NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
1
1. Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945
đến hết thế kỷ XX. 2
2. Hồ Chí Minh 2
3. Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh. 3
4. Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
– Phạm Văn Đồng. 3
4. Tây Tiến – Quang Dũng. 4
5. Tố Hữu 4
6. Việt Bắc (trích) – Tố Hữu 5
7. Đất Nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng)
- Nguyễn Khoa Điềm. 6
8. Sóng – Xuân Quỳnh. 10
9. Đàn ghi- ta của Lor-ca – Thanh Thảo 12
10. Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) – Hoàng Phủ Ngọc Tường. 16
11. Người lái đò Sông Đà (trích) - Nguyễn Tuân. 18
12. Vợ chồng A Phủ (trích) – Tô Hoài. 21
13. Vợ nhặt (Kim Lân). 23
14. Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành. 28
15. Những đứa con trong gia đình (trích) - Nguyễn Thi. 31
16. Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu. 33
17. Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ. 35
18. Phụ lục văn học nước ngoài 37
Khái quát văn học Việt Nam
từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX
1/ Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975
a/ Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.
b/ Nền văn học hướng về đại chúng
c/ Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
2/ Những đặc điểm cơ bản của Văn học Việt Nam từ sau 1975 đến hết thế kỉ XX?
và người cầm bút phải là “chiến sĩ trên mặt trận ấy”:
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
( Cảm tưởng đọc Thiên gia thi )
+ Người chủ trương văn học phải phản ánh cuộc sống một cách chân thật và đậm tính dân tộc. Hình thức
phải trong sáng, hấp dẫn.
+ Người nêu kinh nghiệm sáng tác : Bao giờ cũng xác định rõ đối tượng và mục đích : Viết cho ai? Viết để
làm gì? Từ đó mới xác định nội dung và hình thức viết : Viết cái gì? Viết như thế nào?
2 . Về sự nghiệp văn học
Nguyễn Ai Quốc-Hồ Chí Minh đã để lại một di sản văn học đồ sộ và đa dạng : truyện ngắn, phóng sự, hồi
kí, bút kí, tiểu phẩm, tuyên ngôn, lời kêu gọi, thư từ, thơ tiếng Việt và tiếng Hán, kịch bản …Tác phẩm văn học
của Người được viết bằng tiếng Pháp, Hán văn và tiếng Việt. Sự nghiệp sáng tác nổi bật ở 3 lĩnh vực : Văn chính
luận, Truyện và ký, Thơ ca.
Văn chính luận được viết với mục đích tiến công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện nhiệm vụ cách mạng trong
từng giai đoạn. Các tác phẩm tiêu biểu như Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến, Không có gì quí hơn độc lập tự do …
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
2
Truyện và kí tiêu biểu trước hết là những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp vào khoảng đầu những năm 20
của thế kỉ XX như Vi hành, Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, Lời than vãn của bà Trưng Trắc … Các
tác phẩm này cũng nhằm mục đích tiến công kẻ thù nhưng bằng hình tượng nghệ thuật.
Thơ ca là lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tạo văn chương của Hồ Chí Minh. Trên 250 bài thơ ở ba tập
Nhật kí trong tù, Thơ Hồ Chí Minh và Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh.
3. Về phong cách nghệ thuật
+ Văn chương của Người kết hợp mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa
truyền thống và hiện đại. Mỗi loại hình đều có phong cách riêng, độc đáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững.
- Văn chính luận: lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ, đanh thép; giọng điệu đa dạng; giàu tính luận chiến.
- Truyện và kí: kết hợp linh hoạt cách viết hiện đại với cách kể truyền thống; lối trào phúng giàu chất trí tuệ; giọng
khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới; mở ra kỉ nguyên độc lập tự do trên
đất nước ta.
- Tuyên ngôn độc lập là một tác phẩm chính luận đặc sắc : lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng
xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc, …
- Tuyên ngôn độc lập còn là một áng văn tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3/ Ý nghĩa của việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập (Mỹ) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (Pháp)
trong phần mở đầu Tuyên ngôn Độc lập
- Nêu lên những nguyên lí chung về quyền được tự do bình đẳng của con người để khẳng định lập trường
chính nghĩa của dân tộc; tạo vị thế bình đẳng giữa Việt Nam với các nước lớn trên thế giới.
- Đưa ra những lí lẽ thuyết phục để chuẩn bị tiền đề cho lập luận ở phần tiếp theo, làm cơ sở cho cả hệ
thống lập luận của bản tuyên ngôn.
• Luyện tập
1/ Nêu hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác Tuyên ngôn độc lập.
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
3
2/ Giá trị Tuyên ngôn độc lập
3/ Ý nghĩa của việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập (Mỹ) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền (Pháp) trong phần mở đầu Tuyên ngôn Độc lập ?
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC
PHẠM VĂN ĐỒNG
1/ Hoàn cảnh và mục đích sáng tác
- Hoàn cảnh sáng tác:
+ Viết nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3/7/1888). Tác phẩm được đăng trên
Tạp chí Văn học tháng 7/1963.
+ Hoàn cảnh đất nước: Mĩ can thiệp vào chiến trường Việt Nam ngày càng nhiều, đánh phá miền Nam và
chuẩn bị tiến hành chiến tranh xâm lược miền Bắc, phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam đang diễn ra
mạnh mẽ.
- Mục đích sáng tác:
+ Tưởng nhớ, định hướng cách nhìn nhận, đánh giá về thơ văn NĐC
- Hình ảnh người lính trên chặng đường hành quân đầy gian nan, nguy hiểm; tuy vất vả, hi sinh nhưng
vẫn ngang tàng, trẻ trung, lãng mạn.
- Nghệ thuật: kết hợp hài hoà giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn; ngôn ngữ giàu tính tạo hình, giàu
nhạc điệu; biện pháp tu từ đặc sắc;
c. Đánh giá chung về đoạn thơ.
ĐỀ 4 :
a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
b. Phân tích
- Giải thích ngắn gọn : Cảm hứng lãng mạn chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí
tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào
tương lai tươi sáng của dân tộc.
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
4
- Chất lãng mạn trong Tây Tiến chính là cảm hứng hướng đến vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc và người
lính Tây Tiến .
+ Khai thác triệt để thủ pháp đối lập : cảnh vật và con người được dựng lên ở một biên độ rất rộng. Vì
thế, bên cạnh một Tây Bắc hùng vĩ dữ dội có một Tây Bắc mĩ lệ duyên dáng, giữa hai nét gân guốc táo bạo và
tươi tắn mềm mại, giữa hai gam màu vừa chói gắt vừa quyến rũ lạ thường.
+ Tô đậm màu sắc xứ lạ phương xa : Đó là những “hội đuốc hoa” . Đó là những “chiều sương” ở Châu
Mộc, là “hồn lau” thấp thoáng “nẻo bến bờ”, là dáng người mảnh mai, mềm mại trên dòng suối
+ Chân dung người lính Tây Tiến hiện lên trên cái nền hùng vĩ và mĩ lệ của núi rừng Tây Bắc.
- Tính chất lãng mạn còn thể hiện ở một phương diện khác, đó là gắn liền với cảm hứng bi tráng.
c. Đánh giá chung
Tác gia TỐ HỮU
1/ Đường cách mạng, đường thơ :
- Tố Hữu đến với thơ và cách mạng cùng một lúc. Các chặng đường thơ song hành với các giai đoạn đấu
tranh cách mạng ; đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ.
- Năm tập thơ tiêu biểu là Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa.
+ Từ ấy (1937-1946), chặng đường đầu mười năm thơ Tố Hữu, cũng là mười năm hoạt động sôi nổi của
người thanh niên giác ngộ lí tưởng cộng sản và sẵn sàng chiến đấu xả thân cho lí tưởng. Tập thơ có ba phần :
• Luyện tập
1/ Cảm hứng sáng tác
2/ Trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc, Tố Hữu đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu
tính dân tộc nào? Những phương tiện đó phù hợp với việc diễn tả tình cảm gì của người cán bộ
kháng chiến và nhân dân Việt Bắc?
