Đề tài: Phân tích giá trị kinh tế và giá trị sinh học của hệ sinh thái rạn san hô Cù
Lao Chàm tỉnh Quảng Nam
THÀNH VIÊN NHÓM 6
1. Huỳnh Thị Đoàn Trúc Mai (B1207374)
2. Lê Phạm Minh Tâm (B1307406)
3. Phạm Quốc Thịnh (B1207414)
4. Phạm Lý Thảo Nguyên (B1207387)
5. Võ Thành Đô (B1207349)
6. Nguyễn Thị Mỹ Duyên (B1309255)
A. GIỚI THIỆU
Trong các hệ sinh thái biển, hệ sinh thái rạn san hô vai trò đặc biệt đối với sự tham gia
hình thành và bảo vệ vùng bờ ven biển nhiều vùng đảo của nhiều quốc gia. Hệ sinh thái
rạn san hô còn bảo tồn đất đai, sự tồn tại của con người và đặc biệt là giữ gìn sự đa dạng
sinh học (BDN). Rạn san hô hay ám tiêu san hô là cấu trúc aragonite (CaCO
3
) được tạo
bởi các cơ thể sống (Bách Khoa toàn thư mở Wikipedia). San hô là một loài động vật,
không phải là một khoáng chất. Các vành đai san hô phải mất khoảng 18.000 năm đến
20.000 năm để hình thành. Các rạn san hô thường sinh trưởng ở các vùng biển nhiệt đới
nông mà trong nước có ít hoặc không có dinh dưỡng. Việt Nam là quốc gia có số loài san
hô vào loại đa dạng nhất thế giới (Thăng Long, 2012).
Theo kết quả sơ bộ đợt khảo sát do nhóm Công tác Tiểu ban San hô của dự án Quỹ môi
trường toàn cầu (GEF) tiến hành thì Việt Nam có khoảng 1222km
2
diện tích rạn san hô,
được phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam. Miền Trung và miền Nam có diện tích lớn nhất và
đa dạng sinh học cao. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có số loài san hô vào loại đa
dạng nhất thế giới. Điển hình, có tới 90% các loài san hô cứng của vùng Ấn Độ - Thái
Bình Dương và là khu vực có nhiều loài san hô mềm thuộc giống Alcyonaria nhất trong
vùng Tây Ấn Độ - Thái Bình Dương (Thăng Long, 2012).
Đặc biệt hệ sinh thái rạn san hô tại Cù Lao Chàm có hơn 311ha rạn san hô, với khoảng
- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp được thu thập từ sách, tạp chí
chuyên ngành, các nghiên cứu khoa học và các phương tiện truyền thông khác
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được thu thập trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp
kết hợp phương pháp so sánh tương đối, tuyệt đối và đưa ra nhận xét, đánh giá.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2
- Không gian nghiên cứu: đề tài được thực hiện ở Cù Lao Chàm thuộc xã đảo Tân Hiệp,
thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
- Thời gian nghiên cứu:
+ Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 8/2014 đến tháng 9/2014
+ Số liệu thứ cấp: số liệu sự thay đổi số lượng cũng như những giá trị kinh tế, sinh
học của hệ sinh thái rạn san hô trong những năm gần đây.
+ Nội dung nghiên cứu: giá trị kinh tế, giá trị sinh học của hệ sinh thái rạn san hô ở
Cù Lao Chàm.
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1. Cấu tạo một polyp (a); Công cụ bắt mồi của san hô (b)………………………….3
Hình 2. Các polyp và tảo (zooxanthollae) gắn trên nhánh xương san hô…………………4
Hình 3. Độ phủ san hô toàn vùng Cù Lao Chàm năm 2012………………………………7
Hình 4. Phân tích Độ phủ san hô toàn vùng Cù Lao Chàm năm 2012……………………7
Hình 5. Thực trạng các loại cá sinh sống ở rạn san hô Cù Lao Chàm…………………….8
Hình 6. Mật độ tổng cá rạn trong toàn bộ điểm khảo sát………………………………….9
Hình 7. Lượng khách đến Cù Lao Chàm……………………………………………… 16
B. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ HỆ SINH THÁI RẠN SAN HÔ
1. Thành phần chính của HST rạn san hô
1.1 Cấu
trúc của hệ sinh thái rạn san hô
San hô là sinh vật tương đối đơn giản, tồn tại ở các vùng biển nông
và
sâu.
