp và phân tích thông tin.
+ Phương pháp thiết kế:
Áp dụng các biện pháp và kỹ thuật thiết kế hệ thống xử lý nước theo các tiêu
chuẩn hiện hành: TCXDVN 51:2008: thoát nước-mạng lưới và công trình bên
ngoài.
QCVN 24:2008/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công
nghiệp. QCVN 12:2008/BTNMT- Quy chuẩn quốc gia về nước thải công nghiệp
giấy và bột giấy.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu xử lý nước thải nhà máy sản xuất
giấy.
SVTH: PHẠM THỊ HIỀN 3 MSSV: 09510900504
Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức

suất nhỏ thì giá thành sản phẩm sẽ cao, khó có thể cạnh tranh được với sản phẩm
của các công ty lớn, nhất là các công ty nước ngoài có trình độ công nghệ cao.
Không những thế hầu hết các thiết bị của ngành đã trở nên cũ kỹ và lạc hậu nên
mức tiêu hao nguyên liệu cao, do vậy đã tăng cao giá thành sản phẩm và giảm tính
cạnh tranh. Một thực trạng nữa của ngành Giấy và Bột giấy là sự mất cân đối giữa
sản xuất giấy và bột giấy. Hàng năm, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 70.000- 80.000
tấn bột giấy các loại. Điều này dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp của sản phẩm giấy
cả về chất lượng, chủng loại và đặc biệt là giá cả do phải chịu mức thuế nhập khẩu
và kiểm soát nhập khẩu. Các nhà máy sản xuất giấy và bột giấy ở Việt Nam được
chia ra làm 4 loại sau đây:
- Hiện đại: có 2 doanh nghiệp, chiếm 50% sản lượng bột giấy và 36.1% sản
lượng giấy cả nước.
SVTH: PHẠM THỊ HIỀN 5 MSSV: 09510900504
Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
- Trung bình: có 4 doanh nghiệp, chiếm 23.7 % sản lượng giấy toàn ngành.
- Dưới mức trung bình: Số lượng các nhà máy trong nhóm này là cao nhất. Các
nhà máy này hầu hết nhập khẩu thiết bị từ các nước trong khu vực như Trung Quốc,
Đài Loan; bởi vậy, công nghệ của các nhà máy này thường lỗi thời thường là những
công nghệ sản xuất của vài chục năm về trước. Sản lượng của nhóm nhà máy này
chiếm 32.5% sản lượng bột giấy và 22.0% sản lượng giấy của toàn ngành.
- Sản xuất theo phương pháp truyền thống: Các cơ sở sản xuất này thường sản
xuất theo công nghệ lỗi thời với các thiết bị sản xuất tự thiết kế. Mặc dù số lượng
các cơ sở sản xuất dạng này rất lớn, nhưng sản lượng của nhóm này rất nhỏ, thấp
hơn 1000 tấn/ năm. Bởi vậy, nhóm này chỉ sản xuất khoảng 3% sản lượng bột giấy
và 15% sản lượng giấy của toàn ngành.
Hiện nay, ngành giấy ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn:
Thiết bị cũ và lạc hậu chiếm hầu hết ở các đơn vị nhỏ, vừa : chiếm hơn 98% số
lượng đơn vị và 66% năng lực sản xuất, công nghệ cũ gây ô nhiễm cao.
Chi phí vốn đầu tư lớn : 1800- 2200 USD/tấn bột giấy từ cây nguyên liệu và
1000- 1200 USD/tấn giấy từ bột giấy.