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
5
3/ Phân tích vẻ đẹp của “bộ tranh tứ bình” về thiên nhiên và con người Việt Bắc trong bài
thơ Việt Bắc của Tố Hữu.
4/ Phân tích 20 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.
• Gợi ý
ĐỀ 1
- Hoàn cảnh ra đời : Việt Bắc là đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp, là căn cứ vững chắc của
Trung ương Đảng và Chính phủ. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí
kết (tháng 7-1954), hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mới của đất nước được
mở ra. Tháng 10-1954, Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện
thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc.
- Việt Bắc là một trường thiên, có thể chia làm hai phần. Phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và
kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc. Phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ca ngợi công ơn của Đảng,
của Hồ Chủ tịch đối với dân tộc.
Việt Bắc chính là khúc hát ân tình của những người kháng chiến đối với quê hương đất nước, đối với
nhân dân và cách mạng.
ĐỀ 2
+ Tố Hữu đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc:
- Thể thơ lục bát mềm mại, uyển chuyển của dân tộc được Tố Hữu sử dụng điêu luyện kết hợp với lối
hát đối đáp giao duyên vốn quen thuộc trong ca dao dân ca
- Tác giả đã chọn lựa và sử dụng thật linh hoạt và đầy sáng tạo cặp đại từ nhân xưng vốn quen thuộc
trong ca dao dân ca “mình – ta”
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
6
- Mùa hè đến trong âm thanh rộn rã của tiếng ve, cũng là thời điểm rừng phách đổ vàng. Đây là một bức
tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh màu sắc và rộn rã âm thanh.
Hình ảnh "cô em gái hái măng một mình" gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái. Đằng
sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác giả.
- Thu sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu
mát.
Đó là tiếng hát trong trẻo của đồng bào dân tộc, là tiếng hát nhắc nhở thủy chung ân tình.
c. Đánh giá chung
ĐỀ 4
a. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
b. Phân tích
- Bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
+ Điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ.
+ Các xưng hô “mình - ta” mộc mạc, gợi liên tưởng ca dao: “Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo,
ta đề câu thơ”.
+ “15 năm” là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào
Việt Minh, đồng thời cũng là chi tiết gợi cảm - nói lên chiều dài gắn bó thương nhớ vô vàn.
+ Hai câu hỏi liên tiếp chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn
“núi, nguồn”
- Bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về:
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
kỉ niệm kháng chiến.
+ “Miếng cơm chấm muối” là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Và cách nói “mối
thù nặng vai” nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè nặng vai dân tộc ta.
+ Hình ảnh “Trám bùi để rụng, măng mai để già” gợi nỗi buồn thiếu vắng - “Trám rụng - măng già”
không ai thu hái. Nỗi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng kẻ ở lại. Tiễn người về sau chiến thắng và chính trên
cái nền của sự chiến thắng đó, đã làm cho nỗi buồn nhớ trở nên trong sáng. Việt Bắc vẫn “một dạ khăng khăng
đợi thuyền”, đồng thời nhắc nhở khéo léo tấm “lòng son” của người cán bộ chiến sĩ.
+ Xin đừng quên thời kỳ “kháng Nhật thuở còn Việt Minh”, đừng quên cội nguồn cách mạng, đừng quên
để chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng.
c. Đánh giá chung
Tóm lại, đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ, là lời tâm tình của Việt Bắc. Đoạn thơ trên tiêu biểu sắc
thái phong cách Tố Hữu, giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm, mang đậm phong vị ca dao dân gian, đề cập đến
con người và cuộc sống kháng chiến. Thông qua hình tượng Việt Bắc, tác giả ca ngợi phẩm chất cách mạng cao
đẹp của quân dân ta, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt của người cán bộ, chiến sĩ đối với Việt Bắc.
ĐẤT NƯỚC
(trích Trường ca Mặt đường khát vọng)
NGUYỄN KHOA ĐIỀM
• Luyện tập
1/ Trong chương Đất Nước,tác giả đã thể hiện tư tưởng cốt lõi gì, phát niện mới mẻ về Đất
Nước ở những phương diện nào, ý nghĩa của sự phát hiện đó ?
2/ Nêu ví dụ và nhận xét về cách sử dụng chất liệu văn hoá dân gian của tác giả?
3/ Phân tích chín câu đầu của đoạn trích.
• Gợi ý
ĐỀ 1
- Nguyễn Khoa Điềm tập trung thể hiện tư tưởng cốt lõi “ Đất Nước của Nhân dân”.
- Đất nước được cảm nhận ở chiều dài thời gian-lịch sử, ở chiều rộng không gian-địa lí, ở bề dày của văn
hoá-phong tục. Qua đó, hình ảnh đất nước hiện lên vừa thiêng liêng lớn lao sâu xa, vừa gần gũi thân thiết tự
nhiên với mỗi người.
ĐỀ 3
đấu và sự tự nhận thức sâu sắc về Đất Nước, về Nhân dân qua những trải nghiệm của chính mình. Đoạn thơ trên
thuộc chương V trong Trường ca Mặt Đường Khát Vọng. Trường ca này được tác giả hoàn thành ở chiến trường
Trị – Thiên năm 1971. Mới nhìn thì chương V có vẻ không gắn với các chương khác, nhưng kì thực đây lại là
điểm tựa, là cột trụ của tư tưởng tác phẩm : sự tự nhận thức của tuổi trẻ Việt Nam đứng về phía nhân dân, chia
sẻ vận mệnh và trách nhiệm với dân tộc trong cuộc đấu tranh để giải phóng và bảo vệ đất nước. Tư tưởng xuyên
suốt chương thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm chính là tư tưởng :
Để Đất Nước này là đất nước của Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.
Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” được thể hiện một cách nhuần nhuyễn bằng “Đất Nước của ca dao
thần thoại”. Chất liệu văn hoá, văn học dân gian kết tinh vẻ đẹp tâm hồn, truyền thống tinh thần của Nhân dân.
Trong đoạn thơ trữ tình chính luận này, Nguyễn Khoa Điềm trình bày những cảm xúc và suy tưởng về
Đất Nước dưới dạng một lới trò chuyện tâm linh, mạch cảm hứng và liên tưởng có vẻ tự do, phóng túng như
một thứ tuỳ bút thơ. Qua đó, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo được bút pháp nghệ thuật : biến một vấn đề chính trị
thành một câu chuyện tâm tình, chuyển hoá ý thức công dân thành tình cảm cá nhân, đời tư hoá một chủ đề sử
thi.
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Với giọng tâm tình sâu đậm, đằm thắm, câu thơ mở đầu quyết định chất giọng cho cả đoạn thơ. “Ta” hoà
vào “Đất Nước”, lấy trải nghiệm bản thân để suy ngẫm về Đất Nước.
Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể.
Lịch sử trường tồn của đất nước, chiều dài thời gian được nhắc đến không bằng cách thức trang trọng khi
điểm lại các triều đại, mà bằng hình ảnh “ngày xửa ngày xưa”. Hình ảnh đó nằm trong đời sống tâm linh của
mỗi con người Việt Nam, thế giới cổ tích luôn chất chứa ước mơ đẹp của nhân dân về cuộc đời tốt đẹp giành
cho cái thiện, cái tâm.
Mạch thơ chuyển hoá bất ngờ mà tự nhiên :
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.