Tập đoàn
san hô
sừng có dạng như những chiếc quạt hoặc cành cây mềm mại. Khi
san hô sừng chết còn lại
bộ
xương màu đỏ, đen hoặc trắng. Loại san hô này sinh
trưởng rất
chậm.
- San hô mềm tiêu giảm bộ xương bên trong và chỉ còn lại các trâm xương đá
vôi nhỏ. Một
số
rất mềm dẻo đến mức đu đưa theo dòng nước. Sẽ không còn gì để
lại sau khi san hô
mềm
chết
đi.
Hình 2. Các polyp và tảo (zooxanthollae) gắn trên nhánh xương san
hô
1.2 Hình thái rạn san
hô
Ở những nơi mà rạn tồn tại, kiểu phát triển của rạn tùy thuộc vào địa hình (độ
sâu,
hình
dạng) của nền đáy, lịch sử phát triển địa chất của vùng và các nhân tố môi
trường, đặt biệt
là
nhiệt độ và mức độ chịu đựng sóng gió. Sự phát triển lên phía trên
4
của cấu trúc rạn có thể cho phép san hô tiếp tục
tăng
nổi lên từ biển sâu và nằm xa bờ. Một số vốn nguyên thủy là dạng riềm
nhưng do vùng bờ
bị
chìm xuống hay bị ngập nước khi biển dâng
lên.
- Rạn san hô vòng (atoll) là những vùng rạn rộng lớn nằm ở vùng biển sâu. Mỗi
đảo
san
hô vòng là tập hợp của các đảo nổi và bãi ngầm bao bọc một lagoon rộng lớn
với đường
kính
có thể lên đến 50km. Kiểu rạn này chỉ có ở vùng biển sâu nằm ở ngoài
thềm lục
địa.
1.3 Môi trường tự
nhiên
1.31 Ánh
sáng
Tất cả san hô tạo rạn đòi hỏi đủ ánh sáng cho quang hợp của tảo cộng sinh
trong nội bào
của
chúng. Theo độ sâu, ánh sáng thay đổi rất nhanh cả về cường độ và
cả về thành phần.
Giới
hạn này kiểm soát độ sâu mà san hô sinh trưởng. Các loài
khác nhau có sức chịu đựng
khác
nhau đối với mức độ chiếu sáng cực đại và cực
tiểu. Đó là nguyên nhân chính
của
có
ảnh hưởng quan trọng và thông thường hơn đối với phân bố rạn và phân
vùng san hô.
Rạn
không thể phát triển ở những vùng mà nước sông tràn ngập, đó là
nhân tố chính kiểm soát
san
hô dọc bờ. Ảnh hưởng chính của độ muối lên phân bố vùng
san hô là do nước mưa. San
hô
nói chung có khả năng chịu đựng độ muối thấp trong
một giai đoạn ngắn, nhưng khi mưa
rất
to cùng với triều thấp rạn có thể bị hại, thậm chí
bị phá hủy hoàn
toàn.
1.3.4 Biên độ
triều
Mức chênh triều khác nhau giữa các rạn ở các vùng khác nhau. Sự khác nhau đó
ảnh
hưởng
đáng kể đến sự phân vùng của quần xã san hô. Triều càng cao, ảnh hưởng
của sự ngập
triều
và khả năng vận chuyển chất dinh dưỡng tương ứng cũng như ảnh
hưởng đến sự bày
khô
càng
lớn.
2. Vai trò, chức năng, giá trị của hệ sinh thái rạn san hô
nhưng sản lượng không lớn. Tôm hùm là mang lại giá trị kinh tế cao cho ngư dân.
Các loại rong biển, có giá trị dinh dưỡng cao do chứa nhiều vitamin và muối
khoáng, được khai thác nhiều ở rạn san hô. Một số sinh vật như trai, ốc được khai thác
làm đồ lưu niệm, trang sức.
