BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KEO MENG HONG
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG CAMPUCHIA VỚI
VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 603850
LUẬT VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TIẾN SĨ TRẦN THỊ THÚY LÂM
HÀ NỘI – 2011
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới
cô giáo TS, Trần Thị Thùy Lâm về sự hướng dẫn tận tình và chủ đáo của cô
trong suốt quá trình hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trường Đại
học Luật Hà Nội, Việt Nam đã tận tình giảng dậy, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình tôi học tập và nghiên cứu tại trường.
!" #$ %& '()**+
( ',-./
Hà Nội, ngày 15 tháng 02 năm 2011
TÁC GIẢ
KEO MENGHONG
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tổ chức Lao động quốc tế : ILO
Người lao động : NLĐ
Người sử dụng lao động : NSDLĐ
Pháp luật lao động : PLLĐ
ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quản lý lao động và
thực tiễn áp dụng 33
2.3. Quy định của pháp luật lao động Campuchia về bảo vệ tài sản cho
người sử dụng lao động và thực tiễn áp dụng 40
2.4. Quy định của pháp luật lao động Campuchia về các phương thức
bảo vệ NSDLĐ và thực tiễn áp dụng 46
Chương 3 52
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG CỦA VƯƠNG QUỐC
CAMPUCHIA VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 52
3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật lao động Vương Quốc
Campuchia với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ 52
</0/0/HI9J,&@,&A .$,()B)2
D=KLM9!A ,N,&@,&A .$()DLM//////////78
</0/8/M@,&&2( '(,$@,&
A .$,()B)2D=KLM92O+,N,&
&2A .P2( %2///////////////////////////////////////////77
</0/</M@'%?A !?,Q),N$
%&?P93(" ///////////////////////////////////7G
3.2. Những giải pháp để hoàn thiện pháp luật lao động Campuchia với
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp của NSDLĐ 59
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hệ thống pháp luật của bất kỳ một nước nào cũng phản ánh những chuẩn
mực, thông lệ và giá trị về kinh tế, chính trị, xã hội của nước đó tại thời điểm
luật pháp được ban hành. Ở Campuchia, trong giai đoạn nền kinh tế tập trung
thì người sử dụng lao động chỉ là người nhân danh Nhà nước trong quản lý tài
sản mà không có quyền quyết định bất cứ một vấn đề gì về tổ chức quản lý
định pháp lý về vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
lao động. Đồng thời phân tích, đánh giá, nhìn nhận thực trạng và xu hướng
phát triển các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
lao động trong Luật lao động của Campuchia. Trên cơ sở đó đưa ra các giải
pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật của Nhà nước về
vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động nhằm
cải thiện môi trường lao động ở Campuchia.
b. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người sử dụng lao động.
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật của Vương quốc
Campuchia về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động
và thực tiễn áp dụng.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật lao động
Campuchia về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.
4. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật lao động về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
sử dụng lao động là vấn đề nóng bỏng đối với tất cả các nước đặc biệt là các
nước đang phát triển như Việt Nam và Campuchia. Do vậy, trong thời qua ở
Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này. Đã có một
số bài viết mang tính chất nghiên cứu một số nội dung của vấn đề bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động được đăng tải trên tạp
chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật … kể cả một số luận văn thạc sĩ
và luận văn tiến sĩ luật học nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Các công
trình trên chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi pháp luật lao động Việt Nam.
Tuy nhiên tại Vương quốc Campuchia, vấn đề này chưa được quan tâm
cũng như tập trung nghiên cứu một cách thích đáng. Ngoài dự án xây dựng và
sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật nói chung và các văn bản pháp luật lao
động nói riêng, hầu như chưa có bài viết hoặc công trình nghiên cứu nào đề
cập tới vấn đề này một cách đầy đủ, toàn diện, mặc dù Campuchia cũng đã là
nghiệp, cơ sở sản xuất, có trách nhiệm quản lý doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
đó. Hay người thay mặt cho chủ sở hữu doanh nghiệp, cơ sở sản xuất quản lý
các vấn đề liên quan tới NLĐ”. Như vậy, theo khái niệm này thì NSDLĐ là
những người sở hữu đơn vị sản xuất, kinh doanh hoặc là người có đủ năng lực
hành vi dân sự, có đủ tư cách pháp lý để có thiết lập ra quan hệ lao động, tức
là có thể tạo việc làm cho người lao động khác.
