hiện trạng môi trường và thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy tinh bột sắn quảng ngãi - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Họ và tên: Nguyễn Thị Xuân Hòe Khoa: Viện Khoa học & Công nghệ Môi Trường
Ngành: Công nghệ môi trường
Khóa : 49 – QN
1. Đầu đề thiết kế:
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG XỬ LÝ
NƯỚC THẢI NHÀ MÁY TINH BỘT SẮN QUẢNG NGÃI.
2. Các số liệu ban đầu:
Các số liệu khảo sát thực tế tại nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi
3. Nội dung các phần thuyết minh và tính toán :
Tổng quan về ngành tinh bột sắn và những vấn đề môi trường
Hiện trạng sản xuất và môi trường của nhà tinh bột sắn Quảng Ngãi
Đề xuất các biện pháp giảm thiểu chất thải và phương án xử lý nước thải nhà máy tinh
bột sắn Quảng Ngãi
Tính toán một số thiết bị chính của hệ thống xử lý nước thải
4. Các bản vẽ ( ghi rõ các loại bản vẽ và kíc thước bản vẽ ):
Bản vẽ các thiết bị chính đã tính toán ( khổ A4)
5. Cán bộ hướng dẫn:
TS. Đặng Minh Hằng
6. Ngày giao nhiệm vụ đồ án: Ngày… tháng……năm 2009
7. Ngày hoàn thành: Ngày… tháng……năm 2009
Ngày… tháng……năm 2009
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
( ký, ghi rõ họ tên) ( ký, ghi rõ họ tên)
Sinh viên đã hoàn thành và nộp đồ án tốt nghiệp
Ngày tháng năm 2009
Người duyệt
(ký, ghi rõ họ tên)

Trong những năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nước ta
đang diễn ra mạnh mẽ trên hầu hết các miền. Bộ mặt kinh tế và xã hội của đất nước có
nhiều thay đổi, mức tăng trưởng GDP trung bình hàng năm đạt 8,0% , tỷ trong GDP
công nghiệp và xây dựng tăng 38,5% năm 2003 lên 41,3% năm 2007. Tuy nhiên kèm
theo đó là vấn đề môi trường ngày càng trở nên gay gắt và luôn là một vấn đề bức xúc
cần phải giải quyết kịp thời.
Là một trong những ngành kinh tế đang được đánh giá là quan trọng của đất nước,
song song với sự phát triển thì công nghiệp tinh bột sắn cũng tác động phần lớn đến ô
nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nước thải, chất thải của ngành tinh bột sắn được
đánh giá là gây ô nhiễm lớn đến nguồn nước tự nhiên. Do các công nghệ sử dụng hầu hết
đã lạc hậu, thiết bị cũ và không đồng bộ, định mức nước cho một đơn vị sản phẩm còn
lớn, hiệu suất tận chiết bột còn kém, và do các nhà máy thường tập trung gần nội thành,
gần khu dân cư nên ô nhiễm của ngành tinh bột sắn lại càng trở lên nghiêm trọng. Do
vậy, việc áp dụng các biện pháp giảm thiểu và xử lý ô nhiễm nước thải ngành tinh bột
sắn đang là một yêu cầu cấp bách cần được giải quyết nhằm đảm bảo phát triển một cách
bền vững.
Mục tiêu đề tài: Thiết kế một hệ thống xử lý nước thải cho một cơ sở sản xuất có
quy mô vừa. Nước thải dòng ra đáp ứng TCVN 5945-2005 loại B (cột F, Q<50m
3
/s).
Phạm vi : Đánh giá hiện trạng sản xuất và môi trường; thiết kế hệ thống xử lý
nước thải – nhà máy sản xuất tinh bột sắn Quảng Ngãi, thôn Thế Long, xã Tịnh Phong,
huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Nội dung :
+ Tổng quan về hiện trạng sản xuất và môi trường ngành tinh bột sắn Việt Nam.
+ Đánh giá hiện trạng sản xuất và môi trường của nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi.
+ Lựa chọn hệ thống xử lý nước thải – nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi.
+ Tính toán các thiết bị chính trong hệ thống xử lý nước thải đã lựa chọn.
+ Ước tính chi phí của hệ thống xử lý nước thải.
CHƯƠNG I

