Bộ khoa học và công nghệ
Viện năng lợng nguyên tử việt nam Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật đồng vị
tự nhiên phục vụ đánh giá an toàn
đập đồng mô
Chủ nhiệm đề tài: ths . bùi đức dũng
(M
số
B0/05/04-01)
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân
Chủ nhiệm đề tài: ThS., NCVC Bùi Đắc Dũng Hà Nội, tháng 9/2007 2
6 Nguyễn Mạnh Hùng
KTV
Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân
7 Phạm Quốc Kỷ
KTV
Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân
8 Tạ Hồng Đức
KS
Cục Thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn.
9 Đặng Văn Lập
KS
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi
Phù Sa- Đồng Mô
10 Phùng Văn Lục
KS
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi
Phù Sa- Đồng Mô
Các cơ quan, đơn vị phối hợp thực hiện đề tài
1. Cục Thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
12
2.3. Cơ sở lý thuyết kỹ thuật đồng vị tự nhiên
13
2.4. Tổng quan về đập phụ A và hồ Đồng Mô
17
III.
phơng pháp nghiên cứu
23
3.1. Thiết kế nghiên cứu
23
3.2. Nội dung nghiên cứu
26
3.3. Phơng pháp nghiên cứu
26
3.3.1. Phơng pháp lấy mẫu và xử lý mẫu.
26
3.3.2. Phơng pháp phân tích mẫu
29
3.3.3. Phơng pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả
V.
Kết luận và kiến nghị
48
5.1. Kết luận
48
5.2. Kiến nghị
49
Tài liệu tham khảo
50
Phần Phụ lục
51
Phụ lục 1. Kết quả phân tích các đồng vị bền.
51
Phụ lục 2. Kết quả phân tích thành phần hóa học
58
Phụ lục 3. Bảng giải trình tài chính
60
H
trong 10
18
nguyên tử hyđro.
VSMOW Mẫu tham chiếu (reference) = Vienna Standard Mean
Ocean Water
GMWL Đờng nớc khí tợng toàn cầu (Global Meteoric Water
Line).
5
Abstract
Operating and exploiting reservoirs need frequent monitoring and maintenance of
the problems affecting safety of the reservoirs’ dams. The §ång M« reservoir was
constructed in 1969. In 1984 at the sub dam A (FA) toe a seepage pond had
occurred with high charging rate, so this dam was repaired in 1991. However, the
seepage rate is still high, and in addition, there are large seepage areas that could
expand unsafe problems of the dam FA.
To help end-users generate information on the origin of the seepage water and the
seepage rate we have conducted a research project on “Research on the use of
environmental isotopes technique for safety assessment of the §ång M« reservoir”
(Code: B0/05/04-01) in the 2005-2006 period. The experiences gained in this project
are needed for recommending further use of the technique in other reservoirs. The
main works were collecting water samples, analyzing for
18
O/
16
O, 6
Tóm tắt nội dung
Vận hành và khai thác an toàn các hồ chứa nớc đòi hỏi phải có sự theo dõi và xử lý
các nguyên nhân dẫn đến mất an toàn đập. Hồ Đồng Mô đợc xây dựng vào năm
1969, đến năm 1984 sau đập phụ A xuất hiện hố sủi lu lợng lớn do đó đập này
đợc sửa chữa vào năm 1991. Tuy nhiên lu lợng sủi vẫn còn cao, ngoài ra cũng tại
đập phụ A đ xuất hiện các vùng thấm rộng có thể gây mất an toàn đập.