Ở Việt Nam NSDLĐ là các cơ quan nhà nước, các tổ chức, các đơn vị
kinh tế thuộc mọi thành phần, các hợp tác xã, các cơ quan tổ chức nước
ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, các cá nhân và hộ gia đình các cơ quan, tổ
chức có nhu cầu sử dụng lao động cũng đều có thể trở thành chủ sử dụng lao
động. Điều 57 và Điều 58 của Hiến pháp Việt Nam quy định: “Công dân có
quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” và “Công dân có quyền
sở hữu tư liệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp”. Pháp luật Lào
cùng có quy định về vấn đề này, theo khoản 5, điều 2 của Bộ luật lao động
nước Lào thì: “NSDLĐ có nghĩa là một cá nhân hoặc tổ chức sử dụng lao
động cho các hoạt động của mình bằng cách trả lương hoặc tiền lương, và
cung cấp các lợi ích và các chính sách khác cho nhân viên theo quy định của
pháp luật, quy định và hợp đồng việc làm”. Vì vậy, họ có quyền trở thành
NSDLD trong quá trình tự do kinh doanh của mình.
Điều 2 Luật Lao động Campuchia thì quy định: “NSDLĐ có nghĩa là
tất cả các cá nhân, pháp nhân, công cộng hay tư nhân được coi là sử dụng
lao động khi người đó tạo nên một doanh nghiệp và sử dụng một hoặc nhiều
công nhân, thậm chí không liên tục”.
Như vậy, dù theo khái niệm nào, đứng trên quan điểm nào thì NSDLĐ
được hiểu là tổ chức, đơn vị cá nhân có nhu cầu sử dụng lao động, có thể đảm
bảo các điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động và thực hiện nhiệm
vụ đối với người lao động.
1.1.2. Vai trò người sử dụng lao động
Trong bất kỳ giai đoạn nào thì lao động vẫn luôn là một nhân tố quyết
định sự tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội ở giai đoạn đó. Tuy nhiên, chỉ có
và rất tốt, họ biết cách vận dụng một cách khéo léo vào thực tế hoạt động của
công ty mình và truyền tải tới người lao động. NSDLĐ là người quản lý và sử
dụng các máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại ấy để có thể đảm bảo hiệu quả
cao về kinh tế, kể cả việc sửa chữa, chăm sóc và bảo dưỡng chúng.
Cùng với điều kiện về tài chính và trách nhiệm với khối tài sản đầu tư
vào kinh doanh, NSDLĐ có sức mạnh, sự hiểu biết, kỹ năng lao động và ngày
càng trở nên có trí tuệ. Trí tuệ của NSDLĐ là sản phẩm tự nhiên của lao động
và ngày càng phát triển nhờ kinh nghiệm quản lý và điều hành lao động.
Trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện đại đã làm cho NSDLĐ càng
trở thành một nguồn lực đặc biệt của sản xuất {12, tr.10}. Bởi để đáp ứng
được nhu cầu phong phú và vô tận của con người trong sự phát triển đời sống
kinh tế - xã hội, thì bản thân các nguyên vật liệu tự nhiên chưa thể đáp ứng
được mà cần có sự kết tinh của lao động. Với việc đầu tư tài chính máy móc,
công nghệ, thông qua sản xuất, với việc sử dụng sức lao động của NLĐ,
NSDLĐ và tạo ra sản phẩm có giá trị sử dụng tăng lên như: giá trị thẩm mỹ,
sử dụng, các tính năng…
Như vậy, NSDLĐ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển
kinh tế - xã hội, họ là những người am hiểu luật pháp, luôn tìm ra các phương
hướng, lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới nhằm tạo ra nhiều việc làm cho
người lao động, để từ đó tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội và nâng dần mức
sống của NLĐ góp phần vào sự tồn tại và phát triển, ổn định của một quốc gia
dân tộc {13, tr.31}. Ở đâu có lực lượng NSDLĐ hùng mạnh, thì ở đó NLĐ có
nhiều việc làm, có thu nhập cao và ở đó kinh tế và xã hội được đảm bảo phát
triển một cách ổn định và thịnh vượng.