khẩu. Đây là nguyên liệu có giá rẻ, dễ sử dụng, thích hợp cho mọi doanh nghiệp. Sử
dụng giấy loại với giá thành sản xuất hạ và giảm được đầu tư phần nấu bột. Điều rất
quan trọng là sử dụng giấy loại để sản xuất giấy có ý nghĩa trong việc phòng ngừa
và giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong sản xuất.
- Bột giấy nguyên sinh: đây là nguồn nguyên liệu không thể thiếu được trong
sản xuất giấy ở Việt Nam, chủ yếu được nhập khẩu do nguồn bột sản xuất trong
nước không đủ cung cấp cho nhu cầu, một lý do nữa cũng rất quan trọng đó là một
số sản phẩm giấy yêu cầu chất lượng cần phải sử dụng từ 10 - 100% bột nguyên
sinh. Ở Việt Nam hiện nay chỉ có hai doanh nghiệp có khả năng sản xuất bột giấy
nguyên sinh đạt chất lượng thương phẩm tương đương nhập khẩu là công ty Giấy
Bãi Bằng và Công ty Giấy Tân Mai.
3. Phương pháp sản xuất bột giấy
Các phương pháp sản xuất giấy được áp dụng thay đổi phụ thuộc vào các
lọai nguyên liệu thô đặc trưng, các thiết bị sản xuất, yêu cầu chất lượng của sản
phẩm giấy. Ở Việt Nam có những phương pháp sản xuất bột giấy:
- Phương pháp bột kiềm: đây là phương pháp được các nhà máy sử dụng nhiều
nhất và cũng là nguồn ô nhiễm lớn nhất của ngành công nghiệp giấy và bột giấy
Việt Nam, do công nghệ lạc hậu, dung dịch nấu thường thải ra mà không thu hồi và
xử lý. Phương pháp này nấu bằng NaOH dưới nhiệt độ cao.
SVTH: PHẠM THỊ HIỀN 7 MSSV: 09510900504
Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
- Phương pháp bột hóa học soda lạnh: Phương pháp này cũng gây ô nhiễm môi
trường cao do công nghệ lạc hậu, dung dịch nấu không được thu hồi, xử lý. Nguyên
liệu thô chủ yếu là tre. Phương pháp này nấu bằng NaOH dước nhiệt độ bình
thường.
- Bột hóa nhiệt cơ : Hỗn hợp của nấu và nghiền hóa học để tách cellulose và sợi
hemi-cellulose. Tỷ lệ tacshh cellulose và sợi hemi-cellulose cao. Thu hồi và xử lý
dịch nấu thải ra là một vấn đề cần quan tâm.
- Bột Kraft: Phương pháp này chỉ có nhà máy giấy Bãi Bằng-nhà máy lớn nhất
Việt Nam áp dụng. Đây là phương pháp sản xuất chính ở các nước phát triển.

Thiết bị làm sạch bột: Một quy trình tẩy trắng điển hình cho bột giấy Kraft
thông qua nhiều tháp trong đó bột được trộn với các hoá chất khác nhau. Giữa các
công đoạn, hoá chất bị loại bỏ và bột giấy được rửa sạch.
Tinh chế: Bột giấy đi qua các đĩa quay của thiết bị tinh chế dạng đĩa. Hoạt
động cơ học của thiết bị tinh chế đánh tơi lớp vỏ tế bào sợi, khiến sợi trở nên mềm
và dai hơn. Khâu tinh chế này quyết định chất lượng giấy. Quá trình tinh chế mang
lại cho giấy những đặc tính đáp ứng được nhu cầu sử dụng của từng loại giấy khác
nhau.
Tạo hình: Sau đó giấy được hồ hay nhuộm màu để thoả mãn các thông số
cần thiết. Quá trình hồ giấy nhằm làm tăng độ mịn và khả năng in ấn cho giấy; còn
ở khâu nhuộm màu, bột màu, thuốc nhuộm hay chất phụ gia cho giấy được bổ
sung. Khâu tiếp theo là tạo hình cho tờ giấy, hay hình thành băng giấy. Khâu tạo
hình cho tờ giấy bắt đầu từ thùng đầu, tại đây xơ sợi ướt được trải thành lớp trên
một mặt lưới chuyển động.
Ép: Băng giấy được sấy khô khi bị ép qua các trục của ống cán.
Sấy khô: Phần lớn lượng nước còn lại trong băng giấy sẽ bị loại bỏ khi băng
giấy đi qua các trục hơi quá nhiệt
Cán láng: Khâu cuối cùng trong quy trình sản xuất giấy là cán láng. Công
đoạn này được hoàn tất nhờ một loạt các trục cán được sắp xếp cẩn thận để kiểm
soát độ dày và độ nhẵn của giấy thành phẩm.
Cuộn giấy: Các bước cuối trong quy trình gia công giấy là cắt các cuộn giấy
lớn thành tờ. Cụ thể là, giấy được cuốn thành cuộn lớn, sau đó xẻ dọc khổ giấy lớn
sang khổ nhỏ hơn theo yêu cầu, cắt thành từng tờ, xén tỉa và đóng gói.
SVTH: PHẠM THỊ HIỀN 9 MSSV: 09510900504
Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
5. Tính chất nước thải từ ngành công nghiệp giấy và bột giấy ở Việt Nam
Công nghiệp giấy là ngành sử dụng một lượng lớn nước trong quá trình sản
xuất. Tuỳ theo từng công nghệ và sản phẩm, lượng nước thải tính trên mỗi sản
phẩm giấy có thể khác nhau, từ 200 đến 500 m
3