Để góp phần đánh giá tốc độ thấm và mối liên hệ giữa nớc hồ với nớc thấm ở các
vai đập, các mạch sủi ở sau thân đập chúng tôi đ tổ chức thực hiện đề tài khoa học
công nghệ cấp Bộ Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật đồng vị tự nhiên phục vụ đánh giá
an toàn đập Đồng Mô (M số: B0/05/04-01) trong các năm 2005-2006. Việc thực
hiện đề tài này cũng là để đa ra các kiến nghị cụ thể cho việc áp dụng kỹ thuật
đồng vị tự nhiên vào các hồ chứa nớc khác. Nội dung nghiên cứu chính của đề tài
là thu thập các mẫu nớc, phân tích các tỉ số đồng vị bền
18
O/
16
O ,
2
H(D)/
1
H, phân
tích
3
H(T) và thành phần hóa của các mẫu nớc, qua đó đánh giá mối liên hệ giữa
gốc và lu lợng thấm, qua đó đánh giá đợc mức độ an toàn của các đập
chứa nớc. Hiện nay trên thế giới có hơn 60 phòng thí nghiệm chuyên dùng
các phơng pháp đánh dấu đồng vị để nghiên cứu các mối liên hệ giữa nớc
mặt (sông, hồ) với nớc ngầm, nớc thấm, sủi. Theo thống kê của Cơ quan
Năng lợng Nguyên tử thế giới (IAEA), hàng trăm đập chứa nớc đ đợc
đánh giá mức độ an toàn thông qua các ứng dụng của phơng pháp đồng vị.
Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu đ sử dụng kỹ thuật đánh dấu đồng vị
phóng xạ (
131
I) và đồng vị bền (
52
Cr) để nghiên cứu tốc độ thấm thành công tại
các đập thuỷ điện Yaly và Hoà Bình. Việc sử dụng các đồng vị tự nhiên -
ĐVTN (
18
O,
2
H(D) và
3
H (T)) nh những chất đánh dấu mới chỉ bắt đầu đợc
sử dụng tại Việt Nam để đánh giá tuổi và nguồn gốc nớc ngầm ở một số khu
vực của đồng bằng sông Hồng.
Việt nam có khoảng 3500 hồ chứa nớc, trong đó có khoảng trên 600 hồ chứa
nớc lớn với dung tích hơn 10 triệu khối nớc. Rất nhiều đập, đặc biệt là các
đập thuỷ lợi bị dò rỉ và thấm do đợc thiết kế và xây dựng đ lâu. Một trong
các hồ đó là hồ Đồng Mô. Hồ này đợc xây dựng vào năm 1969, gồm 7 đập,
dung tích thiết kế 110 triệu m
3
đồng vị phóng xạ và đồng vị bền khác do không phải thả các chất đánh dấu
vào các lỗ khoan quan trắc (pizometer). Ngoài ra, không phải đập nào cũng có
hệ thống pizometer. Vì vậy, kỹ thuật ĐVTN có thể sử dụng rộng ri hơn trên
các đập chứa nớc, đồng thời không làm ảnh hởng đến môi trờng xung
quanh. Việc xác định đợc tốc độ thấm của nớc hồ qua đập bằng kỹ thuật
ĐVTN, cũng nh đánh giá đợc nguồn gốc nớc tại các mạch sủi là một việc
làm rất quan trọng. Các thông số này sẽ trực tiếp giúp cho Công ty Khai thác
Công trình Thuỷ lợi Phù Sa - Đồng Mô đánh giá mức độ an toàn của đập phụ
9
A và có biện pháp xử lý các mạch sủi ở thân đập, góp phần bảo vệ an toàn cho
đập.
Cũng nh đập phụ A Đồng Mô, hiện nay có rất nhiều đập thuỷ lợi do Cục
Thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý bị dò rỉ cần phải
đánh giá mức độ thấm và an toàn. Kết quả của đề tài sẽ đợc chuyển giao cho
họ nh là một công cụ trong điều tra an toàn các đập chứa nớc. Ngoài ra, kỹ
thuật ĐVTN còn có thể đợc áp dụng cho các hồ thuỷ điện lớn nh Hoà Bình,
Sơn La trong việc đánh giá mức độ an toàn của đập cũng nh đánh giá mức độ
mất nớc của hồ.
Đề tài do các cán bộ của Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân (VKHKTHN)
thực hiện với sự tham gia của Cục Thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn (tạo điều kiện tham khảo tài liệu, thiết kế nghiên cứu) và Công Ty
Khai Thác Công Trình Thuỷ lợi Phù Sa- Đồng Mô (tham gia thu thập tài liệu,
thiết kế các vị trí nghiên cứu, lấy mẫu và xử lý đánh giá mức độ an toàn của
đập Đồng Mô). Đề tài đợc hực hiện trong hai năm 2005 - 2006, với nguồn
kinh phí là 250 triệu đồng do Bộ Khoa học và Công nghệ cấp từ Ngân sách Sự
nghiệp Khoa học.