Miếng trầu bà ăn, trồng tre đánh giặc là những hình ảnh dân dã, mộc mạc, bình dị trong sinh hoạt tập
quán của người Việt từ ngàn đời nay. Câu thơ còn gợi nhớ đến những truyền thuyết và cổ tích vào loại xa xưa
nhất của dân tộc : Thánh Gióng và Trầu Cau. Đồng thời thế giới trong hai câu chuyện trên tô đậm những phẩm
chất của dân tộc ta, đó là tình nghĩa thuỷ chung trong quan hệ gia đình, yêu nước bất khuất trong đấu tranh giữ
Đất Nước không xa xôi trừu tượng, không ở đâu xa, Đất Nước là những gì có thể bắt gặp ở ngay trong
cuộc sống của mỗi gia đình, của mỗi con người. Đất Nước đã được phát hiện từ trong cổ tích mẹ kể, miếng trầu
bà ăn, ngôi nhà ta ở, hạt gạo ta dùng. Đất Nước hiện diện từ câu ca dao bình dị, từ cái kèo cái cột nôm na, từ vị
gừng cay muối mặn mộc mạc, từ cách bới tóc sau đầu của người phụ nữ, từ hạt gạo dãi dầu một nắng hai sương
…
Đoạn thơ mở đầu cho một chương trong trường ca Mặt Đường Khát Vọng đã nói lên một điều có ý nghĩa
là, dù Đất Nước là đề tài muôn thuở, nhưng mỗi thời có cách cảm nhận riêng, làm phong phú thêm về Tổ Quốc
thiêng liêng. Nhưng tất cả đều phải xuất phát từ một tấm lòng chung, đó là sự thiết tha, sự thuỷ chung với giang
sơn Tổ Quốc. Có như thế tiếng thơ mới có thể làm rung động trái tim hàng triệu con người.
SÓNG
XUÂN QUỲNH
• Luyện tập
1/ Nhận xét hình tượng thơ
2/ Phân tích vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ đang yêu trong bài thơ Sóng.
• Gợi ý
ĐỀ 1
- Bao trùm cả bài thơ là hình tượng “sóng”, nhưng còn một hình tượng nữa là “em”.
- “Sóng” là hình tượng ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hoá thân của “em”. “Sóng” và
“Em” vừa hoà nhập, vừa phân đôi ra để soi chiếu vào nhau, cộng hưởng.”Em” soi vào “Sóng” để hiểu rõ mình,
“Em” nhờ “Sóng” để biểu hiện những trạng thái của tâm hồn.
ĐỀ 2
a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
b. Phân tích
- Bốn khổ thơ đầu, con sóng có tính đối cực trong một chỉnh thể. Tâm hồn đang yêu đang tự nhận thức
những biến động khác thường của lòng mình và khát khao vượt ra khỏi những giời hạn chật chội, tìm đến những
miền bao la vô tận, như con sóng phải từ sông ra bể.
Sóng trường tồn với thời gian, cũng như nỗi khát vọng tình yêu của con người- nhất là người trẻ tuổi
còn mãi mãi.
- Ba khổ giữa :
ồn ào”, lại vừa “dịu êm, lặng lẽ”, chính như trạng thái tâm hồn người phụ nhữ đang yêu, mang trong mình
những đối nghịch, thất thường. Với sức sống và khát vọng không lúc nào nguôi ngoai, yên định, con sóng không
thể không “tìm ra tận bể”. Hành trình của sóng hướng về biển rộng cũng chính là sự dứt khoát chối bỏ những
giới hạn chật chội, những thoả mãn tầm thường để tìm đến những chân trời bao la, những khát vọng lớn rộng.
Chỉ có ra đến biển, con sóng mới thật sự tìm thấy mình, mới nhận thức được sức mạnh và những khát khao của
nó. Tình yêu cũng có qui luật của nó là sự vận động hướng về cái mới mẻ, cao rộng, như có lần Xuân Quỳnh
phát biểu :
Bởi tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên.
Biển là biểu tượng của không gian lớn rộng, cũng như sóng là sự vĩnh hằng với thời gian. Đứng trước
biển người ta thường nghĩ đến cái vô cùng vô tận của tự nhiên, của vũ trụ. Với Xuân Quỳnh bao giờ biển cũng
khơi dậy những ước mơ, khát vọng lớn lao : Suốt cuộc đời biển gọi ước mơ. Nỗi khát vọng những phương trời
chưa đến.
Sóng trường tồn với thời gian, không ngừng nghỉ, không mệt mỏi “ngày xưa và ngày sau vẫn thế”. Cũng
như nỗi khát vọng tình yêu sống mãi mãi với con người, trước hết là với tuổi trẻ:
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ.
Đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi về sự khởi nguồn của tình yêu, người phụ cũng lại soi vào sóng : “Sóng
bắt đầu từ gió, gió bắt đầu từ đâu ?” và chợt nhận thức về cái qui luật không thể cắt nghĩa rõ ràng của tình yêu :
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau.
Cái điều mà trước kia Xuân Diệu đã tổng kết như phát biểu một chân lí : “Làm sao cắt nghĩa được tình
yêu”, thì nay Xuân Quỳnh lại phát hiện nó, nhưng bằng trực cảm, bằng sự trải nghiệm của chính lòng mình,
được nói lên như một lời “thú nhận” thành thật, hồn nhiên mà không kém ý nhị, sâu sắc.
Tình yêu đi liền với nỗi nhớ. Tâm hồn đang yêu lại soi vào sóng mà diễn tả cái sâu sắc, bao la của nỗi
nhớ trong lòng mình : nó choán đầy cả tầng sâu và bề rộng, nó chiếm lĩnh trọn cả thời gian :
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Oi con sóng nhớ bờ
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
Để ngàn năm còn vỗ.
Khát vọng yêu cũng là khát vọng sống mãnh liệt, đủ đầy. Cuộc đời một con người dù có là dài thì rồi
năm tháng cũng sẽ đi qua, nhưng tình yêu lớn sẽ còn mãi với thời gian, với các thế hệ con người.
Xuân Quỳnh như sinh ra để yêu làm thơ. Thơ với Xuân Quỳnh là sự tiếp tục trọn vẹn và sâu sắc thêm
cuộc sống chính mình. Sóng là một bài thơ như thế đó, thơ ca và tình yêu hoà hợp vào nhau để nói lên khát
vọng sống mạnh mẽ, hết mình :
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt đời thường ai chẳng có
Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.
ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA
THANH THẢO
• Luyện tập
1/ Ý nghĩa câu đề từ
2/ Cảm nhận về 2 đoạn thơ đầu trong bài Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo.
3/ Cảm nhận vẻ đẹp bài thơ.
• Gợi ý
ĐỀ 1
Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (trích Khối vuông ru-bích, 1985) của Thanh Thảo, lấy cảm hứng từ nhân cách cao
đẹp cùng số phận oan khuất của nghệ sĩ Tây Ban Nha tài hoa.
Câu đề từ bài thơ "khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn" được Thanh Thảo lấy từ câu thơ của Lor-ca trong bài Ghi
nhớ : "khi nào tôi chết - hãy vùi xác tôi cùng cây đàn - dưới lớp cát". Hình tượng cây đàn, tiếng đàn ghi ta đồng nhất với
hình tượng Lor-ca.
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
12
Nó là linh hồn của Lor-ca, là tinh thần yêu tự do, yêu cuộc sống, yêu nhân dân. Nó là số phận Lor-ca.
Nó là mọi cung bậc thơ Lor-ca, mọi cung bậc cuộc đời Lor-ca : ngọt ngào và cay đắng, hạnh phúc và bi kịch, …
Tiếng đàn không thể chôn được như linh hồn Lor-ca, như thơ Lor-ca không thể bị hủy diệt. Cây đàn giống như
một chiếc thuyền giúp Lor-ca vượt dòng thời gian để đến được với cõi bất tử.
thơ, nhạc đã thực sự là phần hồn của thơ. Nó là hơi thở của ngôn từ thơ. Tất nhiên, đây là nói nhạc của ngôn
ngữ. Thơ đã phát huy bao hiệu quả phong phú của ngôn ngữ để cất lên tiếng nói riêng của mình.