Các rạn san hô được coi là kho dược liệu dưới đáy biển do có nhiều sinh vật có
hoạt tính sinh học hoặc độc tố có giá trị dược liệu như: san hô sừng, san hô mềm,…
Hệ sinh thái rạn san hô là nguồn lợi to lớn phục vụ cho giải trí và du lịch. Bơi và
lặn là những hoạt động góp phần phát triển kinh tế du lịch ở nhiều vùng đảo nhỏ. Trước
đây, câu và săn cá ở rạn là môn thể thao chính, giờ đây xem và chụp ảnh sinh vật rạn trở
nên hấp dẫn hơn. Trong vài thập niên gần đây do nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí tăng cao, rạn
trở thành nguồn thu lớn cho du lịch sinh thái.
II. HIỆN TRẠNG HỆ SINH THÁI RẠN SAN HÔ CÙ LAO CHÀM
1. Độ phủ san hô ở Cù Lao Chàm
\
7
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Hình 3. Độ phủ san hô toàn vùng Cù Lao Chàm năm 2012
Hình 4.
Phân tích
Độ phủ san
hô toàn vùng
Cù Lao
Chàm năm 2012
Nhìn chung độ phủ san hô trong toàn Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm năm 2012
(26,4%) giảm so với năm 2011 (30%) nhưng không ở mức sai khác đáng kể và vẫn đang
). Mật độ hải sâm
cao nhất tại Hòn Khô, Hòn Lá những nơi được bảo vệ tốt và sinh cảnh phù hợp với vòng
đời sinh trưởng của nó.
10
Các loài giáp xác đặc trưng trong rạn như: tôm bác sỹ, tôm hùm tại thời điểm
khảo sát đều ghi nhận sự có mặt, tuy nhiên mật độ ở mức thấp và giảm so với năm 2011
khoảng 0,6%. Các loài ốc đụn (ốc nón) và trai tai tượng có mật độ thấp nhưng vẫn giữ
nguyên mức như năm 2011 (trung bình 2 cá thể/100m
2
).
Tóm lại, hiện trạng chung độ phủ san hô sống (gồm cả san hô cứng và san hô
mềm) ở khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, ở mức khá hoặc tốt (>26%). Điểm Hòn Lá, Hòn
Khô, Đâu Tai có độ phủ san hô sống cao nhất (35 - 60%), kế tiếp là Hòn Mồ, Hòn Dài.
Đặc biệt tại Hòn Lá và vùng Đâu Tai có độ phủ san hô cứng tạo rạn cao hơn nhiều so với
các điểm còn lại khoảng 25% ở cùng thời điểm khảo sát. Hiện trạng hợp phần đáy là đá
rất cao ở cả 10 điểm khảo sát cả đới cạn và đới sâu, khoảng trên 45%, (trong đó chủ yếu
san hô chết từ lâu) điều này cho thấy nếu quản lý tốt thì tiềm năng phục hồi rạn san hô
trong tương lai là rất lớn vì đây là giá thể quan trọng cho bào tử non của san hô bám vào.
So với kết quả khảo sát năm 2010, 2011 và các kết quả trước không có sự dao động lớn
về độ phủ san hô, cá rạn, động vật thân mềm cỡ lớn…
III. GIÁ TRỊ SINH HỌC VÀ GIÁ TRỊ KINH TÊ CỦA HỆ SINH THÁI
RẠN SAN HÔ CÙ LAO CHÀM
1. Giá trị sinh học
Các rạn san hô được coi là một trong những hệ sinh thái có năng suất cao nhất
trên thế giới. Rạn san hô thường gắn bó chặt chẽ với rừng ngập mặn, thảm cỏ biển nên
chúng tạo cho thủy vực năng suất cao. Sức sản xuất của rạn san hô cao là nhờ tính hiệu
quả của chu trình chuyển hóa vật chất. Trong đó tảo cộng sinh Zooxanthellea, tảo có khả
năng cố định đạm (Nitơ) và vi khuẩn sống trong trầm tích đóng vai trò quyết định. Nhóm
san hô tạo rạn, do có tảo cộng sinh nội bào nên có khả năng tự dưỡng. Trong điều kiện
chiếu sáng thích hợp, quá trình tự dưỡng đã cung cấp hơn 50% dòng năng lượng cho hệ
Các rạn san hô được coi là kho dược liệu dưới đáy biển do có nhiều loài sinh vật
có hoạt tính sinh học và độc tố đặc biệt có giá trị dược liệu. Các loài san hô sừng, san hô
mềm cho nhiều hoạt chất có giá trị dược liệu quý. Các loài sinh vật như hải miên, cầu gai,
hải sâm, và nhiều loại rong biển có hoạt tính sinh học cao và có thể sử dụng làm dược
phẩm, thực phẩm chức năng (H.L, 2014).