1.1.3. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử
dụng lao động trong pháp luật lao động.
Quan hệ lao động được hình thành trên cơ sở sự thương lượng thỏa thuận
giữa hai bên, NLĐ và NSDLĐ. Trong quan hệ này, NSDLĐ thường ở vị thế
mạnh hơn so với NLĐ bởi họ là người có tài sản, có quyền sở hữu đối với tài
sản trong doanh nghiệp. Thêm vào đó họ lại là người có quyền tổ chức và
điều kiện ổn định, hài hòa mối quan hệ lao động, thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh, khi đó sẽ làm phát triển thị trường lao động. Một thị trường lao động
được coi là phát triển và ổn định khi có sự cân bằng giữa cung lao động và
cầu lao động. Nếu cung về lao động thừa sẽ gây ra tình trạng dư thừa lao
động, tăng tỷ lệ thất nghiệp của NLĐ, làm thị trường lao động bị mất sự ổn
định và cân đối. Nhưng nếu cầu lao động thừa sẽ gây ra tình trạng thiếu lao
động, làm giá lao động lên cao, có nhiều ngành nghề, lĩnh vực khan hiếm lao
động, không có lao động vào sản xuất, khi đó sẽ không tạo ra của cải cho xã
hội. Mặt khác, khi cầu lao động tăng nhanh mà thiếu lao động giỏi thì thị
trường lao động cũng không thể ổn định, phát triển được. Đó là điều chắc
chắn vì cung và cầu chỉ có thể nằm trong một thể thống nhất của thị trường
lao động.
Như vậy, trong mối quan hệ với NLĐ thì NSDLĐ có một vai trò hết sức
quan trọng. Nếu không có sự tổ chức, quản lý và điều hành tốt của NSDLĐ
thì NLĐ chỉ là những cá nhân riêng lẻ, không có môi trường làm việc trong
một tập thể có phân công lao động ở trình độ cao. Khi đó, hoạt động của mỗi
người mang tính tự phát, thiếu chuyên nghiệp, không thể tạo ra được những
dây chuyền sản xuất có hiệu quả. Thực tế đã chứng minh, nếu nơi nào mà có
một môi trường lao động được tổ chức tốt, quản lý của NSDLĐ tốt, tính kỷ
luật cao thì NLĐ sẽ làm việc hết năng suất, tạo ra nhiều sản phẩm, của cải.
Khi đó lợi ích của NSDLĐ cũng được tăng lên và họ sẽ có điều kiện trả công
cho NLĐ cao hơn, đảm bảo cho NLĐ làm việc trong điều kiện tốt hơn.
Lợi ích của NLĐ và NSDLĐ vừa mâu thuẫn nhau cũng vừa thống nhất
với nhau. Sự mâu thuẫn nhau thể hiện ở việc NLĐ bao giờ cũng muốn lương
cao, thời gian làm việc ít điều kiện lao động thuận lợi. Còn NSDLĐ, do muốn
có nhiều lợi nhuận nên tìm cách tiết kiệm chi phí trong đó có chi phí cho NLĐ
. Lợi ích của hai chủ thể này hướng tới là khác nhau, đối lập nhau, nhưng xét
về căn nguyên thì nó lại có quan hệ tương hỗ. Không có lợi ích của NSDLĐ
thì cũng không có lợi ích của NLĐ. Cụ thể là: Khi NLĐ không tăng năng
suất, tạo ra nhiều sản phẩm tốt trong quá trình sản xuất, khi đó NSDLĐ sẽ
đối với NSDLĐ, vì NSDLĐ có được một số lượng và chất lượng NLĐ tốt thì sẽ
đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp, đồng thời nó cũng tạo cho NLĐ có
việc làm ổn định, góp phần giải quyết sự thất nghiệp trong xã hội, làm giảm bớt
sự nghèo đói và tệ nạn xã hội. Mặt khác, khi được quyền tuyển dụng lao động
vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thì NSDLĐ cần phải có quyền được sử
dụng lao động sao cho hợp lý nhất để phù hợp với công việc hiện tại của đơn
vị, sắp xếp được đúng người, đúng việc nhằm phát huy cao nhất năng suất lao
động của mỗi người lao động. Khi doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh
thì sẽ cần sử dụng thêm lao động, ngược lại khi doanh nghiệp làm ăn kém
hiệu quả thì khi đó doanh nghiệp có thể phải giảm bớt lao động… Chính vì
vậy, NSDLĐ cần có quyền tuyển chọn, sử dụng lao động theo nhu cầu sản
xuất, kinh doanh. Bộ luật lao động của Việt Nam quy định: NSDLĐ có quyền
tuyển dụng lao động, bố trí điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất kinh
doanh (khoản 1 Điều 8). Luật lao động của hầu hết các nước cũng đều có quy
định tương tự.