biện pháp để hạn chế lượng nước và giảm lượng chất ô nhiễm trong nước thải nhà
máy giấy.
6.1 Các biện pháp làm giảm lượng nước thải
Bảo quản và làm sạch nguyên liệu đầu vào bằng phương pháp khô sẽ giảm
được lượng nước rửa.
Dùng súng phun tia để rửa máy móc, thiết bị, sàn… sẽ giảm được lượng nước
đáng kể so với rửa bằng vôi.
Thay đổi công nghệ tách dịch đen ra khỏi bột ở thiết bị hình trống thông thường
bằng ép vít thải, ép hai dây hay lọc chân không để giảm thể tích dòng thải.
Bảo toàn hơi và nước, tránh thất thoát hơi, chảy tràn nước.
Phân luồng các dòng thải để tuần hoàn sử dụng lại các nguồn nước ít ô nhiễm.
6.2 Các biện pháp làm giảm tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải
Tách dịch đen đậm đặc ban đầu từ lưới gạn bột giấy và tuần hoàn chúng lại nồi
nấu đến khả năng có thể giảm tải lượng kiềm trong dòng thải.
Thu hồi hoá chất từ dịch đen bằng công nghệ cô đặc - đốt - xút hoá sẽ giảm
lượng ô nhiễm COD tới 85%.
Xử lý dịch đen bằng phương pháp kị khí sẽ giảm tải lượng ô nhiễm hữu cơ từ
30 đến 40%.
Thay thế hoá chất tẩy thông thường là Clo và hợp chất của clo bằng H2O2 và
O3 để hạn chế Clo tự do không tạo ra AOX trong dòng thải.
Thu hồi bột giấy và xơ từ các dòng thải để sử dụng lại như nguồn nguyên liệu
ban đầu, đặc biệt đối với dòng thải từ công đoạn nghiền và xeo giấy.
Tránh rơi vãi, tổn thất hoá chất trong khi pha trộn và sử dụng.
SVTH: PHẠM THỊ HIỀN 11 MSSV: 09510900504
Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
CHƯƠNG II: THIẾT KẾ, TÍNH TOÁN CÁC CÔNG TRÌNH TRONG
DÂY CHUYỀN XỬ LÝ NƯỚC THẢI NHÀ MÁY
1. Đánh giá nước thải và lựa chọn dây chuyền công nghệ
2. Lựa chọn phương pháp xử lý nước thải nhà máy giấy
Để xử lý nước thải nhà máy giấy có thể sử dụng các phương pháp: cơ học, hóa

