biện pháp thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu mặt hàng kính xây dựng - Pdf 28

Lời mở đầu
Việt Nam đang trên đà phát triển và hớng tới mục tiêu trở thành nớc công
nghiệp trong năm 2020. Vì vậy, các ngành công nghiệp phảI là ngành đI tiên
phong trong công cuộc đổi mới này. Ngành công nghiệp kính xây dựng là
một ngành còn non trẻ, nhng đang giữ một vị trí quan trọng trong quá trình
đổi mới. Trong thời gian tới, ngành có xu hớng phát triển nhanh. Tuy nhiên,
ngành kính xây dựng đang vấp phảI những khó khăn thách thức, vì là một
ngành mới, nên một mặt cha có kinh nghiệm, một mặt còn yếu về nguồn lực
nên khó có thể cạnh tranh đợc với hàng nhập khẩu từ bên ngoàI với giá thành
rẻ và chất lợng cao. Vì vậy, ngành kính xây dựng của Việt Nam và đặc biệt là
công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu cần phảI có chiến lợc thích hợp để có
thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Mặt khác, công ty cũng đề nghị nhà nớc
có những chính sách để bảo hộ cho ngành kính xây dựng khắc phục khó khăn
để phát triển đI lên. Đồng thời nhà nớc cần có biện pháp ngăn chặn những
hành vi nhập lậu hàng hoá và chống hàng giả để giúp ngành kính xây dựng
phát triển. Qua thực trạng phát triển của ngành kính xây dựng và của công ty,
tôI đã chọn đề tàI Một số biện pháp thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu mặt
hàng kính xây dựng. Qua đó, em hy vọng ý kiến của mình sẽ góp phần khắc
phục đợc những khó khăn của công ty đang gặp phải.
Trong quá trình thực tập và viết chuyên đề này, em luôn nhận đợc sự
giúp đỡ tận tình của thầy giáo TS. Nguyễn Tiến Dũng và toàn thể các cô, chú,
của công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Viglacera. Qua đây em chúc thầy
và các cô chú trong công ty mạnh khoẻ và công tác tốt.
Em xin chân thành cảm ơn!
Chơng I
Những lý luận về xuất khẩu hàng hoá
I. Cơ sở lý luận của hoạt động ngoại thơng.
1. lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adamsmith
1.1. Nội dung
Theo lý thuyết về lợi thế tuyệt đối, Adamsmith đã khẳng định vai trò
của cá nhân và hệ thống kinh doanh. Ông cho rằng: chỉ có cá nhân mới

sẽ chuyên môn hoá sản xuất lúa mì, Anh chuyên môn hoá sản xuất vảI và khi
đó Anh và Mỹ sẽ mang sản phẩm của mình đI trao đổi thì cả hai quốc gia
này đều có lợi.
Nếu Mỹ đổi 6 giạ lúa mì với Anh để lấy 6m vảI thì Mỹ sẽ có lợi 2m vảI
hay sẽ tiết kiệm đợc 1/2 giờ vì mỗi giờ ở Mỹ sản xuất đợc 4m vảI. Tơng tự
nh vậy, nếu Anh nhận đợc từ Mỹ 6 giạ lúa mì tức là Anh không mất 6 giờ để
sản xuất lúa mì ở trong nớc. Với thời gian này, Anh sẽ tập chung vào sản
xuất vảI thì sẽ đợc 30m vải. Trong đó 6m vảI đem đI trao đổi với Mỹ, còn
24m vảI để lại tiêu dùng, hay nói cách khác Anh đã tiết kiệm đợc 5 giờ lao
động.
1.2. Khả năng áp dụng
Ngày nay, lý thuyết lợi thế tuyệt đối vẫn còn có ý nghĩa, đặc biệt là với
các nớc đang phát triển. Hầu hết các nớc đang phát triển là những nớc có
nguồn tàI nguyên thiên nhiên phong phú; nguồn lao động dồi dào, giá lao
động rẻ. Những nớc này không đủ khả năng để sản xuất ra máy móc thiết bị
vì thiếu vốn và kỹ thuật. Vì vậy các nớc đang phát triển mang tàI nguyên và
sức lao động của mình đem ra trao đổi lấy máy móc thiết bị và kỹ thuật của
các nớc phát triển.
Khi tiến hành nhập t liệu sản xuất, công nhân trong nớc bắt đầu học
cách sử dụng máy móc thiết bị mà trớc đây họ cha biết và sau đó học cách
sản xuất ra chúng. Nh vậy, hoạt động ngoại thơng đã giúp các nớc phát triển
và đang phát triển bù đắp đợc sự yếu kém của mình.
2. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Lợi thế so sánh là khả năng nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của
một nớc thông qua việc mua bán trao đổi hàng hoá với nớc khác trên cơ sở
chi phí so sánh để sản xuất ra những hàng hoá đó.
Dới góc độ phân tích chi phí so sánh đã khắc phục đợc hạn chế của lợi
thế tuyệt đối. Theo lý thuyết tuyệt đối của Adamsmith những quốc gia có chi
phí sản xuất thấp mới có thể trao đổi hàng hoá với nớc khác. Nh vậy, nếu
quốc gia I sản xuất hai hàng hoá có chi phí sản xuất đều cao hơn chi phí sản