1. Nớc từ hồ thấm dới và xung quanh đập
2. Nớc từ hồ thấm qua đập
3. Bồi lắng lòng hồ làm giảm khả năng tích nớc
Các nghiên cứu cho thấy trung bình hàng năm ngời ta phải chi nhiều triệu
USD để giải quyết vấn đề thấm qua đập chứa.
Vai trò của các kỹ thuật tiên tiến, trong đó có kỹ thuật hạt nhân (KTHN) trong
quản lý đập là đa ra các thông tin bổ ích giúp các nhà quản lý đập và hồ chứa
trong định hớng bảo vệ an toàn đập một cách tối u. Tuy nhiên, một trong
những nguyên nhân hạn chế của ứng dụng KTHN trong quản lý và khai thác
các hồ chứa là việc thiếu thông tin và hiểu biết về KTHN và khả năng của
chúng. Ước tính chỉ có 5% các nhà quản lý đập biết đến KTHN (Floegl,
1999). Tơng tự nh vậy, các nhà nghiên cứu về KTHN cũng không hiểu rõ
các vấn đề mà kỹ s thủy lợi quan tâm.
Kỹ thuật đồng vị (phóng xạ và đồng vị bền) có thể giúp ích rất nhiều. Các số
liệu về mối liên hệ giữa nớc hồ với nớc trong các mạch nớc thấm, các
mạch sủi và nớc ngầm ở khu vực xung quanh hồ có thể góp phần đánh giá
mức độ và tốc độ thấm của nớc hồ qua thân đập (Zuber, 1983). Các phơng
pháp đánh dấu đồng vị (phóng xạ và tự nhiên) đ đợc áp dụng rộng ri ở
nhiều nớc trên thế giới để đánh giá nguồn gốc và lu lợng thấm, qua đó
11
đánh giá đợc mức độ an toàn của các đập chứa nớc (Maloszewski và nnk,
1992; Kendall và McDonnell (Eds.), 1998, v.v.).
Các phơng pháp thủy văn đồng vị (TVĐV) có thể trợ giúp trong việc lựa
chọn và khảo sát địa điểm, nghiên cứu lu vực, thiết kế hồ chứa và đập, xây
dựng đập, nghiên cứu thấm và bồi lắng lòng hồ. Tổng hợp ứng dụng TVĐV
đợc đa ra trong Bảng 2.1.
C,v C,v
10. Xác định mật độ vùng khoan
phụt sửa chữa đập
NP P,l P,l
11. Xác định tốc độ bồi lắng Cs, Pb P,v
12. Xác định mật độ sa bồi NP C,v C,v
13. Kiểm soát mật độ NP P,l
14. Xác định dòng sa bồi NP P,l
15. Nghiên cứu xói mòn, bồi lắng
lu vực lòng hồ
Cs, Pb,
INAA
P,l
P,l P,l
Chú giải:
Kỹ thuật :
EI = Đồng vị tự nhiên (
18
O,
2
H (Deteri),
3
H (Triti),
13
C)
AT = Các chất đánh dấu
Ch = Hóa học
Rn = Radon-222 thoát ra từ đất đá
I) để nghiên cứu tốc độ
thấm thành công tại các đập thuỷ điện Yaly (1992) và Hoà Bình (1994). Năm
1996, PGS.TS Hoàng Đắc Lực đ sử dụng thành công phơng pháp đánh dấu
bằng đồng vị bền (
52
Cr) để nghiên cứu tốc độ thấm tại đập Hoà Bình. Cả hai
phơng pháp (đánh dấu đồng vị phóng xạ và đồng vị bền) đều đợc thực hiện
bằng cách thả các chất đánh dấu và quan trắc tại các pizometer đợc thiết kế
trên các thân đập. Các kết quả đánh giá tốc độ thấm đợc so sánh với số liệu
thiết kế qua đó đánh giá đợc mức độ an toàn của đập.