NSDLĐ có quyền quản lý lao động
Quản lý và điều hành lao động là hình thức mà NSDLĐ có thể bố trí lao
động làm việc theo một mô hình mà NSDLĐ đã thiết lập, nhằm mục đích phù
hợp với sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Việc điều hành này có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong việc sử dụng lao động. Vì, NSDLĐ quản lý
và sử dụng sức lao động của con người, chứ không phải quản lý một vật dụng
nào khác. Mặt khác, trong một tổ chức phải có nội quy, quy định cụ thể, nó
được xem như là chuẩn mực trong hoạt động để NLĐ vào nề nếp. Trong một
đơn vị, nhiều người cùng thực hiện một kế hoạch sản xuất, kinh doanh thống
nhất, nên cần phải có người quản lý để hướng hoạt động của nhiều người vào
kế hoạch chung.
Vị trí quản lý phải là NSDLĐ vì họ là người sở hữu hoặc quản lý tài sản
của đơn vị (ở đây thể hiện quan hệ sở hữu chi phối quan hệ quản lý và quan
hệ phân phối), do đó họ có trách nhiệm sử dụng hiệu quả khối tài sản đó. Việc
thực hiện quyền quản lý phải tuân thủ pháp luật, các quy định, quy chế mới
nhà xưởng đến những tài sản phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh,
và thậm chí là cả những loịa tài sản phi vật chất khác. Đối với những tài sản
mà NSDLD đã đầu tư, đương nhiên thuộc sở hữu của họ và được Hiến pháp
cũng như pháp luật dân sự ghi nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, do đặc thù của
quan hệ lao động, trong quá trình sản xuất kinh doanh sẽ phát sinh thêm một
loại tài sản thuộc sở hữu của NSDLD, đó chính là những lợi nhuận thu được
từ chính hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Đây là một loại tài sản có thể nói
là quan trọng nhất của NSDLD cần được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong
Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam có quy định về quyền sở hữu tài sản của
công dân tại Điều 58 "Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của
cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác
trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà
nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 ". Hay tại Bộ
luật dân sự 2005 của Việt Nam cũng quy định: "Điều 170. Quyền sở hữu
được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:
+ Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;
+ Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
+ Thu hoa lợi, lợi tức;
+ Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến;
+ Được thừa kế tài sản;
+ Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô
chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật
nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên;
+ Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục,
công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này;
Người sử dụng lao động còn được đảm bảo bồi thường thiệt hại nếu bị người
lao động hoặc các chủ thể khác xâm hại lợi ích hợp pháp
+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định, Điều 169. Bảo vệ quyền
sở hữu
2004 của Campuchia quy định: “Các hành vi vi phạm của NLĐ gây ra thiệt
hại cho NSDLĐ phải bồi thường toàn bộ bằng giá trị thị trường và khấu trừ
tiền lương từ ba tháng đến sáu tháng”.
Do vậy, việc bảo đảm bồi thường thiệt hại nếu bị người lao động hoặc
các chủ thể khác xâm hại lợi ích hợp pháp là hoàn toàn hợp pháp và hợp lệ.
1.2.2. Biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao
động.
Biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích của người sử dụng lao động chính
là cách thức và phương pháp tiến hành để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của NSDLĐ do pháp luật quy định, sao cho không bị các đối tượng khác xâm
phạm đến lợi ích của NSDLĐ. Tùy vào từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà
có các biện pháp bảo vệ khác nhau. Thông thường để bảo vệ các quyền và lợi
ích của mình một cách tốt nhất và có hiệu quả, NSDLĐ có thể áp dụng các
biện pháp sau:
Tự bảo vệ: tham gia tổ chức của người sử dụng lao động
Trong nền kinh tế thị trường NLĐ thường liên kết lại để đấu tranh bảo
vệ quyền và lợi ích của mình trước NSDLĐ. Tuy nhiên, NLĐ không chỉ
chống lại NSDLĐ trong phạm vi doanh nghiệp mà họ mở rộng ra là phạm vi
toàn ngành hoặc toàn khu vực. Chính vì thế NSDLĐ khó có thể đơn phương,
tự mình bảo vệ quyền lợi, phải liên kết với những người SDLD khác để bảo
vệ mình trước sự đấu tranh của NLĐ. Đó chính là việc họ tham gia vào các tổ
chức của NSDLD. Khi trở thành thành viên của các tổ chức đó, NSDLD sẽ
được hưởng những quyền lợi mà tổ chức trao cho trong quá trình bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhất là khi có đình công xảy ra.
Tổ chức giới sử dụng lao động có thể đại diện cho NSDLĐ tham gia cơ
chế ba bên, bảo vệ và thay mặt cho NSDLĐ làm việc với các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để ra các chính sách mới về lao động, sao cho hợp lý
nhất cho cả NLĐ và NSDLĐ. Mặt khác, giới sử dụng lao động cũng là tổ
chức đại diện cho NSDLĐ tham gia đòi quyền lợi cho NSDLĐ khi bị xâm
phạm. Vì vậy, cần phải đảm bảo cho NSDLĐ được quyền tham gia tổ chức
cấp trung gian đứng ra làm hòa giải và họ sẽ có những tiếng nói nhằm đảm
bảo lợi ích của cả hai bên.
Hòa giải là một biện pháp hòa bình, hữu nghị, bởi khi NSDLĐ lựa chọn
hình thức này chứng tỏ rằng NSDLĐ rất tôn trọng người hòa giải, họ cần sự
khách quan, công bằng khi nhìn nhận vấn đề. Khác với Trọng tài hay tòa án,
người hòa giải không có quyền đưa ra những phán quyết, nhưng lời thương
thuyết của họ lại có tính thuyết phục, có giá trị. Trong xã hội hiện nay thì
công tác hòa giải, cấp trung gian hòa giải là cực kỳ quan trọng và cần thiết
trong mối quan hệ lao động.
Trong công tác hòa giải, trình tự hòa giải cũng rất đơn giản, nhanh gọn,
do đó làm cho NSDLĐ rất đồng tình và ủng hộ, vì chính họ cũng không muốn
kéo dài thời gian tranh chấp lao động. Thông thường, trong vòng bảy ngày
làm việc kể từ khi nhận được đơn yêu cầu hòa giải của các bên tranh chấp lao
động thì Hội đồng hòa giải phải tiến hành hòa giải. Hiện nay, thời gian đó là
phù hợp cho cả các bên tranh chấp và Hội đồng hòa giải. Khi có tranh chấp
trong quan hệ lao động, NSDLĐ luôn mong muốn được hòa giải sớm, vì họ
rất tin tưởng vào Hội đồng hòa giải sẽ là đơn vị trung gian đảm bảo tính
nhanh, gọn và không mất nhiều chi phí mà vẫn đảm bảo được lợi ích của các
bên. Trong trường hợp hòa giải thành, hai bên nhất trí với phương án hòa giải
của Hội đồng hòa giải thì sẽ cùng ký vào biên bản hòa giải và các bên sẽ phải
có nghĩa vụ thực hiện những cam kết đã nghi trong biên bản. Từ đây những
mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích của các bên đã được giải quyết xong và các
bên có thể tiếp tục quan hệ lao động thì tiếp tục, còn nếu không thì hai bên sẽ
kết thúc quan hệ lao động. Như vậy, trong một chừng mực nào đó thì Hội
đồng hòa giải là cơ quan giải quyết tranh chấp lao động nhanh gọn, hiệu quả.
Khi tranh chấp lao động xảy ra mà hòa giải không thành thì hai bên sẽ
tiến hành nhờ đến vai trò của Hội đồng trọng tài lao động. Theo khoản 2 điều
169 của Bộ luật lao động Việt Nam quy định về trọng tài lao động là: “Hội
đồng trọng tài lao động cấp tỉnh gồm các thành viên chuyên trách và kiêm
chức là đại diện của cơ quan lao động, đại diện của công đoàn, đại diện của