LỜI MỞ ĐẦU
Trẻ em là mầm non của mỗi nước và là vấn đề được nhân loại hết sức quan
tâm. Ở nước ta, vẫn còn bị ảnh hưởng rất nặng nề tư tưởng trọng nam, khinh nữ tình
trạng phân biệt đối xử với trẻ em gái vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở nông thôn và
thành thị, từ trong gia đình ra ngoài xã hội ở mức độ khác nhau. Luật bình đẳng giới
năm 2006 ra đời phần nào xóa giảm sự bất bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái
trong gia đình, xã hội. Việc quan tâm, chăm lo, giáo dục, sự không phân biệt đối xử
giữa trẻ em trai và trẻ em gái của gia đình và xã hội sẽ giúp thế hệ trẻ có hành trang
vững chắc bước vào đời. Để tìm hiểu rõ vấn đề bình đẳng giới giữa trẻ em sau đây
em xin viết bài tiểu luận về đề tài: “Vấn đề bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em
gái trong gia đình hiện nay”.
NỘI DUNG
I. Một số khái niệm
1. Khái niệm bình đẳng giới
Theo tài liệu, Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc
điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới, nam và nữ có vị thế bình đẳng
và đều được tôn trọng như nhau. Nam và nữ cùng: có điều kiện bình đẳng để phát
huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để
tham gia đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực, lợi ích của sự phát triển; được
hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng.
Dưới góc độ Luật bình đẳng giới, theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật bình
đẳng giới năm 2006: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau
được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình trong sự phát triển của
cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau thành quả của sự phát triển”.
2. Khái niệm bình đẳng giới trong gia đình
Bình đẳng giới trong gia đình thực chất là bình đẳng giữa vợ, chồng, con trai,
con gái, nam-nữ về cơ hội, vị trí, vai trò trong đó bao gồm sự bình đẳng trong việc
1
tiếp cận nguồn nhân lực, bình đẳng trong thù lao công việc, bình đẳng trong việc
thụ hưởng các thành quả và bình đẳng trong các vấn đề liên quan đến bản thân, gia
đình và xã hội. Điều đó có nghĩa là đảm bảo bình đẳng giới trong gia đình giúp cho
đình phải áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo vệ trẻ em trai và trẻ em gái khỏi
mọi hình thức bạo lực về thể xác hoặc tinh thần; không phân biệt đối xử, gây tổn
thương hay xúc phạm, ngược đãi trẻ em. Cha mẹ và những người khác trong gia
đình có trách nhiệm bảo đảm điều kiện sống cần thiết cho sự phát triển của trẻ em
trai cũng như trẻ em trai.
- Quyền bình đẳng về học tập giữa trẻ em trai và trẻ em gái. Quyền học tập là
một quyền cơ bản của trẻ em. Theo quy định tại Điều 33 Luật bình đẳng giới năm
2006 thì gia đình phải đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau cho con trai và con
gái trong học tập. Sự quan tâm, giáo dục của gia đình đối với trẻ em là môi trường
quan trọng giúp mỗi con người hòa nhập vào cộng đồng và xã hội, thích ứng với
đòi hỏi về nghề nghiệp, đạo đức, vốn sống của mỗi con người; sự quan tâm của họ
đối với trẻ em còn giúp cho con cái tránh những tệ nạn xã hội nảy sinh đối với mỗi
con người. Quá trình xã hội hóa giáo dục được tạo bởi ba môi trường gia đình, nhà
trường và xã hội. Trong đó gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng lớn đến sự
hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người; sự quan tâm giúp đỡ lẫn
nhau của mỗi thành viên trong gia đình giúp mỗi con người có điều kiện phát triển
toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Trẻ em trong gia đình được cha mẹ tạo
điều kiện được học tập, giữa trẻ em trai và trẻ em gái bình đẳng với nhau về độ tuổi
đi học. Nghĩa là theo thông thường, trẻ em khi tới 5 tuổi sẽ đi học trường mầm non
thì cả trẻ em trai và trẻ em gái khi đủ 5 tuổi đều được phải được gia đình tạo điều
kiện cho đến trường học tập. Các thành viên khác trong gia đình không được đối xử
không công bằng, thiên vị giữa trẻ em trai và trẻ em gái về độ tuổi được đến trường
3
học tập. Ví dụ như: khi trẻ em trai đến 5 tuổi thì được gia đình tạo mọi điều kiện
học tập nhưng trẻ em gái lại không được cho đi học trường mầm non mà cho nghỉ ở
nhà. Dẫn đến có nhiều em gái không được đi học trường mầm non khi đi học tiểu
học tiếp thu chậm hơn so với trẻ em trai được đi học từ trường mầm non. Hiện nay,
tại Điều 16 Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định trẻ em học tiểu
học trong các cơ sở công lập không phải đóng học phí. Điều này thể hiện trách
nhiệm của Nhà nước đảm bảo bình đẳng về học tập giữa trẻ em trai và trẻ em gái,
III. Thực trạng về vấn đề bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em gái
trong gia đình hiện nay
1.Thành tựu
Ngày nay, mặc dù những định kiến giới vẫn còn tồn tại, nhưng vị trí, vai trò
của phụ nữ và trẻ em gái nói chung trong gia đình và xã hội đã được nâng lên so
với trước. Cùng với sự phát triển của xã hội nhiều chuyên ngành khoa học ra đời
trong đó có khoa học giới và các khoa học có liên quan như Tâm lý học, Xã hội
học, Dân số học… nghiên cứu tiếp cận các vấn đề giới dưới nhiều góc độ khác
nhau, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về giới
trong sự phát triển của xã hội. Có thể nhận thấy khoa học giới ra đời là cơ sở quan
trọng để nghiên cứu các vấn đề giới trong gia đình và xã hội, là cơ sở để hoạch định
chính sách, ban hành các văn bản pháp luật về vấn đề bình đẳng giới. Những quan
điểm và chủ trương, chính sách, Pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề bình
đẳng giới đã được ban hành như Hiến pháp, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Dân sự,
Luật Lao động, Luật Bình đẳng giới… Trong nhiều năm nay, Việt Nam dẫn đầu
khu vực Châu Á- Thái Bình Dương về các chỉ số về bình đẳng giới qua việc cung
cấp các dịch vụ y tế - giáo dục tới trẻ em trai và trẻ em gái. Đến nay, các tỉnh đều có
5