Việc sử dụng các ĐVTN (các tỉ số đồng vị
18
O/
16
O ,
2
H(D)/
1
H và
3
H (T)) nh
những chất đánh dấu mới chỉ bắt đầu đợc sử dụng tại Việt Nam để đánh giá
13
tuổi và nguồn gốc nớc ngầm ở một số khu vực của đồng bằng sông Hồng (đề
tài cấp bộ của PGS.TS Hoàng Đắc Lực: 2000-2001; các đề tài cấp Bộ của
Trịnh Văn Giáp, 2004 và 2006). Các ứng dụng trên đập còn cha đợc triển
khai do khó khăn về phân tích mẫu, các mẫu nớc thu thập đợc đều phải gửi
đi phân tích tại các phòng thí nghiệm của IAEA ở nớc ngoài.
O là khoảng 0.00204.
14
Bảng 2.2.
Các đồng vị bền trong nghiên cứu địa chất thủy văn (Zuber, 1983)
Đồng
vị
Tỉ số Thành phần
trong tự nhiên
(%)
Mẫu chuẩn
(tỉ số)
Các pha đo
2
H
2
H/
1
H 0.015 VSMOW
(1.5575 x 10
4
)
H
2
O, CH
2
O, CH
B/
10
B 80.1 NBS 951
(4.04362)
Nớc biển, đất sét, borat,
đất đá
13
C
13
C/
12
C 1.11 VPDB
(1.1237 x 10
2
)
CO
2
, carbonat, DIC, CH
4
,
hữu cơ
15
N
15
N/
14
N 0.366 N
2
không khí
(3.677x10
2
,
sulphat,
NO
3
, carbonat,
silicat, OH
khoáng
34
S
34
S/
32
S 4.21 CDT
(4.5005 x 10
2
)
Sulphat, sulphid, H
2
S, S-
hữu cơ
37
Cl
37
Cl/
35
Cl 24.23 SMOC
cần đo và mẫu tham chiếu. Thành phần đồng vị (TPĐV) đợc thể hiện là delta
(
) qua công thức sau: Trong đó:
sample
là mẫu cần đo và
reference
là mẫu chuẩn 15
Để cho tiện phân giải kết quả ngời ta cho giá trị đơn vị phần nghìn ()
theo công thức sau:
VSMOW
Trong đó VSMOW là tên của mẫu tham chiếu, trong trờng hợp này là
Vienna Standard Mean Ocean Water. Giá trị là dơng, ví dụ +10, cho
thấy mẫu đo có 10 phần nghìn hoặc 1%
18
O nhiều hơn so với mẫu chuẩn, hoặc
giầu hơn 10. Tơng tự, mẫu đo nghèo hơn một lợng tơng ứng sẽ đợc thể
hiện nh
18
O
mẫu
= 10 VSMOW.
O, CH
2
O
14
C 5730
Vũ trụ, thử vũ
khí hạt nhân, lò
phản ứng
DIC, DOC, CO
2
CaCO
3
, CH
2
O
Triti,
3
H, là đồng vị sống ngắn ngày của hyđro với thời gian bán r là 12,43
năm. Triti đợc tạo ra do việc thử bom hyđro và một phần đợc tạo ra từ khí
quyển do tia vũ trụ bắn phá
14
N. Cả hai nguồn triti đợc rơi lắng qua nớc
ma. Triti có trong nớc ngầm chứng tỏ có sự bổ cập nớc ngầm liên tục. Vì
là một phần của nớc nên triti là phơng pháp xác định tuổi nớc ngầm tiện
dụng nhất.
tạo ra bị thiếu TPĐV nặng theo một hệ số phân chia
e
trong điều kiện cân
bằng. Chúng ta có:
R
i
trong pha lỏng
=
R
i
trong pha khí
Trong đó R là tỉ lệ giữa số phân tử chứa đồng vị nặng trên số phân tử
nhẹ và chỉ số i là của phân tử nặng tơng ứng.
2) Hơi nớc thoát khỏi lớp khí-lỏng phía dới vào lớp trên của không khí bằng
cách di chuyển lên trên theo luật khuếch tán. Trong quá trình di chuyển lên
cao các phân tử nớc tiếp tục bị nghèo các thành phần nặng vì hệ số khuếch
tán của các thành phần nặng (D
i
) nhỏ hơn hệ số khuếch tán của các thành
phần nhẹ (D
l
). Ngời ta đ ớc lợng đợc lợng đồng vị bị nghèo đi từ quá
trình này gần bằng (D
i
/D
l
)
1/2
phép ta phân biệt nớc ngầm đợc bổ cập bình thờng với nớc đ bị bốc hơi.