Không chỉ vậy, để làm giàu cho mình, thơ còn khai thác cả ngôn ngữ của nhạc nữa. Bao đời nay, đã có
biết bao yếu tố nhạc từ vương quốc âm nhạc đã vượt biên, rồi nhập tịch vào thơ, ban đầu, tạm trú, về sau,
thường trú. Thậm chí, nhờ sự cưu mang quá sâu nặng của thơ, trải đời này đời khác, mà nhiều thứ đã được
đồng hoá luôn. Dân ngụ cư đã biến thành dân sở tại. Gốc gác âm nhạc của chúng, đôi khi, chỉ còn là kí ức xa
xăm. Đó phải chăng cũng là một kiểu hoà nhập tiếp biến ?
Là một tay bút ham cách tân, Thanh Thảo cũng đã tạt sang âm nhạc vay mượn không ít vốn liếng đem về
đầu tư cho thơ mình. Để làm các trường ca Những người đi tới biển, Những nghĩa sĩ Cần Giuộc, Bùng nổ của
mùa xuân, Đêm trên cát , anh đã mướn cấu trúc của những bản giao hưởng và xônát. Khiến cho các thi phẩm
ấy có cái dáng là lạ như một thứ trường-ca- giao-hưởng. Còn để viết thơ ngắn, lắm khi anh lại giật tạm cấu trúc
của ca khúc. Có lúc thì đem về lai ghép để tạo ra một diện mạo mới. Cũng có lúc lại làm theo kiểu biến đổi gen
mà tạo ra giống mới. Nhiều bài thơ ngắn được anh tổ chức khá ngon lành theo thể thức của bài hát. Dáng của
chúng nhang nhác như những ca-khúc-thơ. Mà cũng không chỉ vay cấu trúc thuộc văn bản khúc ca, anh còn
mượn cả lối diễn tấu ca khúc để làm giàu cho hình thức thơ nữa. Đàn ghi-ta của Lorca là một "ca" như thế
chăng?
Nòi nghệ sĩ vốn dễ đồng bệnh tương lân. Do đồng bệnh mà đồng điệu. Cho nên, có một cách để hiểu
một kẻ viết : cứ xem anh viết về ai, có thể biết anh là ai. Trong các thi sĩ nội, Thanh Thảo mê nhất Nguyễn Đình
Chiểu, Cao Bá Quát, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Văn Cao, Đặng Đình Hưng Còn những thi sĩ ngoại,
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
13
thấy anh viết đậm về Aragông, Êxênhin, Maicôpxki, Pasternac, Lorca Về từng vị đều có những kí thác, những
đồng điệu riêng. Nhưng, trong số những tay bút Tây phương anh ngưỡng mộ, thì trường hợp về Lorca, xem ra,
thành công hơn cả. Là một nhà thơ lớn của Tây Ban Nha hiện đại, Lorca đã đem được chất dân gian Anđaluxia
cùng sức sống của xứ sở bò tót vào thơ mình. Lại thạo dân nhạc, ông thường thích đi khắp xứ như một gã Digan
đơn độc mà hát lên những bài thơ của mình như những khúc romance, ballad. Bởi vậy, Lorca như một nghệ sĩ
kép : thi si kiêm nhạc sĩ. Cũng bởi vậy nhiều bài thơ Lorca thường sống cuộc đời kép : thi phẩm và nhạc phẩm
Có người sẽ nghĩ : thơ về một nghệ sĩ độc đáo như thế, nếu có được một hình thức kép nữa thì thật là
tam hợp ! Nhưng, tam hợp lại dễ sinh tam tai. Thanh Thảo không dại thế. Vả, làm thế cũng đâu ra võ của anh.
Không thuộc kiểu thi sĩ mớm thơ cho nhạc, càng không phải một tay vãi nhạc vào thơ. Anh vẫn đi lại với nhạc,
thân của thiên mệnh. Đường chỉ tay đã đứt tượng trưng cho cú giáng phũ phàng trái ngang của số mệnh. Chiếc
ghi-ta tượng trưng cho âm nhạc và thơ ca. Nó là cây đàn lia của chàng nghệ sĩ tài hoa. Chiếc ghita màu bạc là
biến ảnh của chiếc ghi-ta nâu khi đã sang cõi khác. Đúng hơn, là chiếc ghi-ta đã hoá, giờ sang cõi siêu sinh. Thi
sĩ bơi trên chiếc ghi-ta chính là bơi trên con thuyền của thi ca đang vượt qua bến bờ sinh tử. Lá bùa cô gái di-
gan là cái đẹp huyền bí. Xoáy nước là tai hoạ định mệnh trên dòng sông của số phận, cũng là cái dòng sông ranh
giới giữa cõi sống và cõi chết, giữa thực tại và hư vô. Hành động ném lá bùa và ném trái tim đều giàu hàm ý
tượng trưng về sự giã từ, sự giải thoát của Lorca Lối viết này không còn xa lạ đối với người đọc thơ Xuân
Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên hay nhóm Xuân Thu nhã tập hồi Thơ Mới. Nhưng, nó đã được
Thanh Thảo dùng nhuần nhị và ăn nhập để tạo ra cho thơ mình một cách nói hàm súc. Riêng cái câu giọt nước
mắt vầng trăng trong đoạn bày tỏ nỗi đau xót và tiếc thương trước cái chết hết sức thương tâm của Lorca mà lời
thơ kết hợp cả trượng trưng thơ Đường với tượng trưng Thơ Mới :
không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
14
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
cũng thấy được vẻ súc tích của nó. Có phải câu ấy được viết theo lối "nghệ thuật sắp đặt" không, mà cứ đơn
giản y như đặt hai hình ảnh bên nhau : giọt nước mắt - vầng trăng thế thôi ? Giữa chúng chẳng có một quan hệ
từ nào. Thì ra, lắm khi, việc tước bỏ quan hệ từ lại là cách gia tăng nghĩa cho hình ảnh và lời thơ. Vì giờ đây,
giữa chúng lại có thể phát sinh nhiều kiểu quan hệ, tạo ra nhiều làn nghĩa : 1) quan hệ đẳng lập : giọt nước mắt
(và) vầng trăng ; 2) quan hệ song song : giọt nước mắt (với) vầng trăng ; 3) quan hệ so sánh : giọt nước mắt
(như) vầng trăng ; 4) quan hệ sở hữu : giọt nước mắt (của) vầng trăng ; 5) quan hệ đồng nhất : giọt nước mắt (là)
vầng trăng Người đọc có một thoáng phân vân : vậy ý thực của câu thơ sẽ theo nghĩa nào ? Nhưng thoáng ấy
sẽ qua nhanh bởi chỉ có câu trả lời duy nhất : nó phải là sự giao thoa và lung linh của tất cả các làn nghĩa ấy.
Chẳng thế sao, trong mạch cảm xúc, trong hình tượng chủ đạo cũng như cấu tứ, các làn nghĩa kia đâu có loại trừ
nhau. Trái lại, chúng làm giàu và làm đẹp cho nhau cả thôi. Vậy chả súc tích sao ? Còn mạch triển khai của thi
phẩm lại là hợp lưu của cả hai dòng tự sự và nhạc. Việc tái hiện sự kiện Lorca bị hành hình với những diễn biến
phũ phàng, dù chỉ là chấm phá, cũng đã ít nhiều đem lại một cái "cốt" cho thi phẩm. Muốn kể, thì cũng kể được
đôi chút. Tâm tư người đọc bị cuốn ngay vào mạch kể qua các diễn biến ấy với những kinh hoàng, đau đớn và
ngay sau hai câu mào đầu đó là chuỗi âm thanh li-la li-la li-la. Nó như một chuỗi nốt đàn buông do người đệm
đàn (ghi ta) lướt qua hàng dây để kết thúc phần dạo, đánh dấu khoảng ngắt cho người hát chính thức bắt lời trình
diễn ca khúc. Và thi phẩm cũng kết thúc bằng sự trở lại của chuỗi âm thanh ấy. Nó tựa những tiếng đàn đệm
cuối cùng nhằm tạo những dư âm sau khi lời hát đã ngừng. Đấy chẳng phải là một lối phối âm quen thuộc trong
diễn tấu ca khúc sao ? Mà cũng có thể hình dung nó như tiếng huýt sáo ngẫu hứng của người ca sĩ trên nền nhạc
khi diễn tấu. Ngẫu hứng mà đầy xao xuyến. Khi âm thanh gây niềm xao xuyến thì tự nó cũng chất chứa thi vị
chứ sao !