thành cây công nghiệp. Ngành sản xuất tinh bột sắn là một ngành đang được chú trọng
và thu hút đầu tư của nhiều nhà sản xuất. Cùng với ưu thế đất đai, khí hậu thuận lợi Việt
Nam đã trở thành nước xuất khẩu tinh bột sắn lớn thứ 3 trên thế giới, sau Thái Lan và
Inđonexia. Sản phẩm tinh bột sắn của nước ta chủ yếu là dành cho xuất khẩu sang các
nước như: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước Châu Âu, Châu Á Thái Bình
Dương…tinh bột sắn đã trở thành một trong 7 mặt hàng xuất khẩu mới có triển vọng
được chính phủ quan tâm. Sự phát triển của ngành tinh bột sắn đã góp phần giải quyết
việc làm cho nhiều người dân lao động, đặc biệt là người nông dân. Sự phát triển của
ngành tinh bột sắn sẽ góp phần giúp nước ta hội nhập với khu vực và thế giới một cách
hiệu quả hơn bởi chính đặc điểm “toàn cầu” của nó.
Ngành tinh bột sắn là một trong các ngành công nghiệp mới ra đời và đang nhanh
chóng được mở rộng. Cả nước hiện có 64 nhà máy sản xuất tinh bột sắn và dự kiến sẽ
xây dựng thêm một số nhà máy tại miền Trung, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ…
I. 2. Vai trò và vị trí của ngành tinh bột sắn trong nền kinh tế quốc dân
Ngành tinh bột sắn được coi là một trong các ngành có lợi thế nhất nước ta bởi
điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp để trồng và phát triển cây sắn, hơn nữa nước ta là
một nước đông nông dân vốn có nghề truyền thống trồng sắn, số vốn đầu tư không lớn
và có vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược xuất khẩu của nước ta .Sự phát triển
của ngành tinh bột sắn Việt Nam trong những năm gần đây đã thu hút nhiều lao động,
trong các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngành tinh bột sắn đã tạo việc làm cho gần 7
nghìn lao động nữ ( chiếm 20% ). Sự phát triển của ngành tinh bột sắn sẽ góp phần thúc
đẩy nền kinh tế nước ta một cách hiệu quả và giúp nước ta hội nhập kinh tế với khu vực
và thế giới một cách dễ dàng hơn.
Ngành tinh bột sắn là một trong các ngành công nghiệp tuy chỉ mới ra đời nhưng
đã nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân bởi doanh thu hằng
năm là không nhỏ .Trong những năm qua ngành tinh bột sắn Việt Nam đã đạt được
những kết quả khá ấn tượng : giá trị sản xuất công nghiệp tinh bột sắn tăng trưởng bình
quân hàng năm được thể hiện trong bảng 1.2 .
Bảng 1.2. Giá trị sản xuất công nghiệp của ngành
tinh bột sắn qua một số năm

động, nâng cao khả năng cạnh tranh , hội nhập vững chắc với khu vực và thế giới”.
I.3. Đặc điểm của ngành tinh bột sắn Việt Nam:
Hiện nay cả nước có gần 70 doanh nghiệp tinh bột sắn lớn nhỏ có vốn đầu tư
trong nước ( chưa tính các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài và công ty liên
doanh với nước ngoài ). Ngành tinh bột sắn nước ta có sự đa dạng về quy mô sản xuất từ
các nhà máy có quy mô sản xuất lớn ( Nhà máy tinh bột sắn Đắc Lắc có gần 1000 lao
động, trên 400 thiết bị, công suất 500 tấn sản phẩm /ngày, thị trường xuất khẩu: Trung
Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU; Nhà máy tinh bột sắn Hoài Hảo: 700 lao động, công
suất 800 tấn củ / ngày, thị trường xuất khẩu: Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài
Loan ) đến các cơ sở sản xuất vừa ( Nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi : 06 máy mài,08
máy phân ly, 02 phòng sấy, gần 200 lao động, kim ngạch xuất khẩu 20 triệu USD năm
2007 ) đến các doanh nghiệp nhỏ hơn ( Nhà máy tinh bột sắn Ngọc Thạch có công suất
100 tấn củ / ngày, nhà máy tinh bột sắn Earbia với công suất 100 – 150 tấn củ / ngày,
nhà máy tinh bột sắn Yên Bình công suất 160 tấn củ / ngày), và nhỏ hơn nữa là các hộ
gia đình làm thủ công….Ngành công nghiệp tinh bột sắn hầu như phát triển trên toàn bộ
lãnh thổ Việt Nam.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được ngành tinh bột sắn vẫn còn tồn tại một số
vấn đề cơ bản, đó là tốc độ phát triển còn chậm, chưa ổn định, mặt khác là do thiếu
nguồn vốn đầu tư trang thiết bị, công nghệ và nguyên liệu cho sản xuất. Công nghệ và
thiết bị vẫn còn sử dụng thiết bị của thập niên 70, 80 thậm chí có những thiết bị được
sản xuất từ những năm 1960. Sự đầu tư trang thiết bị mới chỉ dừng lại ở mức độ chắp vá,
không đồng bộ, thiết bị mới nằm xen kẽ thiết bị cũ nên hiệu suất sản xuất chưa cao, hiệu
quả việc đầu tư còn hạn chế. Ngành tinh bột sắn Việt Nam mới chỉ cung cấp được
khoảng 20% nhu cầu tinh bột trong nước và chỉ chiếm một phần nhỏ nhu cầu của thị
trường xuất khẩu.
Thực tế này đòi hỏi ngành tinh bột sắn phải được đổi mới công nghệ, trang thiết
bị và cần có sự quan tâm, đầu tư đúng mức hơn nữa. Đó là con đường để nghành tinh bột
sắn phát triển.
Trong tương lai ngành tinh bột sắn sẽ phát triển theo hướng hoàn thiện các công
nghệ cổ điển, rút ngắn các khâu bằng các tổ hợp thiết bị đa năng, tự động hoá các quy