1 nhiệt độ 25 0.9 1.1
2 pH 8.1 5,5-9 0.9 1.1 5,5-9 Đạt
3 BOD5 mg/l 790 50 0.9 1.1 49.5 Xử lý
4 COD mg/l 1,106 200 0.9 1.1 198 Xử lý
5 TSS mg/l 445 100 0.9 1.1 99 Xử lý
6 T-N mg/l 57 30 0.9 1.1 29.7 Xử lý
7 T-P mg/l 4 6 0.9 1.1 5.94 Đạt
8 Colifom MPL/100ml 2,900 5,000 0.9 1.1 4,950 Đạt
Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
các Vi sinh vật không thể sinh trưởng được và có thể chết. Như vậy, không thể tiến
hành xử lý sinh học. Nếu nồng độ chúng nhỏ hơn giới hạn sẽ hạn chế tốc độ làm sạch
của nước, nếu nước thải chứa nhiều chất độc thì tính toán theo chất độc nhất.
+ Trong nước thải nhà máy giấy có hàm lượng chất cacbonhydrat cao, là chất
dễ phân hủy sinh học, chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình xử lý sinh học nước
thải là N, P. Trong nước thải nhà máy giấy có hàm lượng N=57 mg/l và P=4 mg/l
nếu thiếu chất dinh dưỡng cần bổ sung thêm đảm bảo tỷ lệ cho quá trình yếm khí
BOD5 : N : P = 100 : 5 : 1; đối với quá trình kị khí BOD5 : N : P = 100 : 3 : 0,5.
Trong nước thải nhà máy giấy và bột giấy có tải lượng ô nhiễm chất hữu cơ
cao, đặc biệt có chứa hàm lượng các chất lignin cao ở dòng thải của xí nghiệp. Các
hợp chất lignin là những chất không có khả năng phân huỷ hiếu khí và đối với phân
huỷ kị khí cũng xảy ra rất chậm. Do đó trước khi đưa nước thải vào sử lý sinh học
thì dịch đen của quá trình sản xuất bột giấy cần được sử lý cục bộ để tách lignin.
Phương pháp này có ưu điểm:
- Áp dụng công nghệ sinh học trong xử lý nước thải là vô cùng quan trọng
trong đời sống. Vừa mang lại lợi ích cho kinh tế, vừa mang lại lợi ích cho xã hội lẫn
môi trường do không sử dụng hóa chất.
- Ứng dụng sinh học như một vòng tuần hoàn tự nhiên khép kín, xử lý chất thải
hiệu quả mà không mang lại ảnh hưởng xấu hoặc biến đổi bất lợi khác cho môi
trường. Chất lượng nước đầu ra sạch hơn và có tính chất như nước tự nhiên.11
- Công nghệ sinh học là công cụ xử lý triệt để và chủ động trên thành phần và

Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
Nước thải của nhà sản xuất giấy được thu vào hố thu gom rồi bơm lên ngăn tiếp
nhận theo đường ống có áp. Ngăn tiếp nhận nước thải được bố trí ở vị trí cao để từ
đó nước thải có thể tự chảy qua các công trình của trạm xử lý.
Kích thước ngăn tiếp nhận phụ thuộc lưu lượng nước thải của nhà máy. Kích
thước ngăn tiếp nhận được tra theo phụ lục 3 giáo trình “ xử lý nước thải đô thị”-
PGS.TS Trần Đức Hạ.
Với
Tra bảng ta được kích thước ngăn tiếp nhận như sau:
A=1500mm b=350mm
B=1000mm h=400mm l=600mm
H=1300mm
Trong đó:
A: Chiều rộng ngăn tiếp nhận
B: Chiều dài ngăn tiếp nhận
H: Chiều cao ngăn tiếp nhận
H
1
: Chiều cao lớp nước trong ngăn tiếp nhận
h: Chiều cao từ đáy ngăn tiếp nhận đến đáy mương
h
1
: Chiều cao mương dẫn nước đến công trình tiếp
b: Chiều rộng mương dẫn
l: Khoảng cách giữa hai ống áp lực
l
1
: Khoảng cách từ tâm ống đến miệng xả
Dùng 2 ống dẫn có đường kính 150mm để đưa nước thải lên ngăn tiếp nhận.
4.2. Mương dẫn