Kỹ thuật đơn giản này lại đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu thấm qua
đập. Các hố sủi và vùng thấm sau thân đập luôn làm các nhà quản lý lo ngại.
Câu hỏi đợc đặt ra là nguồn gốc nớc thấm từ đâu, liệu nớc thấm có phải từ
hồ chứa hay đơn giản đó chỉ là hoạt động bình thờng của hệ thống địa chất
thủy văn. Xác nhận ban đầu đó có thể tiết kiệm rất nhiều tiền của và công sức
trong việc tìm ra vùng xung yếu trên thân đập.
Trong nhiều trờng hợp, các giếng phun (sủi) sau thân đập không phải là nớc
thấm trực tiếp qua thân đập mà do áp lực thủy áp đẩy nớc ngầm từ phía dới
lên trên qua lớp trầm tích. Các ĐVTN (đồng vị bền và phóng xạ) có thể giúp
xác định điều này. 2.4. Tổng quan về đập phụ A và hồ
Đồng Mô
(Các tổng quan về hồ Đồng Mô sau đây đợc trích từ các báo cáo của Bộ Thủy Lợi).
Hồ Đồng Mô là một công trình thuỷ lợi loại vừa xây dựng năm 1968 và đợc
đa vào sử dụng năm 1972. Hồ gồm 7 đập, dung tích 110 triệu m
3
(cao độ tích
nớc 24,5 m). Năm 1984, sau đập phụ A xuất hiện hố sủi lu lợng 20 lít/s.
Đập này đợc chữa vào năm 1991. Tuy nhiên lu lợng sủi vẫn còn 7 lít/s, và
18
vào mùa lũ 2004 đ tăng lên là 14 lít/s (với cao độ tích nớc là 19 m). Cũng tại
đập phụ A đ xuất hiện vùng thấm rộng 20 m
2
, ở cao trình 15 m, cách vai trái
19
núi. Vì thế, các lớp đất đá có nhiều thay đổi và khá phức tạp. Bên cạnh các lớp
trầm tích Đệ Tứ, còn tồn tại một lợng nhỏ các lớp trầm tích trớc Đệ Tứ
(Hình 2.1).
Hình 2.1. Mặt cắt địa chất tuyến đập phụ A
Tuyến đập phụ A gồm có các lớp sau:
- Lớp 2b: Đất thịt nặng - sét nhẹ chứa nhiều bùn hữu cơ xám đen, trạng
thái dẻo chảy - chảy, có bề dày thay đổi, ở thợng lu dày 1 - 2m còn ở hạ lu
và tim đập dày tới 4m, nơi mỏng nhất dày 0,4m.
- Lớp 4: Bùn hữu cơ xám đen, trạng thái dẻo chảy, có bề dày thay đổi, ở
thợng lu dày 2,5m còn ở hạ lu và tim đập dày tới 4m, nơi mỏng nhất dày
1,2m.
20
- Lớp 9: Đất sét trung màu vàng xẫm, hơi ẩm, trạng thái dẻo cứng, phân
bố chủ yếu ở hai vai đập. Bề dày khoảng 2m.
- Lớp 10: Sạn sỏi laterit lẫn sét màu vàng xẫm đến nâu đỏ, phân bố chủ
yếu ở hai vai đập. Bề dày trung bình khoảng 2m, có chỗ dày tới 2,5m, ở mặt
cắt thợng lu và tim đập dày 1,5m.
- Lớp 11a: Đất thịt trung, thịt nặng, màu vàng xẫm, phân bố chủ yếu ở
nền đập. Bề dày khoảng 8m.
- Lớp 11b: Đất sét nhẹ, trung màu vàng trắng. Chỉ phân bố ở mặt cắt tim,
bề dày thay đổi khá lớn từ 2m tới 20m.