H
2
SO
4
H
2
SO
4
Khí nóng
Bụi bột
Khí thải ( khí lò
hơi)
chất thải rắn
(bã sắn)
nước
nước
Dịch bột
loãng
Sản phẩm
( H
2
SO
4
,tinh bột, các chất hữu
cơ)
Trong quá trình sản xuất tinh bột sắn, một số công đoạn phát sinh chất thải ở các
dạng nước thải, khí thải và chất thải rắn. Trong đó nước thải là dạng gây ô nhiễm lớn
nhất do:
Nước thải phát sinh trong công đoạn rửa củ và chiết bột, trong đó lượng nước thải
chủ yếu do quá trình phân ly chiết bột diễn ra liên tục. Nhu cầu sử dụng nước trong nhà

Tinh chế bột Tinh bột, dịch bào, xơ
mịn, pectin, Cyanua, cặn
không tan và các thành
phần hữu cơ khác…
Có tính axít, TS cao, COD chiếm 85 –
95% tải lượng COD, BOD cao chiếm
90-95% tổng tải lượng BOD.
I.3.2. Hiện trạng môi trường ngành tinh bột sắn
Ngành công nghiệp tinh bột sắn đang tác động đến môi trường bởi những dạng chất
thải sau:
I.3.2.1. Nước thải
Theo số liệu thống kê, hàng năm ngành tinh bột sắn thải ra môi trường khoảng 240
– 300 triệu m
3
nước thải/năm. Trong đó mới chỉ khoảng 10% tổng lượng nước thải đã
qua xử lý, số còn lại đều thải thẳng vào nguồn tiếp nhận.
Đặc trưng quan trọng nhất của nước thải từ các cơ sở tinh bột sắn là sự dao
động rất lớn về lưu lượng theo mùa vụ. Do đặc điểm nước thải ngành tinh bột
sắn chứa nhiều tinh bột, các axít hữu cơ ,xơ,cặn nên hầu hết nước thải từ các
cơ sở tinh bột sắn hàm lượng chất hưu cơ, tổng chất rắn đều cao và có tính axít.
Lưu lượng và đặc trưng nước thải của một số doanh nghiệp được thể hiện trong
bảng 1.7. Nước thải các doanh nghiệp có thông số ô nhiễm đều vượt quá giới hạn cho
phép:
+ Hàm lượng TS vượt quá TCVN 5945 – 2005 (loại B) từ 30 – 65 lần.
+ COD cao hơn TCVN 5945-2005 (Loại B) từ 106,2 - 175 lần
+ BOD
5
vượt TCVN 5945 – 2005 (loại B) 100-170 lần.
+ Chỉ số PH dao động trong khoảng nhỏ và nằm trong khoảng cho phép của TCVN
5945 – 2005 (loại B).