Nhiều loài san hô là nguồn dược liệu mới, để chữa những bệnh lý cột sống như tái
tạo bảng sống, tạo hình thân sống hoặc đĩa đệm. Dùng trong các ca mút bỏ mắt, cụ thể là
12
bi san hô được ghép vào hốc mắt. Theo tính toán ban đầu, một đơn vị san hô ghép chưa
tính thuế sản xuất ở trong nước có giá thành từ 200.000 đồng - 300.000 đồng, trong khi
nếu nhập từ nước ngoài là 150 USD, chất lượng quốc tế với giá thành rẻ. Một viên bi mắt
bằng san hô Việt Nam có giá từ 100.000 đồng - 200.000 đồng, so với sản phẩm cùng loại
của Mỹ và Pháp là 5 triệu đồng. Bột san hô sản xuất tại Việt Nam giá 50.000 đồng/500
mg nhưng nếu nhập từ nước ngoài phải tốn 30 USD (Nhất Phương, 2003)
2.1.2 Giá trị du lịch
Cù Lao Chàm là một địa danh du lịch nổi tiếng tại khu vực miền Trung. Cù Lao
Chàm có khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là nguồn hải
sản và nguồn tài nguyên yến sào. Các rạn san hô ở khu vực biển cù lao Chàm cũng được
các nhà khoa học đánh giá cao và đưa vào danh sách bảo vệ. Hệ thống san hô ở đây cũng
là nguồn cảm hứng thu hút nhiều khách du lịch về đây với các tour lặng biển ngắm san
hô.
Tháng 10/2003, Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm được thành lập để giữ gìn
sinh vật hoang dã trên đảo, là 1 trong 15 Khu bảo tồn biển của Việt Nam vào 2007. Ngày
29/05/2009, với hệ động thực vật phong phú và những di tích lịch sử hàng trăm năm
trước, Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới trong
phiên họp thứ 21 của Ủy ban Điều phối quốc tế chương trình con người và sinh quyển
diễn ra tại đảo Jeju (Hàn Quốc). Từ những vẻ đẹp vốn có cộng với sự công nhận của
chính quyền địa phương và UNESCO, Cù Lao Chàm đã trở thành một trong các điểm du
lịch nổi tiếng của Việt Nam (Du lịch Cù Lao Chàm, 2013).
Năm 2009, lượng khách đến Cù Lao Chàm mỗi năm chỉ khoảng vài nghìn lượt
Huyền và cộng sự, 2008).
IV. TÀM QUAN TRỌNG CỦA HỆ SINH THÁI RẠN SAN HÔ CÙ LÀO
CHÀM
Sự cố tràn dầu năm 2007 gây tổn thương mạnh mẽ đến hệ sinh thái rạn san hô ở
Cù lao Chàm. Nồng độ dầu trong nước biển tăng, tác động nghiêm trọng đến số lượng
loài, cấu trúc và độ phủ của rạn.
14
Khi chưa có sự cố tràn dầu, hệ số ô nhiễm dầu một số khu vực ở Cù lao Chàm thấp, ổn
định và luôn duy trì ở mức nhỏ hơn 1.8. Nhưng từ năm 2008, hệ số này đã tăng vọt từ 1.2
– 19.0 ở mặt cắt III và từ 0.7 – 5.4 ở mặt cắt II, chứng tỏ vùng biển ở Cù lao Chàm bị ô
nhiễm nặng. Khảo sát được thực hiện tại Bãi Bắc và Bãi Hương, kết quả cho thấy sự thay
đổi lớn trong số lượng và thành phần các loài trong rạn san hô.