quần áo. Khi có hoạt động ngoại thơng thì Nga sản xuất 1 đơn vị thép sẽ đổi
đợc 5 đơn vị quần áo. Nh vậy sau khi có hoạt động ngoại thơng thì Nga sẽ đ-
ợc lợi thêm 1 đơn vị quần áo.
Đối với Việt Nam, trớc khi có ngoại thơng, Việt Nam sản xuất 5 đơn
vị quần áo thì đổi đợc 1 đơn vị thép. Khi có hoạt động ngoại thơng thì Việt
Nam chỉ cần 4 đơn vị quần áo đã đổi đợc 1 đơn vị thép. Nh vậy, Việt Nam đã
tiết kiệm đợc 1 đơn vị quần áo
Nh vậy nhờ có hoạt động ngoại thơng mà lợi ích của 2 quốc gia đều
tăng lên trong khi đó vẫn đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng trong nớc. Hay nói
cách khác đã làm nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của một quốc gia
3. Lý thuyết của Heckscher- Ohlin
3.1. Các giả thiết của Heckscher- Ohlin
- Thế giới chỉ có 2 quốc gia, chỉ có 2 loại hàng hoá( X,Y) và chỉ có 2
yếu tố đầu vào là lao động và t bản
- Hai quốc gia sử dụng công nghệ sản xuất hàng hoá giống nhau và thị
hiếu của các dân tộc là nh nhau
- Hàng hoá X chứa nhiều lao động còn hàng hoá Y chứa nhiều t bản
- Tỉ lệ giữa đầu t và sản lợng của cả hai loại hàng hoá trong 2 quốc gia
là một hằng số. Cả hai quốc gia đều chuyên môn hoá sản xuất ở mức không
hoàn toàn.
- Cạnh tranh hoàn hảo trong thị trờng hàng hoá và thị trờng các yếu tố
đầu vào ở cả hai quốc gia
- Các yếu tố đầu vào tự do di chuyển trong từng quốc gia nhng bị cản
trở trong phạm vi quốc tế.
- Không có chi phí vận tảI, không có hàng rào thuế quan và cảc trở
ngại khác trong thơng mại giữa hai nớc.
3.2. Nội dung
Giả sử có hai loại hàng hoá Y và X. Hàng hoá Y là hàng hoá chứa nhiều
t bản nếu tỉ số t bản/ lao động đợc sử dụng để sản xuất hàng hóa Y lớn hơn
hàng hoá X trong cả hai quốc gia. Theo định lý của Heckscher- Ohlin quốc