4 N.máy tinh bột sắn
Hoài Hảo
10.200 –
13.000
6,05 13.000 8.000 4.000
5 N.máy tinh bột sắn
Yên Bình
2.500 –
4.000
6,08 9.000 5.000 2.700
6 N.máy tinh bột sắn
Tây Ninh
5.500 –
8.500
6,0 10.000 6.500 3.300
7 N.máy tinh bột sắn
Bình Phước
6.000
- 8.000
6,07 11.000 7.000 3.000
TCVN 5945 - 2005
(loại B)
- 5,5 - 9 80 50 100
I.3.2.3. Khí thải.
Nguồn phát sinh và thành phần khí thải của ngành công nghiệp tinh bột sắn bao
gồm:
• Khí thải lò hơi được phát sinh từ quá trình đốt cháy nhiên liệu, than, dầu FO, dầu DO.
Khí thải của lò hơi phát thải vào môi trường với diện rộng một lượng lớn các chất thải độc hại
hầu như chưa được xử lý. Những loại lò hơi chạy bằng than mới chỉ xử lý được một phần bụi
than, còn các loại khác hầu như chưa được xử lý.

0,13 0,08 0,012 0,3
2 N.máy tinh bột sắn Yên Bình 0,15 0,086 0,14 0,3
3 N.máy tinh bột sắn Hoài Hảo 0,3 0,34 0,232 0,4
4 N.máy tinh bột sắn Đắc Lắc 0,4 0,43 0,27 0,45
5 N.máy tinh bột sắn Tây Ninh 0,23 0,25 0,13 0,3
TCVN 5937 - 2005 0.4 0.5 0.3 0.3
I.3.2. Chất thải rắn.
Chất thải rắn của ngành công nghiệp tinh bột sắn bao gồm các loại sau:
+ Bã từ quá trình lọc bột.
+ Vỏ, tạp chất, đất cát từ công đoạn bóc vỏ, rửa, xỉ của lò hơi.
+ Các cặn trong nước thải.
+ Rác thải sinh hoạt.
Lượng chất thải rắn phát sinh của một số doanh nghiệp tinh bột sắn được thể hiện
bảng 1.8.
Mỗi năm lượng chất thải của ngành tinh bột sắn khoảng trên 1.1 triệu tấn. Lượng
chất thải rắn được các doanh nghiệp rất chú trọng và thu gom, phân loại. Phần lớn được
tái sử dụng còn một phần được mang đi chôn lấp, nên vấn đề ô nhiễm chất thải rắn của
ngành tinh bột sắn ảnh hưởng không nhiều đến chất lượng môi trường xung quanh, ô
nhiễm chỉ mang tính cục bộ.
Bảng 1.8. Lượng chất thải rắn phát sinh của một số cơ sở tinh bột sắn
STT Tên doanh nghiệp

Vỏ, tạp
chất, đất
cát
Xỉ than
Tổng
lượng
rác
Tấn/ngày Tấn/ngày Tấn/ngày Tấn/ngày

1 N.máy tinh bột sắn Quảng Nam 69-74
2 N.máy tinh bột sắn Ear Bia 70-74
3 N.máy tinh bột sắn Kom Tum 73-80
4 N.máy tinh bột sắn Bình Phước 73-77
TCVN 3985 - 2005 (Tiếng ồn công nghiệp) 70
TCVN 3985 – 2005 (Khu vực sản xuất) 90
Qua bảng 1.9 cho thấy tiếng ồn tại khu vực sản xuất của các doanh nghiệp tinh
bột sắn thường vượt quá TCVN 5980- 1995 từ 5-10 dBA.
Tóm lại, ngành tinh bột sắn Việt nam đóng góp một phần không nhỏ vào mức tăng
trưởng GDP cũng như giá trị xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn công nhân,
trong đó có cả lao động nữ. Nhưng bên cạnh đó ngành vẫn còn tồn tại một số vấn đề: tốc
độ phát triển còn chậm, công nghệ và thiết bị lạc hậu không đồng bộ, thiếu vốn đầu tư,
thiếu nguồn nguyên liệu cho sản xuất, vấn dề môi trường chưa được quan tâm và đầu tư
đúng mức…Do vậy, hoạt động sản xuất của ngành đã tác động xấu đến môi trường, đặc
biệt là ảnh hưởng của nước thải. Trước những thực tế trên đòi hỏi ngành tinh bột sắn cần
có sự quan tâm, đầu tư đúng mức nhằm phát triển một cách bền vững.
CHƯƠNG II
HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT CỦA NHÀ MÁY TINH BỘT SẮN
QUẢNG NGÃI
II.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất
Vị trí: Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Quảng Ngãi được xây dựng tại km 1047,
đường quốc lộ 1, thôn Thế Long, Xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi
( hình vẽ số 1 ở phụ lục ). Vị trí của nhà máy tương đối thuận lợi cho sản xuất, kinh
doanh:
Diện tích mặt bằng : Khoảng 10 ha.
Hướng Đông Nam : Tiếp giáp với quốc lộ 1a.
Hướng Tây Nam : Tiếp giáp với sông Bán Thuyền.
Hướng Nam : Tiếp giáp với đồng ruộng và đường dân sinh.
Hướng Bắc và Tây Bắc : Tiếp giáp với đồng ruộng và khu đất giãn dân.
Đặc điểm: Nhà máy được xây dựng trên khu vực có địa hình bằng phẳng, cao ráo,