Tại Bãi Hương, nhìn chung không có thay đổi nhiều về cấu trúc và thành phần
loài. San hô mềm còn 20.6% và hầu như không có san hô cứng (0.6%). Tuy nhiên lượng
đá san hô, đá, cát và bùn vẫn chiếm tỉ lệ rất cao). Tại Bãi Bắc, thành phần loài bị biến đổi
nghiêm trọng. Độ phủ của san hô cứng và san hô mềm ở khu vực này chỉ còn 10% và
7.5%, thay vào đó là tỉ lệ đá san hô tăng đến 20%
15
Theo Nguyễn Đăng Ngải (2011), từ những năm 1994, 2005 và 2008, tại 2 khu
vực Bãi Bắc và Bãi Hương đã có sự thay đổi về độ phủ rạn san hô. Tỉ lệ san hô cứng ít đi,
trong khi san hô chết, bùn, cát lại tăng lên, chỉ có san hô mềm là ổn định. Tình hình suy
giảm san hô ở Cù lao Chàm đã lên mức đáng báo động (giảm khoàng 60 – 80%). Nguyên
nhân chính trong khoảng thời gian này là do dầu loang trong nước biển, tấp vào bờ vón
thành cục. Nồng độ dầu trong nước biển sau đó một năm vẫn còn cao hơn so với tiêu
chuẩn hàng chục lần. Do đó, dễ thấy ảnh hưởng của tràn dầu còn nghiêm trọng và cần
thời gian lâu dài mới có thể phục hồi hệ sinh thái rạn san hô lại như tình trạng ban đầu.
Người dân Cù Lao Chàm chủ yếu sống bằng nghề biển, khai thác yến sào và nghề
rừng Tuy nhiên, khi lượng khách du lịch đến đây tăng đột biến thì nhiều người vì lợi
nhuận mà “tiếp tay” cho du khách hủy hoại môi trường. Họ đã bắt và bán cua đá - một
loại động vật quý hiếm, hoặc khai thác san hô làm kỷ niệm, thậm chí một số người dân
nữ đại diện cho 22 hộ gia đình trong cộng đồng Cù Lao Chàm. Trong thời gian qua, kế từ
ngày được đào tạo, các hộ gia đình này đã thực thi nghề nghiệp của mình tại địa phương
và đã có nhiều kết quả đáng kể, góp phần tạo nên sự phong phú các mặt hàng truyền
thống, đậm đà hương vị biển đảo Cù Lao Chàm, giới thiệu đến khách tham quan du lịch.
(Chu Mạnh Trinh và Hứa Chiến Thắng, 2012).
3. Đồng quản lý bảo tồn biển ở Cù Lao Chàm
Cộng đồng cùng chia sẻ trách nhiệm và lợi ích trong việc quản lý, khai thác hợp
lý, bền vững nguồn lợi thủy sản và các giá trị của khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù lao
Chàm. Việc áp dụng mô hình đồng quản lý không chỉ nhằm từng bước khắc phục những
hạn chế từ mô hình quản lý hiện tại, mà còn đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của
cộng đồng ngư dân trong việc hướng đến quyền làm chủ và trách nhiệm đối với tài
nguyên, nguồn lợi hải sản của chính họ. Khi tham gia mô hình đồng quản lý, cộng đồng
địa phương sẽ cùng với các cơ quan hữu quan thảo luận việc lập kế hoạch phân vùng bảo
vệ hệ sinh thái, đa dạng sinh học. Việc áp dụng mô hình này nhằm vận động cộng đồng
cùng chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm quản lý tài nguyên, môi trường ở Cù Lao Chàm
dưới hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi là một giải pháp bảo vệ
và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên biển đảo cần được nhân rộng.
4. Truyền thông nâng cao nhận thức.
Đây là nhóm giải pháp quan trọng và là nền tảng để cộng đồng và toàn xã hội hiểu
được bản chất, các giá trị và lợi ích của danh hiệu khu sinh quyển, từ đó cùng nhau bảo
vệ và phát huy những giá trị do khu sinh quyển mang lại.
5. Nghiên cứu khoa học và ứng dụng.
Đây là nhóm giải pháp xây dựng nền tảng, cơ sở khoa học và dữ liệu phục vụ cho
công tác quản lý và thực thi các nhóm giải pháp khác. Ngoài việc nghiên cứu, chia sẻ
18
thông tin, kinh nghiệm cho khu sinh quyển, lực lượng nghiên cứu sẽ giúp truyền thông,
quảng bá cho khu sinh quyển bằng các công trình nghiên cứu, các bài viết, tin tức….
6. Phát triển du lịch sinh thái gắn với cộng đồng.
Các khu sinh quyển chắc chắn sẽ là những điểm thu hút khách du lịch đến để trải
nghiệm những giá trị đặc trưng của khu sinh quyển mà các giá trị này phải gắn liền với