công nghiệp chế biến sẽ tạo cơ hội cho việc gia tăng các sản phẩm xuất khẩu.
Mặt khác nó lại có tác động ngợc lại với các ngành cung ứng nguyên liệu, tạo
ra mối liên hệ ngợc.
Chiến lợc xuất khẩu sản phẩm thô góp phần tạo nguồn vốn ban đầu
cho công nghiệp hoá. Vì quá trình công nghiệp hoá là một quá trình tích luỹ
vốn lâu dàI và đặc biệt khó khăn trong giai đoạn đầu tiên. Vì vậy những nớc
có nguồn tàI nguyên thiên nhiên dồi dào và phong phú sẽ có điều kiện để tích
luỹ nguồn vốn bằng cách khai thác nguồn tàI nguyên của mình.
NgoàI những tác động tích cực của chiến lợc xuất khẩu sản phẩm thô,
thì nó còn có những trở ngại trong việc thực hiện chiến lợc, đó là:
Thứ nhất, việc cung cấp sản phẩm thô không ổn định, các sản phẩm chủ
yếu là sản phẩm của ngành khai khoáng và nông nghiệp cha qua sơ chế. Vì
vậy, việc cung cấp các sản phẩm này phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
và khí hậu.
Thứ hai, cầu sản phẩm thô luôn biến động, chủ yếu là do hai nguyên
nhân:
- Theo quy luật tiêu dùng sản phẩm của E. Engel, các sản phẩm lơng
thực, thực phẩm về cơ bản sẽ tăng chậm hơn mức tăng thu nhập. Quy luật
này làm cho sản phẩm thô co xu hớng giảm.
- Do sự phát triển của khoa học công nghệ: sự thay đổi trong công
nghiệp chế biến làm cho lợng tiêu hao về nguyên vật liệu có xu hớng giảm.
Vì máy móc kỹ thuật ngày càng hiên đại, làm giảm lãng phí nguyên vật liệu
đầu vào, tăng tối đa sản phẩm, làm giảm tối thiểu lợng phế thải. Mặt khác
khoa học công nghệ cho ra đời nhiều loại nguyên vật liệu nhân tạo nh: nilon,
cao su, nhựa, giả da, để thay thế cho những sản phẩm truyền thống.
Thứ ba, do giá cả của sản phẩm thô có xu hớng giảm so với hàng công
nghệ. Để so sánh tơng quan giữa giá cả sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm
nhập khẩu các nhà kinh tế sử dụng hệ số trao đổi hàng hoá.
I
n

trờng tiêu thụ sản phẩm rộng rãi. Do vậy chiến lợc này chỉ có thể phát huy
hiệu quả đối với những nớc có dân số tơng đối đông.
Thứ hai, các ngành công nghiệp trong nớc ban đầu có thể còn nhỏ bé
nhng phảI tạo ra đợc những yếu tố đảm bảo khả năng phát triển. Những yếu
tố này đòi hỏi phảI thu hút vốn và công nghệ của các nhà đầu t trong và
ngoàI nớc.
Thứ ba, chính phủ phảI có những chính sách thích hợp. Vì ban đầu khi
công nghiệp trong nớc còn non trẻ, giá thành sản xuất thờng cao hơn so với
thị trờng thế giới. Chính phủ cần phảI xây dựng hàng rào bảo hộ bằng các
hình thức nh: trợ cấp, thuế quan, hạn ngạch để hỗ trợ cho các ngành sản xuất
trong nớc để tăng khả năng cạnh tranh ở thị trờng trong nớc và đẩy mạnh
xuất khẩu ra thị trờng thế giới.
Tuy nhiên, chiến lợc thay thế còn có những hạn chế:
Thứ nhất, làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong n-
ớc. Bởi vì một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến tỉ suất lợi
nhuận của nhà sản xuất là thuế quan và hạn ngạch do chính phủ đặt ra. Do đ-
ợc sự bảo hộ của chính phủ nên các doanh nghiệp trong nớc sẽ có đợc
nguyên liệu đầu vào giá rẻ, làm giảm chi phí sản xuất, các doanh nghiệp yên
tâm với sự bảo hộ của nhà nớc. Nếu chi phí sản xuất tăng hay sức cạnh tranh
của mặt hàng nhập khẩu giảm thì các doanh nghiệp lại chông chờ sự bảo hộ
của chính phủ do đó đáng lẽ bảo hộ sẽ giảm dần theo thời gian thì các nhà
sản xuất lại chông chờ bảo hộ tăng lên
Thứ hai, chiến lợc thay thế sản phẩm nhập khẩu làm nảy sinh nhiều tiêu
cực, bảo hộ bằng thuế dẫn đến tình trạng chốn lậu thuế, hối lộ đội ngũ thuế
quan. Bảo hộ bằng hạn ngạch thì dẫn đến tình trạng hối lộ các quan chức phụ
trách phân phối hạn ngạch
Thứ ba, chiến lợc này còn hạn chế xu hớng công nghiệp hoá của đất n-
ớc. Chiến lợc này thờng bắt đầu từ công nghiệp hàng tiêu dùng, sau đó lại
tiếp tục tạo thị trờng cho các ngành sản xuất sản phẩm trung gian. Nhng vì
thị trờng đối với sản phẩm trung gian nh: hoá chất, luyện kim thờng nhỏ hơn