đang tạm sử dụng than đá làm nhiên liệu đốt, than đá được mua tại các công ty trong
nước, có nguồn gốc từ Quảng Ninh, nhu cầu sử dụng khoảng 630 kg/ngày.
Năng lượng: Là điện công nghiệp 3 pha. Lượng điện sử dụng khoảng 43.200kWh /
ngày.
Sản phẩm: Bột mỳ tinh khiết xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
Nước cấp: Nguồn nước mà nhà máy sử dụng là nguồn nước từ suối bên cạnh.
Nước sau khi qua hệ thống xử lý của nhà máy đã đạt tiêu chuẩn nước cấp cho sản xuất.
Lượng nước mà nhà máy sử dụng tương đối lớn chủ yếu cấp cho công đoạn rửa và tinh
chiết bột. Lượng nước trung bình nhà máy sử dụng khoảng 5000m
3
/ngày.
Hoá chất: Nhà máy không sử dụng hoá chất.
II.2.2. Quy trình sản xuất
Sơ đồ quy trình sản xuất của nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi
được trình bày ở hình 1.2.
Nước

Nước

Nước

Nước

Nước

Nước
Nước
SO
2
,NO

Tiếng ồn
Chất thải rắn
( bã)
Bụi bột
Nhiệt độ
Nước thải
đi xử lý
- - - - - - - - -
- - - - - - - - -
- -
- -
- -
thu
Nước bột loãng
Hình 2.2 . Sơ đồ quy trình sản xuất của nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi có kem theo dòng thải
Khí thải
Tiếng ồn
Nước thải
(tinh bột,
chất hưu cơ)
Chất thải rắn
( bã)
Chất thải rắn
( bã)
Nước thải
( tinh bột,
chất hưu cơ)
Sắn củ tươi sau khi thu mua được chế biến ngay, sắn từ khi thu hoạch đến khi chế
biến khoảng 2 ngày. Sắn được đưa vào phểu phân phối cung cấp cho dây chuyền một
cách từ từ. Sắn được băng chuyền xích đưa vào thùng quay hình trụ nằm ngang gồm

O. Dịch sữa tinh bột này
được bơm đi tách xác lần 2 bằng thiết bị tách xác tinh để tách bã mịn còn lại trong dịch .
Phần bã không lọt qua lưới cũng được đưa đi chiết lọc lần cuối cùng với bã thô ở trên.
Dịch sữa tinh bột lọt qua vải lọc được đưa đi tách dịch bao lần 1 (quá trình này có cho
nước vào liên tục để hiệu chỉnh nồng độ), quá trình này được thực hiện bằng nhiều máy
tách xác liên tục.
Dịch sữa tinh bột được bơm qua decenter (2 decenter) để tách dịch bào lần 1, lưu
lượng khoảng 20-25m
3
/h. Dịch sữa tinh bột vào bên trong thiết bị với tốc độ ly tâm lớn
(04 máy ly tâm), tinh bột bị văng ra bám xung quanh thành trong thiết bị do sự chênh
lệch tỉ trọng giữa dịch bào và tinh bột, có vít tải chạy ngược với chiều quay liên tục cào
tinh bột ra ngoài. Trong quá trình ly tâm có cho nước để đạt nồng độ 5-15Be.
Dịch sữa bột này được đưa đi tách phần bã mịn còn lưu lại một ít gọi là tách xác lần
cuối cùng, thực hiện bởi nhiều thiết bị phân ly.Các thiết bị phân ly này có kích thước lổ
vải lọc nhỏ hơn (so với tách xác thô và tách xác tinh), chỉ cho tinh bột đi qua còn phần
bã mịn được giữ lại, cùng với bã thô qua khu chiết ép kiệt (tách tận dụng).
Bã thô, bã tinh và bã mịn được đưa đến thiết bị tách xác tận dụng, dịch sữa thu
được có nồng độ tinh bột thấp được bơm về phục vụ máy mài. Phần bã đi ra sẽ thu được
bã ướt nếu ở thiết bị ống kép hoặc bã thô nếu qua thiết bị ép băng.
Sau khi tách bã tinh dịch sữa bột được tách dịch bào lần cuối. Dịch sữa bột trước
tiên qua hai cyclone để tách cặn trước, tốc độ máy là 4500v/ph, dịch bột đi xuống dưới,
nước thải ra phía trên ra ngoài. Sau đó dịch bột mới đi vào máy phân ly (02 máy) để
tách dịch bào lần cuối. Trong công đoạn này vẫn cho nước vào để đảm bảo nồng độ 8 –
14Be, pH = 6,0 – 6,5, lưu lượng vào 5m
3
/h.
Dịch tinh bột đã thuần khiết nhưng vẫn còn khá nhiều nước (18 – 22Be). Nước sẽ
được tách bớt bằng máy ly tâm tách nước (02 máy), phần nước lọt qua lớp vải và lưới
lọc được đưa về máy mài. Tinh bột thu được có độ ẩm 31-34%.