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
15
Song, nếu chỉ có thế, thì việc phỏng âm nhạc ấy bất quá, cũng chưa đi xa hơn bao nhiêu một trò trang
sức hoa mĩ. Về nghĩa, lila lại chính là một loài hoa có màu tím ngát rất được người phương Tây ưa chuộng : hoa
lila - tức hoa tử đinh hương. Chuỗi âm thanh kế tiếp gợi hình ảnh những tràng hoa chuỗi hoa bật tím liên tiếp.
Đó là những đoá hoa người đời, người thơ thầm kính viếng hương hồn Lorca hay chính là ngàn muôn đoá hoa
của sự sống đang nảy nở từ cái chết đau thương của nhà thi sĩ, thể hiện sức sống bất diệt của những giá trị chân
chính trên cõi đời này ? Có thể là thế này, có thể là thế kia, mà có lẽ là cả hai. Vì thế, chính cái chuỗi âm thanh
ngỡ không đâu ấy lại chứa đựng rất nhiều cảm thương, niềm tin và lòng ngưỡng mộ sâu kín của người viết.
Thiếu ý nghĩa của một thi ảnh, chuỗi li la kia khó vượt qua một trò diễn âm thanh cầu kì.
Mỗi nghệ phẩm là một sản phẩm không lặp lại. Không chỉ nội dung, mà ngay cả hình thức. Năng lượng
sáng tạo có thể tích tụ lâu dài trong cả ý thức và tiềm thức, bằng cả vốn sống, vốn văn hoá cùng kinh nghiệm
nghệ thuật. Nhưng nó chỉ xuất ra có một lần. Mỗi bài thơ là một lần loé sáng, một tia lửa không lặp lại. Tôi ngờ,
bản thân người viết cũng chẳng bao giờ kiểm soát hết được những gì loé lên trong tia lửa ấy. Sáng tạo nghệ
thuật là thế ; phải thế mới là nghệ thuật. Thanh Thảo có thể sử dụng tiếp những chiêu y sì thế này để viết thi
phẩm khác nữa không ? Nếu có, e rằng khó tránh khỏi hậu quả của nhân bản vô tính về hình thức. Là người ham
tìm tòi cách tân, Thanh Thảo hiểu rõ điều đó. "Với những bài thơ hay - anh viết, thi sĩ sáng tạo với toàn bộ thể
chất và tâm linh mình, và không biết cái nào bắt đầu trước : thể xác hay tâm linh ? đó là những bài thơ người
ta chỉ phóng ra có một lần, xuất ra có một lần, rồi ngắt. Phần tích điện, phần thu góp là cả một quá trình nhưng
sáng tạo là khoảnh khắc. Khoảnh khắc ấy xảy ra càng đột ngột bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu".Và anh cũng tâm
niệm : Những người tìm đến sự hoàn mĩ của hình thức nghệ thuật thường dễ gặp nhau. Mà trong nghệ thuật,
trong thơ, hình thức là gì ? Hình thức chính là sự hiện diện nghệ thuật riêng của từng nghệ sĩ. Không có cái hình
thức đó thì cũng chẳng bao giờ có nghệ thuật.Tôi nghĩ, với thi phẩm này chẳng hạn, anh đã có được điều đó.
chiều tím" ; có vẻ đẹp "vui tươi hẳn lên" khi đi qua những bờ bãi xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long ; có vẻ đẹp
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
16
"trầm mặc" "như triết lí, như cổ thi" khi lăng lẽ chảy dưới chân những rừng thông u tịch với những lăng mộ âm
u mà kiêu hãnh ; có vẻ đẹp "mơ màng trong sương khói" khi nó rời xa thành phố …
b.3 Vẻ đẹp từ góc độ văn hóa
Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế : sông Hương ấy là "người tài nữ đánh đàn lúc đêm
khuya" ; liên tưởng đến Nguyễn Du và truyện Kiều.
Tác giả cho rằng có một dòng sông thi ca về sông Hương, một dòng sông "không bao giờ lặp lại mình",
ấy là "dòng sông trắng - lá cây xanh" của Tản Đà "tinh tế” ; là vẻ đẹp "khí phách" trong thơ Cao Bá Quát " như
kiếm dựng trời xanh" ; là "nỗi quan hoài vạn cổ" trong thơ Bà Huyện Thanh Quan ; là "sức mạnh phục sinh tâm
hồn" trong thơ Tố Hữu …
b.4 Vẻ đẹp từ góc độ lịch sử :
Sông Hương "oanh liệt" của thế kỉ trung đại, "vẻ vang" của thời Nguyễn Huệ, "bi tráng" của thế kỉ
XVIII, "rung chuyển" của Cách mạng tháng Tám, "nồng nhiệt" của mùa xuân Mậu Thân, …
b.5 Vẻ đẹp trong trí tưởng tượng sáng tạo, tài hoa của tác giả
Ong đã nhìn sông Hương như cô gái Huế, từng có lúc là một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại,
nhưng nói chung là một thiếu nữ tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc, đa tình mà kín đáo, lẳng lơ nhưng rất chung tình,
khéo trang điểm để không lòe loẹt phô trương, …
c. Đánh giá chung
Đoạn trích là đoạn văn xuôi súc tích và đầy chất thơ về sông Hương. Nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn
của đoạn văn là những xúc cảm sâu lắng được tổng hợp từ vốn hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, địa lí và
văn chương cùng một văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa.
BÀI THAM KHẢO
Ai đó đã từng viết “ Đất nước có nhiều dòng sông nhưng chỉ có một dòng sông để thương, để nhớ như
đời người có nhiều cuộc tình nhưng chỉ có một cuộc tình để mãi mãi mang theo”. Vâng, “một dòng sông để
thương, để nhớ” của mỗi người rất khác nhau. Nếu tên tuổi Văn Cao gắn liền với sông Lô hùng tráng; nếu
Hoàng Cầm là nỗi nhớ của ta khi ngang qua “Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh”; nếu Hoài Vũ mãi là nhà
thơ của con sông Vàm Cỏ đêm ngày thao thiết chở phù sa, thì Hoàng Phủ Ngọc Tường đã song hành cùng sông
Hương đi vào trái tim người đọc với “Ai đã đặt tên cho dòng sông?.”