thờng tập chung vào sản xuất hàng công nghiệp và dịch vụ sử dụng nhiều lao
động làm cho chi phí sản xuất sẽ tơng đối thấp so với thị trờng quốc tế.
Sau khi các nớc NICs đã thành công trong công việc lựa chọn chiến lợc
của mình thì một số nớc đang phát triển khác và các nớc ASEAN cũng lần lợt
chuyển sang chiến lợc hớng ngoại để khắc phục tình trạng khó khăn của
mình. Nhng điểm khác của các nớc ASEAN so với các nớc NICs là:
Thứ nhất, phần lớn các nớc ASEAN có dân số tơng đối đông nên tạo ra
đợc thị trờng tiêu thụ rộng lớn.
Thứ hai, các nớc ASEAN đều có tàI nguyên thiên nhiên đáng kể. Do
vây, nội dung của chiến lợc hớng ngoại của các nớc ASEAN có những đặc
điểm khác so với các nớc NICs. Nội dung của chiến lợc hớng ngoại của các
nớc ASEAN là tận dụng lợi thế so sánh để sản xuất các mặt hàng xuất khẩu,
sử dụng nguồn tàI nguyên thiên nhiên để thúc đẩy quá trình tích luỹ ban đầu
của đất nớc. Khuyến khích sản xuất các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu trong
nớc.
Chiến lợc hớng ngoại đã tác động mạnh đến nền kinh tế của mỗi quốc
gia.
Chiến lợc hớng ngoại tạo khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng
động. Sự phát triển của các ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã tác
động đến các ngành cung cấp đầu vào cho các ngành xuất khẩu tạo ra mối
liên hệ ngợc thúc đẩy sự phát triển của những ngành này. Bên cạnh đó, khi
vốn tích luỹ của nền kinh tế đợc nâng cao thì sản phẩm thô sẽ tạo ra mối
liên hệ xuôI là nguyên liệu cung cấp đầu vào cho công nghiệp chế biến và
mối liên hệ xuôI này tiếp tục mở rộng. Sự phát triển của tất cả các ngành này
sẽ làm tăng thu nhập của ngời lao động, tạo ra mối liên hệ gián tiếp cho sự
phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và dịch vụ.
Chiến lợc hớng ngoại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc ngày
càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
Chiến lợc hớng ngoại tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho đất nớc. Nguồn
thu nhập này vợt xa các nguồn thu nhập khác kể cả vốn vay và đầu t nớc

mua bán, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu. Các quốc gia trong cùng một tổ
chức hợp tác quốc tế sẽ đợc hởng những lợi ích mà tổ chức đó mang lại, xong
các quốc gia này phảI chịu những giàng buộc mà tổ chức kinh tế này đa ra.
Vì thế, đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho các quốc gia. Nó buộc các
doanh nghiệp trong nớc phảI đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thơng
trờng.
2. Sự phát triển của khoa học công nghệ
Ngày nay, khoa học công nghệ đã có những tiến bộ vợt bậc, máy móc
và trang thiết bị ngày càng tinh vi, hiện đại, độ chính xác cao. Nhờ đó, nhiều
loại sản phẩm mới đợc tạo ra với nhiều hình thức, mẫu mã, chất lợng cao, đáp
ứng nhu cầu thị hiếu của ngời tiêu dùng. Việc đa khoa học công nghệ vào sản
xuất đã làm cho năng suất lao động tăng cao, tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm
giá thành tạo nên sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Đồng thời, khoa học
công nghệ sẽ giúp cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao
vị thế cạnh tranh trên thị trờng.
3. Một số xu hớng phát triển khác của thơng mại quốc tế
Bên cạnh xu hớng hội nhập kinh tế quốc tế là xu hớng bảo hộ mậu
dịch. Xu hớng này đã tồn tại từ lâu nhằm bảo hộ cho các doanh nghiệp trong
nớc. Cho đến nay vẫn còn nhiều lý do khác nhau để bảo vệ cho chế độ bảo hộ
mậu dịch:
Một là, chế độ bảo hộ mậu dịch để bảo vệ ngành công nghiệp còn
non trẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status