4 Máy băm Chiếc 2 Thái Lan
5 Máy mài Chiếc 6 Thái Lan
6 Máy tách xác Chiếc 44 Thái Lan
7 Máy phân ly Chiếc 8 Nhật Bản
8 Máy ly tâm Chiếc 6 Thái Lan
9 Nhà sấy Phòng 2 Thái Lan
10 Máy đóng bao Chiếc 9 Thái Lan
11 Xe chở sắn Chiếc 10 Trung Quốc
12 Thiết bị xử lý nước cấp Bộ 1 Việt Nam
Các loại máy móc, thiết bị nằm trong dây chuyền điều còn mới (sản xuất năm
1998), có tính năng kỹ thuật hiện đại, tính tự động hoá cao. Đặc biệt nhiều máy phân ly
có công suất thiết kế khá cao nên có thể bố trí sản xuất được theo ca nhằm tiết kiệm điện
năng, tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.
Tóm lại, nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi có vị trí thuận lợi cho sản xuất và môi
trường. Sản phẩm của nhà máy được đánh giá là có chất lượng cao. Quy trình chủ yếu
nhà máy là phân ly, sấy, làm nguội và hoàn tất. Các trang thiết bị được nhập từ Thái Lan
và còn mới.
CHƯƠNG III
HIỆN TRẠNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
CỦA NHÀ MÁY TINH BỘT SẮN QUẢNG NGÃI.
III.1. Hiện trạng môi trường
III.1.1. Nước thải
Ô nhiễm do nước thải là vấn đề môi trường lớn nhất đối với các cơ sở tinh bột sắn
nói chung và nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi nói riêng. Định mức nước sản xuất của
nhà máy là 25 m
3
/ 1 tấn sản phẩm.
Các nguồn phát sinh nước thải chủ yếu là:
+ Công đoạn tinh chế bột là công đoạn sử dụng nhiều nước nhất. Do đó, đây là nơi
sinh ra nhiều nước thải nhất và chứa nhiều chất ô nhiễm.

4 BOD
5
mg/l 6500 50
5 TS mg/l 3500 100
6 Màu - Trắng đục -
7 Nhiệt độ
0
C 30 -31,5 40
8 Mùi
-
Không -
(Số liệu từ phòng thí nghiệm nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi-tháng 9 năm 2008)
III.1.2 Khí thải
Khí thải trong quá trình sản xuất tinh bột sắn không lớn, nên vấn đề ô nhiễm khí
của nhà máy là không đáng kể. Các nguồn phát sinh gây ô nhiễm môi trường không khí
chủ yếu là:
o Khí thải từ lò đốt dầu cung cấp nhiệt. Các chất ô nhiễm chủ yếu trong khí
thải lò đốt là CO, SO
2
, NO và bụi lò đốt. Tuy nhiên nồng độ các khí thải CO, SO
2
, NO và
bụi thường không lớn, dưới tiêu chuẩn cho phép và chỉ ảnh hưởng cục bộ đến khu vực
sản xuất. Nhà máy dùng biogas thay thế dầu nên hạn chế được các khí ô nhiễm và bụi.
Bảng 3.2 Chất lượng môi trường không khí tại nhà máy TBS Quảng Ngãi.
STT
Các thông
số
Đơn
vị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status