với Huế và chỉ Huế mà thôi, nàng như “sông Xen của Paris, sông Ðanuýp của Buđapet…” chảy trong lòng
thành phố yêu quý của mình nhưng khác ở chỗ nàng đẹp một cách huyền hồ như đang che khuôn mặt diễm kiều
bằng tấm voan sương khói, nàng trôi lặng lẽ với nghìn ánh hoa đăng vào hội rằm tháng 7 bồng bềnh chao nhẹ
trên mặt nước như vương vấn một nỗi lòng . Tôi chợt nhớ đến một câu nói “có những dòng tình cảm, rất sâu nên
rất đỗi lặng lờ”, dòng chảy êm đềm của sông Hương hay chính là tình yêu sâu lắng mà nàng dâng tặng cho
thành phố Huế? Vẻ đẹp của sông Hương còn là vẻ đẹp của một nền văn hóa, vẻ đẹp của người tài nữ đánh đàn
lúc đêm khuya ,toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh sôi trên mặt sông này và hơn thế khắp lưu vực
sông còn vang vọng những điệu hò dân dã, những điệu hò thấm đẫm tấm chung tình, thấm đẫm lời thề của sông
Hương trước phút chia tay với Huế mà trôi về biển cả. Nhưng chẳng phải bao giờ sông Hương cũng là người
con gái đằm thắm ,dịu dàng, mềm mại trong lòng Huế, đã có một thời sông Hương “mang tên là Linh Giang,
dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam” của Tổ quốc, vẻ vang soi bóng kinh
thành Phú Xuân, “dòng sông của thời gian ngân vang", của lịch sử viết giữa màu cỏ xanh, lá biếc…
Sông Hương được nhìn như một người con gái đến với tình yêu, dâng tặng những vẻ đẹp mà mình có
được cho người yêu, đắm mình trong tình yêu để khám phá và hoàn thiện bản thân. Từ một dòng sông hoang
dại, bí ẩn, nàng đã trở thành một sông Hương rất mực dịu dàng, rất mực tài hoa, rất mực kiên cường, rất mực hy
sinh…
Cho nên, từ khi có được sông Hương, Huế - chàng Kim của nàng- cũng có nhiều thay đổi. Từ hoang sơ
với “cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” hay kiêu hãnh âm u với những lăng tẩm đền đài đồ sộ, đã hóa thành vẻ
đẹp cổ kính mà thơ mộng, khiến người con của Huế dù đến Pari, Buđapét hay Leningrad vẫn đau đáu nhớ về
một thành phố với nguyên dạng đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Huế càng lung linh hơn khi sông Hương chở
trong lòng Huế những nét đặc thù của hội Hoa đăng, của ca Huế, man mác tiếng rơi của những mái chèo khuya.
Có sông Hương, Huế trở thành biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng, Huế chiến đấu oanh liệt bảo về biên
giới phía Nam của Đại Việt, Huế là kinh thành của người anh hùng Nguyễn Huệ, Huế cùng sông Hương đi vào
Cách mạng tháng 8 bằng những chiến công rung chuyển. Huế đã cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc trong cuộc
trường chinh máu lửa bên cạnh sông Hương - dòng sông của sử thi đã tự hiến đời mình làm một chiến công.
Tình yêu của sông Hương và Huế - một tình yêu lãng mạn và âm vang sức sống, một tình yêu như một
cuộc tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, bản hợp xướng diệu kỳ giữa thi ca và âm nhạc. Tình yêu ấy
được vun đắp bởi ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, đứa con thân yêu của Huế, yêu Huế, yêu sông
Hương, nhìn ngắm sông Hương khi gần kề để phát hiện ra dòng sông ấy “đang đổi sắc không ngừng dưới ánh
nắng và mùi hương của hoa trái trong vườn”, lúc xa xôi gần nửa vòng trái đất, nhìn Nê va để sông Hương tìm về
ĐỀ 2 (BÀI VĂN THAO KHẢO)
Người lái đò sông Đà in trong tập tuỳ bút Sông Đà (1960), gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng
phác thảo. Đây là kết quả của nhiều dịp ông đến với Tây Bắc, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Có hai
nhân vật dưới cách nhìn của Nguyễn Tuân trong thiên tuỳ bút này : “nhân vật” sông Đà và nhân vật người lái đò
sông Đà.
“Chúng thuỷ giai đông tẩu. Đà giang độc bắc lưu”. Nguyễn Tuân dùng hai câu thơ Nguyễn Quang Bích
giới thiệu sông Đà. Sông Đà dưới ngòi bút Nguyễn Tuân không phải là thiên nhiên vô tri vô giác mà là “con
sông Đà”, một sinh thể có hoạt động, có tính cách, cá tính, có tâm trạng hẳn hoi và khá phức tạp. Nó có hai nét
tính cách cơ bản - như tác giả gọi “hung bạo và trữ tình”. Lúc hung bạo, nó như “kẻ thù số một” của con người.
Lúc trữ tình, nó lại đầy chất thơ và thân thiết với con người như một “cố nhân”, xa thì nhớ nhung lưu luyến.
Hung bạo của “con sông Đà” ở những đoạn thác dữ, những đoạn bờ sông dựng vách thành, những quãng
hẹp như cái yết hầu, những cái hút nước chết người … Lúc này sông Đà “có tâm địa và diện mạo một thứ kẻ thù
số một của con người”. Tác giả tựa như một nhà quay phim lão luyện vừa cho người xem thấy bao quát khung
cảnh Sông Đà, vừa thỉnh thoảng dừng lại cống hiến những pha cận cảnh thật tiêu biểu đặc tả sự dữ dằn của con
sông. Để khắc hoạ cái huyền bí có phần hoang sơ của dòng sông, nhà văn đã vận dụng tổng hợp các giác quan
khác nhau và có những so sánh táo bạo, mới mẻ, bất ngờ. Sự hung bạo của Sông Đà được Nguyễn Tuân thể hiện
tài tình. Chẳng hạn như nhằm tô đậm những con sóng dữ, nhà văn đã dùng những câu có kết cấu trùng điệp, tạo
nên nhịp điệu khẩn trương, gấp gáp giống như sự chuyển vần của gió to, sóng lớn:“ Nước xô đá, đá xô sóng,
sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm …”. Đoạn văn này có thể cung cấp đầy đủ những hình ảnh
cần thiết cho những hoạ sĩ nào ưa vẽ những cảnh tượng sông nước dữ dằn, rùng rợn : “Nước ở đây thở và kêu
như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn … Những cái
giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào … Có những cái thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền
trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưói dòng sông đến mươi phút sau mới thành tan
xác ở khuỷnh sông dưới …”. Con Sông Đà trở thành một loài thuỷ quái vừa hung ác vừa nham hiểm. Tác giả
gợi cho người cảm giác về âm thanh “tiếng nước”, nó đa dạng “van xin, oán trách, khiêu khích, giọng gằn mà
chế nhạo”, có lúc “rống lên như ngàn con trâu mộng”. Còn là cảm giác hình ảnh thị giác, nước sông Đà như
đang lồng lộn giữa “rừng lửa”. Một lối liên tưởng độc đáo nước với lửa. Lòng sông trắng xoá bày “thạch trận
trên sông”. Nguyễn Tuân đã dựng dậy và thổi sự sống vào cho những hòn đá vô tri vô giác. Hòn thì “bệ vệ oai
phong lãm liệt”, hòn thì “ngỗ ngược”, hòn thì “nhăn nhúm méo mó” … Lúc giao chiến, có hòn “hất hàm” hỏi
tên tuổi đối phương, hòn khác thì “lùi lại một chút và thách thức” … Thạch trận có ba tuyến hẳn hoi, tiền vệ
trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà”. Một câu văn có đến ba từ gợi lên chất quân sự
dữ dội “ chiến đấu, chiến trường, thuỷ chiến”.
- Sông Đà “hung bạo” ở những đoạn thác dữ, những đoạn bờ sông dựng vách thành, những quãng hẹp
như cái yết hầu, những cái hút nước chết người … Lúc này sông Đà “có tâm địa và diện mạo một thứ kẻ thù số
một của con người”. Tác giả tựa như một nhà quay phim lão luyện vừa cho người xem thấy bao quát khung
cảnh Sông Đà, vừa thỉnh thoảng dừng lại cống hiến những pha cận cảnh thật tiêu biểu đặc tả sự dữ dằn của con
sông. Để khắc hoạ cái huyền bí có phần hoang sơ của dòng sông, nhà văn đã vận dụng tổng hợp các giác quan
khác nhau và có những so sánh táo bạo, mới mẻ, bất ngờ. Nhằm tô đậm những con sóng dữ, nhà văn đã dùng
những câu có kết cấu trùng điệp, tạo nên nhịp điệu khẩn trương, gấp gáp giống như sự chuyển vần của gió to,
sóng lớn :“ Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm …”. Con Sông Đà trở
thành một loài thuỷ quái vừa hung ác vừa nham hiểm. Tác giả gợi cho người cảm giác về âm thanh “tiếng
nước”, nó đa dạng “van xin, oán trách, khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”, có lúc “rống lên như ngàn con
trâu mộng”. Còn là cảm giác hình ảnh thị giác, nước sông Đà như đang lồng lộn giữa “rừng lửa”. Một lối liên
tưởng độc đáo nước với lửa.