nhằm tránh đẩy rác qua khe của song. Vận tốc cực tiểu là 0,4m/s nhằm tránh phân
hủy các chất thải rắn.
SVTH: PHẠM THỊ HIỀN 16 MSSV: 09510900504
Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
hp

h

hp

1

2

0

h
Bs
Bk
II
MÆt c¾t I -I
MÆt b»ng
1
S¬ ®å ®Æt song ch¾n r¸c
1 - Song ch¾n r¸c
2 - Sµn c«ng t¸c
Hình 1: Song chắn rác
Chiều ngang B= 200(mm)
Nước thải sau khi qua ngăn tiếp nhận được dẫn đến song chắn rác theo mương
hở. Chọn 2 song chắn rác công tác, một song dự phòng. Ta sử dụng song chắn rác

là hệ số tổn thất cục bộ qua song chắn rác.
Với . Hệ số phụ thuộc vào tiết diện ngang của thanh song chắn theo bảng 3.4. “
Xử lý nước thải – tính toán thiết kế công trình- Trường Đại học Xây Dựng 1974”
với tiết diện d= 0.008m.
= 60 góc ngiêng của song chắn rác với mặt phẳng nằm ngang.
Vậy:
Tổn thất qua song chắn rác:
- Chiều cao xây dựng đặt song chắn rác:
SVTH: PHẠM THỊ HIỀN 18 MSSV: 09510900504
Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
Với là chiều cao bảo vệ.
- Tính lượng rác lấy ra từ song chắn rác:
Trong đó:
a là lượng rác tính theo đầu người trong 1 năm, theo bảng 6-4 TCXDVN
51:2008 với b=0.016(m) có a= 8(l/ng/năm)
là dân số tính toán tính theo TSS.
Vậy lượng rác lấy ra từ song chắn là:
Với dung trọng rác là 750(kg/m3) thì trọng lượng rác trong ngày sẽ là:
P= 0.9*750=675(kg/ngày)= 0.675(tấn/ngày)
Rác được vớt lên bằng cơ giới và đưa đến máy nghiền sau đó chuyển về bê mê tan.
Lượng nước cần cung cấp cho máy nghiền theo tiêu chuẩn là 40 (m3/tấn).
Vậy lượng nước cần cung cấp trong 1 ngày là:
Q= 40 * 0.675= 27(m3/ngày)
4.4 Bể lắng đứng đợt 1
Nhiệm vụ: Bể lắng đứng đợt 1 có nhiệm vụ lắng các hạt cặn lơ lửng có trong
nước thải, bể lắng đợt 1 phải xử lý được hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải
xuống dưới 150mg/l, có thể kết hợp với bể làm thoáng để tăng hiệu suất xử lý.
Theo dòng chảy, bể lắng được phân thành: bể lắng ngang và bể lắng đứng.
- Trong bể lắng ngang, dòng nước chảy theo phương ngang qua bể với vận tốc
không lớn hơn 0,01 m/s và thời gian lưu nước thừ 1,5 – 2,5 h. Bể lắng ngang được

