Vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ trong việc ly hôn - Pdf 28

Đề số 7: Vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ trong việc ly hôn
Bài làm
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong mỗi chúng ta, ai cũng mong ước được sống trong một gia đình hạnh
phúc. Ở đó vợ chồng sống bình đẳng, hòa thuận, thương yêu quý trọng lẫn nhau,
con cái ngoan ngoãn, hiếu thảo ông bà cha mẹ. Nhưng không phải mong ước ấy
lúc nào cũng trở thành hiện thực, mà trong thực tế cuộc sống vẫn còn nhiều gia
đình lâm vào hoàn cảnh bất hạnh. Vợ chồng bất hòa, mâu thuẫn dẫn đến ly hôn,
trong đó người phụ nữ luôn phải chịu nhiều phần thiệt hơn. Vấn đề bảo vệ quyền
lợi của người phụ nữ trong việc ly hôn là việc làm hết sức quan trọng trong xã
hội ngày nay.
B. NỘI DUNG
I. Những vấn đề chung
1. Khái niệm ly hôn:
“Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết
định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc của hai vợ chồng” ( khoản 8, Điều
8 Luật HN&GĐ).
Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân. Nếu kết hôn là hiện tượng bình
đẳng nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, thì hiện tượng ly hôn là hiện tượng bất
bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi
quân hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ.
2. Quyền của người phụ nữ trong ly hôn
Theo nghĩa thông thường thì quyền được hiểu là điều mà pháp luật hoặc
xã hội công nhận cho họ được hưởng, được làm, được đòi hỏi. Trong khoa học
luật, khái niệm quyền phụ nữ chưa được làm sáng tỏ. Để tiếp cận khái niệm về
quyền phụ nữ, chúng ta không thể tách rời với việc nghiên cứu khái niệm về
quyền con người.
1
• Khái niệm quyền con người
Quyền con người là một thuật ngữ khá phổ biến. tuy nhiên, trong các văn
bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia chưa có một định nghĩa chính

đình.
1.1. Quốc triều hình luật
Trong hôn nhân, người phụ nữ cũng có thể yêu cầu ly hôn (đâm đơn kiện).
Điều 322 Quốc triều hình luật ghi: "con rể lăng mạ cha mẹ vợ, đem thưa quan,
cho ly dị". Ngoài ra, người vợ còn được phép xin ly hôn trong trường hợp chồng
không chăm nom, săn sóc vợ trong 5 tháng (và trong 1 năm nếu vợ đã có con).
Nếu vợ đem đơn đến công đường thì bộ luật cho phép cưỡng bức ly hôn. Khi ly
hôn, con cái thường thuộc về chồng, nhưng nếu muốn giữ con, người vợ có
quyền đòi chia một nửa số con.
Điều 167 - Hồng Đức thiện chính thư - quy định rõ hình thức thuận tình ly
hôn: Giấy ly hôn được làm dưới hình thức hợp đồng, người vợ và người chồng
mỗi bên giữ một bản làm bằng. Vậy là, bên cạnh sự ưng thuận của cha mẹ hay
các bậc tôn thuộc rất quan trọng thì sự ưng thuận của hai bên trai - gái cũng là
một thành tố được nhà lập pháp chú ý đến.
Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng sau khi ly hôn hoàn toàn chấm dứt,
hai bên đều có quyền kết hôn với người khác mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Bộ luật nhà Lê đã quy định khá đầy đủ các quan hệ hôn nhân và gia đình
song quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong nhiều trường hợp không được quy
định, hạn chế tác động điều chỉnh của các quy phạm pháp luật. Hậu quả pháp lí
của li hôn không được quy định mà giải quyết theo phong tục tập quán.
1.2. Bộ luật Gia Long
Điều 15 Xuất thê Hộ luật hôn nhân có quy định:
3
“- Phàm dù vợ ở trong 7 điều nên bỏ, cũng không nên bỏ, và đối với chồng
không có trạng thái nghĩa tuyệt, mà tự tiện bỏ vợ thì phạt 80 trượng. Dù phạm 7
điều là không có con, dâm dật, không thờ cha mẹ chồng, nói nhiều, trộm cắp,
ghen tuông, ác tật. Nhưng có 3 điều không bỏ để tang 3 năm, trước nghèo sau
giàu, có người cưới cũng không ưng mà bỏ thì giảm hai bực tội, cho về đoàn tụ.
Nghĩa tuyệt là ân tình chồng vợ đi trái ngược nhau làm cho mất đứt nghĩa.
Điều luật này quy định cũng tương tự như trong Quốc triều hình luật. Tuy người

Về quyền yêu cầu xin ly hôn, cả hai luật đều quy định bình đẳng giữa hai
vợ chồng. Một trong hai người hoặc cả hai người nhận thấy tình trạng hôn nhân
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt
được thì đều có thể nộp đơn xin ly hôn và được Toà án nhân dân sẽ xử cho ly
hôn.
Về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn, cả hai luật đều đưa ra quy định khá
giống nhau: “Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ
đã sinh con được một năm. Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly
hôn của người vợ.” (điều 41 Luật hôn nhân gia đình 1986).
Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn
Các quy định về việc này giữa hai luật cũng khá giống nhau và đều được quy
định trên cơ sở đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ và chồng và bắt buộc phải xem
xét tới lợi ích của con cái. Nội dung chính bao gồm:
- Khi ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trông nom, nuôi dưỡng,
giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.
- Về nguyên tắc, con còn bú được giao cho người mẹ nuôi giữ.
- Người không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc
con và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con. Nếu trì hoãn hoặc lẩn
5
tránh việc đóng góp, thì Toà án nhân dân quyết định khấu trừ vào thu nhập hoặc
buộc phải nộp những khoản phí tổn đó.
- Vì lợi ích của con, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ con hoặc
mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con.
Các quy định về việc chia tài sản sau khi ly hôn cũng được xây dựng trên
cơ sở bình đẳng giữa vợ và chồng. Nhà làm luật đã nhấn mạnh thêm việc bảo vệ
quyền cho người phụ nữ khi ly hôn trong quy định: “Khi chia tài sản, phải bảo
vệ quyền lợi của người vợ…”
2.2. Luật hôn nhân gia đình 2000
Khoản 1 điều 85 Luật hôn nhân và gia đình 2000 thể hiện sự bình đẳng
giữa vợ và chồng trong việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Nhà nước bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status