Lòng sông trắng xoá bày “thạch trận trên sông”. Có đá “mai phục”, có đá “nhổm cả dậy”. Nguyễn
Tuân đã dựng dậy và thổi sự sống vào cho những hòn đá vô tri vô giác. Hòn thì “bệ vệ oai phong lãm liệt”, hòn
thì “ngỗ ngược”, hòn thì “nhăn nhúm méo mó” Thạch trận có ba tuyến hẳn hoi, tiền vệ trong như sơ hở để dụ
địch thủ, tuyền hai “đánh khuýp quật vu hồi”, tuyến ba tiêu diệt.
- Nhân vật người lái đò sông Đà ơ đây là người lái đò-nghệ sĩ. Chở đò mà là một nghệ thuật cao cường
đầy tài hoa, gọi là “tay lái ra hoa”. Nghệ thuật ở đây, như tác giả nói, là nắm chắc “qui luật tất yếu của dòng
nước sông Đà”. Và vì làm chủ được qui luật ấy nên có tự do. Nhưng đây là một qui luật hết sức khắc nghiệt.
Một phút thiếu chính xác, một tích tắc thiếu bình tĩnh, loá mắt, lỡ tay là phải trả giá bằng sinh mạng của mình.
Nhà văn đã khắc hoạ một hình tượng đẹp “trên thác hiên ngang một người lái Sông Đà có tự do, vì người lái đò
ấy đã nắm được cái qui luật tất yếu của dòng nước Sông Đà”.
b.2 Cuộc giao tranh :
- Cuộc chiến đấu giữa ông lái đò đầy trí dũng với con thác dữ hiện lên như trong một trường đoạn phim
thật sôi động, hấp dẫn. Như một viên tướng xung trận, người lái đò thật oai phong, bình tĩnh, tỉnh táo hiểu đối
tượng, ứng phó linh hoạt. Một đoạn văn dựng cảnh đầy giá trị tạo hình, một lối thuật kể hồi hộp, đầy kịch tính
căng thẳng, dùng đến cả tri thức quân sự và võ thuật. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân có điều kiện khoe hết góc cạnh và
sự giàu có của nó.
1/ Tóm tắt truyện và giá trị doạn trích.
2/ So sánh ngắn gọn hai nhân vật Mị và A Phủ.
2/ Phân tích hình tượng nhân vật Mị.
3/ Phân tích giá trị nhân đạo tác phẩm Vợ chồng A Phủ (trích) của Tô Hoài.
• Gợi ý
ĐỀ 3
a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
b. Phân tích hình tượng nhân vật MỊ
b.1 Số phận : Mị là cô gái dân tộc Hmông. Số phận của Mị tiêu biểu cho số phận của phụ nữ nghèo ở
miền núi trước đây. Mị có đủ phẩm chất để được sống hạnh phúc. Mị xinh đẹp, khao khát tình yêu và được yêu.
Nhưng chỉ vì “món nợ truyền kiếp”, nên Mị phải đành hi sinh tuổi xuân và sự tự do của mình, trở thành con dâu
gạt nợ tủi nhục của gia đình thống lí Pá Tra.
b.2 Tính cách : nhẫn nhục và phản kháng, chấp nhận cuộc sống của một súc nô và khao khát được sống
như một con người là hai mặt mâu thuẫn trong con người Mị.
- Mị, một mặt như một con người chai lì về cảm xúc và tê liệt về ý thức. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen
khổ rồi. Mị tưởng mình là con trâu con ngựa, Mị không mong đợi bất kì cái gì và cô cũng chẳng còn ý niệm về
thời gian, không gian, suốt ngày “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Căn buồng của Mị như không gian của
một nhà tù .
- Mặt khác, ở Mị vẫn tiềm tàng một sức sống bền bỉ mãnh liệt, sự phản kháng quyết liệt.
+ Ngay sau khi bị bắt làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra, Mị đã cầm lá ngón về nhà lạy
chào vĩnh biệt cha rồi tự tử. Ý thức về cuộc sống tủi nhục của mình, không chấp nhận cuộc sống đó, lòng ham
sống khát vọng tự do khiến Mị tìm đến cái chết như một phương tiện giải thoát. Thương bố, Mị không nỡ chết,
rồi “ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Mị như chấp nhận cuộc sống trâu ngựa ở nhà thống lí Pá Tra.
+ “Đêm tình mùa xuân” đã tới. Lòng ham sống, niềm khao khát hạnh phúc lại được đánh thức.
Mị sống lại những ngày quá vãng : “Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa
xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo”. Mị ý thức về hiện tại rằng mình vẫn còn trẻ. Cảm xúc về thân
phận sống lại, “nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay”. “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ,
xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mị muốn đi chơi”. Mị quấn
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
nhờ cách mạng. Như thế bản thân đề tài và chủ đề của tác phẩm đã mang nội dung nhân đạo sâu sắc. Thực hiện
chủ đề ấy, tác phẩm kết cấu gồm hai phần. Phần I : cuộc sống nô lệ của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, phần II :
cuộc sống mới của vợ chồng A Phủ ở khu du kích Phiềng Sa. Chiều sâu nhân đạo của tác phẩm chủ yếu được
thể hiện ở phần I, qua đoạn đời tủi nhục của Mị và A Phủ trong nhà thống lí Pá Tra.
Số phận của Mị điển hình cho số phận những người miền núi bị cột chặt vào kiếp nô lệ. Cuộc sống địa
ngục ở nhà tên chúa đất đã biến một cô gái xinh đẹp, tràn đầy sức sống thành một nô lệ chai lì về cảm xúc, tê
liệt về ý thức. “Ở lâu trong cái khổ, mị quen khổ rồi”. Mị sống quán tính như một con vật “mỗi ngày Mị càng
không nói, lùi lùi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Thậm chí nhiều khi Mị cảm thấy mình không bằng một con
vật. Trong đêm tình mùa xuân, bị A Sử trói đứng vào cột, Mị “chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vách. Ngựa
vẫn đứng gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”. Cuộc sống ngục tù của Mị được
nhà văn đặc tả bằng căn buồng của cô “kín mít, có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông
ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ
vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi”. Tô Hoài còn hé mở cho thấy thân phận của bao người con gái
khác, trước hết là những người bị bắt về làm vợ trong nhà thống lí Pá Tra“đời người đàn bà lấy chồng nhà giàu
ở Hồng Ngài thì một đời người chỉ biết theo đuôi con ngựa của chồng”.
Số phận nô lệ tủi nhục của người dân miền núi còn được bổ sung và hoàn chỉnh bằng cuộc đời rách nát
đầy khốn khổ của A Phủ. Vốn là một thanh niên sớm mồ côi, sống tự lập, tính cách được rèn luyện mạnh mẽ “A
Phủ khoẻ, chạy nhanh như ngựa, con gái trong làng nhiều người mê”, thế mà chỉ một lần va chạm với A Sử mà
trở thành kẻ tôi đòi trong nhà Pá Tra, mãn kiếp không thể cất đầu lên để được làm người.
Giá trị nhân đạo còn thể hiện trong chỗ nhà văn vạch trần những hành vi và việc làm bạo ngược của cha
con thống lí Pá Tra. Sức mạnh của cường quyền được nhà văn miêu tả trong cảnh A Sử bắt Mị trói đứng không
cho đi chơi Tết, tóc Mị xoã xuống, A Sử cuốn luôn tóc lên cột, rồi y “thắt nốt cái thắt lưng, tắt đèn, đi ra, khép
cửa buồng lại”. Cái kĩ càng, rành rẽ của từng động tác biểu hiện sự tàn ác đến thản nhiên của A Sử. Và cảnh
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
22
bọn chức việc trong làng xử A Phủ lại thêm một bức tranh cụ thể sống động giàu sức tố cáo về một tập tục là
hiện thân của ách áp chế kiểu trung cổ của miền núi. Việc bắt A Phủ làm đứa ở trừ nợ càng làm tăng thêm sức tố
cáo của tác phẩm : một chàng trai khoẻ mạnh, gan góc, sống tự do như chim trời nơi núi rừng, vậy mà cuối cùng
không thoát khỏi ách áp bức của bọn chúa đất, phải rơi vào thân phận nô lệ suốt đời trong nhà thống lí Pá Tra.