0,45 0,55 0,66 0,8 0,9 1 1,44 1,3

Nhiệt độ nước thải 25
+
ω
- Vận tốc cản của dòng chảy theo thành phần đứng tra theo bảng:
V (mm/s) 5 10 15 20
ω
(mm/s)
0
0,05
0,1
0,5
Với V=6mm/s ( vận tốc theo phương ngang. V=510mm/s), ta có =0.02mm/s
+K là hệ số phụ thuộc vào loại bể lắng. Với bể lắng đứng thì K=0.35
+ H là chiều cao công tác bể lắng. m (
2.7 3.8H = −
m)
+
t
là thời gian lắng của nước thải trong hình trụ với chiều sâu lớp nước
h=500 mm đạt hiệu quả lắng bằng hiệu quả lắng tính toán và được lấy theo
bảng 7-12 TCXDVN 51- 2008.
Hiệu
quả
Thời gian lắng trong hình trụ có chiều sâu h = 500mm (s)
n = 0,25
n = 0,4
n = 0,6
Nồng độ (mg/l)

300
450
640
970
2600
-
-
-
180
390
450
680
1830
5260
-
150
180
200
240
280
360
1920
-
140
1200
180
200
240
280
690

180
580
-
-
-
45
80
75
130
380
-
Với , hiệu suất lắng E=60% ( hiệu quả bể lắng đợt 1 từ 40 đến 60% và n – Hệ
số phụ thuộc vào tính chất của chất lơ lửng. n = 0.25 tra bảng 7.12 được t= 970s.
+Trị số
n
K H
h
×
 
 ÷
 
tra theo bảng Bảng 7-13 của TCXDVN 51- 2008
Chiều cao công tác
bể lắng H
Trị số
n
K H
h
×
 

Với H = 3.5 m ta tra được trị số
n
K H
h
×
 
 ÷
 
= 1.25 ( với bể lắng đứng )
Vậy
- Tính toán kích thước bể lắng:
Tính toán kích thước bể lắng đứng theo điều 7.53 của TCXDVN 51- 2008
Bán kính bể lắng đứng:
Đường kính của 1 bể lắng đứng là D=2*R=2*3.784= 7.568 (m) điều 7.60
TCXDVN 51:2008
Diện tích của 1 bể lắng đứng là :
Thể tích ngăn công tác của bể là :
Thời gian lưu nước :
đạt yêu cầu cho cặn lắng tốt.
Diện tích ướt của ống trung tâm:
Trong đó: là vận tốc chuyển động của nước trong ống trung tâm, lấy không lớn
hơn 30mm/s (điều 7.60 TCXDVN 51:2008). Chọn
Đường kính ống trung tâm:
Chiều cao ống trung tâm lấy bằng chiều cao vùng lắng bằng 3.5m ( điều 7.69
TCXDVN 51:2008)
Đường kính và chiều cao của phễu lấy bằng 1.5 lần đường kính trung tâm. (điều
7.60 TCXDVN 51:2008)
Theo điều 7.60 TCXDVN 51:2008: Đường kính tấm hắt bằng 1.3 đường kính
miệng phễu:
Góc nghiêng giữa bề mặt tấm hắt với mặt phẳng ngang lấy bằng 17.

c
T m g m
ρ
= =
Vậy
Chiều cao vùng chóp cụt:
Tổng chiều cao xây dựng bể là :
Trong đó:
bv
h
- Chiều cao bảo vệ ,
0.5
bv
h m
=
- Chiều sâu công tác của bể lắng

c
h
- Chiều cao nén cặn ,
SVTH: PHẠM THỊ HIỀN 23 MSSV: 09510900504
Đồ án: Thiết kế quá trình xử lý nước và nước thải GVHD: Nguyễn Minh Đức
Để thu nước đã lắng, dùng hệ thống máng vòng chảy tràn xung quanh thành bể.
Thiết kế máng thu nước đặt theo chu vi vành trong của bể, đường kính ngoài của
máng chính là đường kính trong của bể.
Đường kính máng thu: D
máng
= 80% đường kính bể
D
máng

Nhiệm vụ: Bể UASB là bể xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học kị
khí( không có Oxi), xử lý nước thải nhờ vi sinh vật kị khí để ôxi hóa các hợp chất
hữu cơ có trong nước thải.
SVTH: PHẠM THỊ HIỀN 25 MSSV: 09510900504


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status