2.4.3. Thiết kế và xây dựng đập
Đập phụ A đợc đắp đều bằng đất, chắn ngang một nhánh suối nhỏ từ lu vực
chảy ra suối Ngải Sơn ở phía hạ lu đập. Tại vị trí này đập dài gần 100 m gối
phần chắn đập hạ lu của đập phụ A. Để đảm bảo an toàn cho đập, xí nghiệp
thuỷ nông Đồng Mô - Ngải Sơn đ ký hợp đồng với Viện khảo sát và thiết kế
thuỷ lợi (nay là công ty t vấn xây dựng thuỷ lợi I) khảo sát thiết kế và thi
công xử lý chống thấm cho đập bằng phơng pháp khoan phụt dung dịch sét -
xi măng. Viện khảo sát và thiết kế thuỷ lợi đ khoan khảo sát, lấy mẫu và thí
nghiệm các mẫu đất nguyên dạng, điều tra hiện trạng của đập.
ở
hạ lu đập phụ A, hiện tợng rò rỉ xảy ra chủ yếu là ở chân đập, đặc biệt là
bên vai phải thân đập thay đổi theo mực nớc trong hồ. Khi mực nớc trong
hồ là 17,5 m thì mực nớc rò rỉ xuất hiện ở cao trình là +12 m đến +12,5m.
Nếu nớc hồ ở +14.5 m thì rò rỉ ở +10,5 m. Hai vai đập phụ A đợc khoan
phụt xi măng và sét nhng hiệu quả có mức độ. Quan sát ngày 28/5/1990 ở
vùng biên vai phải đập ở cao trình +13 m đến +14 m thấy mái đập bị sũng
nớc và hơi lép mái. Bên phía vai trái đập cũng nh trên toàn bộ mặt mái đập
hạ lu, khi mực nớc ở cao trình +19,00 cũng không quan sát thấy hiện tợng
nớc rò rỉ ra.
Kết quả đo vẽ tháng 4 năm 1991 cho thấy, mặt cắt đập đắp lớn hơn mặt cắt
thiết kế. Bùn hữu cơ ở nền đập này không đợc bóc kỹ. Ngoài ra đồi hai vai
đập khá dốc, nớc ma chảy dồn vào cuối mái đập, vùng biên cần đợc cách
ly.
2.3.5. Nguyên nhân rò rỉ
Thân đập không đồng nhất về thành phần độ hạt và độ chặt với đất laterit
nguồn gốc tàn tích dễ tạo nên hang ổ, hang hốc dẫn đến lún cục bộ và khe nứt
ngày càng mở rộng, các liên thông không theo một quy luật nhất định, và bài
toán thấm phẳng để kiểm tra đờng bo hoà trong đập cũng chỉ là gần đúng.
22
Đề tài đợc thực hiện tại hồ Đồng Mô, thuộc x Sơn Đông, Thị X Sơn Tây,
tỉnh Hà Tây (Hình 3.1)
Hình 3.1.
Vị trí địa lý hồ Đồng Mô
3.1. Thiết kế nghiên cứu
Đề tài đợc thiết kế để lấy hai loại mẫu nớc nghiên cứu nh sau :
1) Các mẫu khảo sát (KS) nguồn gốc và loại nớc để đánh giá mối liên hệ
giữa nớc hồ với nớc trong các mạch thấm, sủi và nớc ngầm ở khu vực xung
quanh đập phụ A. Các mẫu này đợc lấy trong hai mùa: mùa ma khi hồ đầy
nớc và mùa khô khi hồ cạn nớc (15 mẫu x 2 lần = 30 mẫu). Sơ đồ vị trí các
điểm lấy mẫu khảo sát đợc đa ra tại Hình 3.2. Trên hình này, các điểm
khảo sát trên hồ trong mùa tích nớc đầy (10/2005) đợc thể hiện bằng các
chữ số KS1, KS2, v.v., các điểm khảo sát trên hồ trong mùa khô có mực nớc
cạn (05/2006) đợc thể hiện bằng các chữ số KS21, KS22, v.v. Hình 3.3 thể
hiện chi tiết các điểm khảo sát quanh đập phụ A.
Vị trí nghiên cứu
24
Hình 3.2. Sơ đồ vị trí các điểm lấy mẫu khảo sát trên hồ Đồng Mô.
Hình 3.3. Sơ đồ vị trí các điểm khảo sát quanh đập phụ A