Đồng thời, Tô Hoài còn kết án tư tưởng thần quyền đã được bọn phong kiến miền núi lợi dụng nhằm cột chặt
5/ Giá trị nhân đạo tác phẩm
• Gợi ý
ĐỀ 3 :
- Đó là một sự lạ: Anh Tràng xấu xí, thô kệch, không ai thèm lấy, bỗng nhiên “nhặt” được vợ một cách
thật dễ dàng nhanh chóng, ở ngay giữa đường giữa chợ nhờ mấy bát bánh đúc riêu cua. “Nhặt” trong những
ngày đói tràn lan.
Điều đó khiến cho mọi người trong xóm ngụ cư này phải ngạc nhiên. Thậm chí bà cụ Tứ và cả chính
Tràng cũng ngạc nhiên.
- Đó còn là sự éo le : vui mà tội nghiệp, mừng mà tủi mà lo. Giữa lúc cái chết rình rập, miếng ăn rất hệ
trọng, Tràng nuôi thân, nuôi mẹ cũng khó khăn; thế mà bây giờ thêm một miệng ăn nữa, biết lấy gì nuôi nhau.
Và hạnh phúc của vợ chồng Tràng, niềm vui của bà cụ Tứ cứ phải diễn ra trong một không khí ảm đạm chết
chóc.
Đây là tình huống giàu ý nghĩa, có tác dụng làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm.
ĐỀ 4 :
4/ Phân tích nhân vật bà cụ Tứ
a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
b. Phân tích
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
23
- Đến khoảng giữa câu chuyện, Kim Lân mới cho nhân vật Bà cụ Tứ xuất hiện . Bắt đầu là cái dáng
"lọng khọng đi vào ngõ, vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng" Chao ôi! những câu giản dị nhường ấy
mà chất chứa bao yêu thương trìu mến. Ta gặp lại cái dáng gầy gầy, còng còng vì sương gió cuộc đời của người
bà quen thuộc. Từ "lọng khọng" đầy sáng tạo và có sức gợi hình, gợi tả tạc lại trong ta một dáng hình.
- Hình ảnh bà - hình ảnh của người mẹ nông dân Việt Nam 1945 hiện lên chân thực như nó vốn có qua
những lời nói tưởng như ngớ ngẩn, lẩm cẩm mà xiết bao ân tình. Cuộc đời tuy có mất mát nhưng cũng không
cướp đi của bà tất cả. Bà vẫn còn có anh Tràng - đứa con trai độc nhất để yêu thương chăm sóc. Làm mẹ, ai
cũng mong cho con mình chóng khôn lớn, trưởng thành và yên bề gia thất. Rồi cái ngày hạnh phúc ấy cũng đã
đến: cái ngày anh Tràng lấy vợ. Những tưởng niềm vui ánh lên rạng ngời trong trái tim già cỗi ấy, nhưng lòng
người mẹ lại ngổn ngang bao tâm sự thầm kín. Dạo đầu của chuỗi tâm trạng ấy là một loạt những câu hỏi đầy vẻ
ngạc nhiên, thắc mắc: "Người đàn bà nào lại đứng ở đầu giường con mình thế kia?" "ai thế nhỉ? sao lại chào
Những lời độc thoại cứ như đợt sóng cuộn lên trong lòng người mẹ, vừa khắc khoải, dạt dào, vừa bao la, vỗ về
đầy tình mẫu tử, hoà trong đó là là những rung cảm xót xa trong trái tim nhân đạo của Kim Lân.
- “Chúng mày lấy nhau u cũng mừng lòng”. Ta cũng thấy tim ta thổn thức cùng với những trăn trở bình
dị mà xiết bao ân tình. Đẹp biết bao 2 tiếng "mừng lòng" của bà lão nói với các con. Chữ "mừng" thật là đắc
địa, có vẻ như không đâu vào đâu của người già cả, nhưng lại lột tả đúng cái thần thái của một tấm lòng vị tha
cao quý đang ngượng ngập, vụng về tìm cách giấu đi dòng nước mắt xót thương vì sợ phiền lòng cho chính
người mình đang thương xót.
- "Có đèn đấy à? Ừ, thắp lên một tí cho sáng sủa Dầu bây giờ đắt gớm lên mày ạ". Người mẹ già như
cố nuốt nước mắt vào trong, cố nén nỗi đau trong lòng để tình thương của mình an ủi các con. Nỗi lo sợ ngày
mai mãi chỉ là 1 niềm riêng không chia sẻ. Bới trái tim người mẹ ấy hiền hậu nhân từ lắm. Chẳng muốn con
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
24
buồn, chẳng muốn con đau, chỉ mong con hãy tận hưởng trọn vẹn cái hạnh phúc lứa đôi. Mẹ kêu con thắp đèn
lên "cho sáng sủa" hay chính tình yêu bao la của mẹ đang toả sáng cho hạnh phúc của các con.
- Trong cái mừng, cái tủi, cái lo, người đọc vẫn thấy được niềm vui, niềm tin thắp lên trong lòng bà cụ
Tứ. Một niềm vui tội nghiệp không sao cất cánh được khi bị những nỗi lo, nỗi buồn luôn trĩu nặng. Nhưng bà
vẫn cố vui, cố nén tất cả mọi sầu muộn, héo hon vào trong bằng tất cả sức mạnh của tình mẹ, để gắng làm cho
con vui, dâu vui. Hoá ra chính cái bà lão "gần đất xa trời" này lại là người nói đến hi vọng, đến ngày mai nhiều
hơn tất cả. Đó là niềm ao ước thiết tha về một ngày mai sáng sủa hơn cho con của bà mẹ nghèo: "Rồi may ông
giời cho khá ai giàu ba họ, ai khó ba đời " Một lời động viên con giản dị, mang đậm niềm tin tâm linh của
một bà mẹ nông dân từng trải, nhưng cũng thật cần thiết, bởi đó chính là nguồn động lực giúp cho mẹ con bà đủ
vững vàng để vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của cái đói, cái chết. Câu nói ấy chỉ có thể thốt lên từ một
tấm lòng cao cả, tràn ngập tình thương.
- Và niềm tin đã chuyển hoá thành niềm vui. Bà vui trong công việc "sửa sang nhà cửa vườn tược". Nó
khiến bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, "cái mặt bủng beo, u ám của bà bỗng rạng rỡ hẳn lên". Bà đã
chủ động tạo nên niềm vui đó trong ngày đầu tiên gia đình đón chào một nàng dâu mới: bà dậy từ rất sớm, bà
"xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa, giẫy những búi cỏ mọc nham nhở trong vườn". Bởi bà hiểu rằng, bắt đầu
từ hôm nay đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời các con mình, chúng nó đã nên vợ nên chồng và bà cảm
thấy mình phải vun vén cho hạnh phúc của các con. Buổi sáng hôm nay, bà đã đon đả lo chu tất, chuẩn bị bữa
cơm đón dâu, nhưng "cái bữa cơm ngày đói thật thảm hại" với món cháo loãng và món "chè khoán" đắng chát,
truyện ngắn Vợ nhặt đã ra đời. Trong lần này, Kim Lân đã thật sự đem vào thiên truyện của mình một khám phá
mới, một điểm sáng soi chiều toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của
những người nông dân nghèo tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện rất thành
TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011
25