tóm tắt luận án tiến sĩ: Tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An - Pdf 28

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp (TCLTCN) là một trong những hình thức tổ
chức của nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ. Nó có vai trò to lớn trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề TCLTCN đã và đang được quan
tâm một cách rộng rãi. Nó được xem như một giải pháp phát triển công nghiệp nói
riêng và cả nền kinh tế - xã hội nói chung. Các nhà khoa học đã đưa ra một số hình
thức TCLTCN cơ bản và nhiều quốc gia đã áp dụng thành công và mang lại hiệu quả
kinh tế rất cao. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu TCLTCN bước đầu đã đưa ra khái niệm
và một số hình thức TCLTCN của đất nước, góp phần hoàn thiện bức tranh không
gian tổ chức lãnh thổ của nền kinh tế - xã hội nước ta.
Ở Nghệ An, khái niệm TCLTCN chưa được nghiên cứu sâu mà mới chỉ mang
tính chất qui hoạch. Do đó, đề tài “TCLTCN Nghệ An” được phát triển theo hướng
chuyên sâu, chuyển từ mức độ định tính đơn giản sang định lượng với mong muốn
xây dựng một mô hình TCLTCN của tỉnh sao cho mang lại hiệu quả cao nhất, góp
phần vào định hướng phát triển tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Cùng với khái niệm “tổ chức lãnh thổ kinh tế”, thuật ngữ “tổ chức lãnh thổ sản
xuất công nghiệp” được các nhà khoa học Xô Viết công nhận và sử dụng trong các tài
liệu khoa học vào đầu những năm 60. Sau đó khái niệm “tổ chức lãnh thổ” hay còn
gọi là “tổ chức không gian” được tiếp nhận và sử dụng ở nhiều nước phương Tây,
đặc biệt là ở Mĩ vào đầu những năm 70. Nhưng chỉ từ giữa và cuối thời gian này, khái
niệm “tổ chức lãnh thổ” mới được các nhà khoa học thế giới nghiên cứu và sử dụng
rộng rãi với tư cách là công cụ tư duy tổng hợp, công cụ tổ chức thực tiễn các hoạt
động của xã hội.
Ở Việt Nam, tổ chức không gian được đưa vào nghiên cứu và ứng dụng thực
tiễn bước đầu vào những năm 80. Đến năm 1996, với đề tài độc lập và trọng điểm cấp
Nhà nước về “Cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ Việt Nam”, GS. Lê Bá Thảo đã phân
tích một cách có hệ thống và sâu sắc cơ sở lí luận và thực tiễn của TCLTCN Việt Nam
trong chương III của đề tài. Năm 1994, Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và

3.3. Giới hạn nghiên cứu đề tài
- Về phương diện lãnh thổ, đề tài nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ xác định là tỉnh
Nghệ An, có liên hệ với một số địa phương lân cận.
- Về nội dung: đề tài tiến hành đánh giá những nhân tố chính tác động đến tổ chức
lãnh thổ công nghiệp Nghệ An, đi sâu tìm hiểu, phân tích một số hình thức tổ chức lãnh
thổ công nghiệp chính trên địa bàn đặc biệt chú trọng vào phân tích hiệu quả hoạt động
của hình thức khu công nghiệp tập trung.
- Về thời gian: Đề tài sử dụng chuỗi số liệu từ 2001 - 2010.
4. Quan điểm nghiên cứu
4.1. Quan điểm tổng hợp, lãnh thổ
4.2. Quan điểm hệ thống
4.3. Quan điểm phát triển bền vững
4.4. Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1. Phương pháp thu thập, xử lí và tổng hợp tài liệu
5.2. Phương pháp thống kê, so sánh
5.3. Phương pháp thực địa
2
5.4. Phương pháp chuyên gia
5.5. Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý
5.6. Phương pháp dự báo
6. Đóng góp chủ yếu của luận án
- Đúc kết, bổ sung và làm sáng tỏ được cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTCN
và vận dụng chúng vào nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An.
- Xác định được hệ thống chỉ tiêu mang tính định lượng để đánh giá một hình
thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp tiêu biểu cho địa bàn cấp tỉnh là KCN và áp dụng
vào địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTCN của tỉnh Nghệ An để
làm rõ được những thế mạnh và hạn chế của địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá được thực trạng TCLTCN của tỉnh Nghệ An với các hình thức:

1.1.1.3. Các lý thuyết liên quan đến tổ chức lãnh thổ
+ Lý thuyết tổ chức
+ Lý thuyết khu vị luận công nghiệp
+ Lý thuyết các điểm trung tâm của W. Cristaller - (Đức, 1933)
+ Lý thuyết phát triển các cực (của Francoi Perroux, Pháp, 1950)
1.1.2. Tổ chức lãnh thổ công nghiệp
1.1.2.1. Quan niệm về tổ chức lãnh thổ công nghiệp
Ở Việt Nam, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất là: TCLTCN là việc bố trí
hợp lý các cơ sở sản xuất công nghiệp, các cơ sở phục vụ cho hoạt động công nghiệp,
các điểm dân cư cùng kết cấu hạ tầng trên phạm vi một lãnh thổ nhất định nhằm sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài của lãnh thổ đó.
1.1.2.2. Các đặc tính của tổ chức lãnh thổ công nghiệp
TCLTCN có 3 đặc tính cơ bản, đó là:
+ Tính kết cấu hệ thống
+ Tính lãnh thổ
+ Tính đa phương án
1.1.2.3. Nguyên tắc TCLTCN
+ TCLTCN phải thoả mãn yêu cầu về khả năng tài nguyên và nhu cầu thị
trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao.
+ Hài hoà, tương tác, hỗ trợ cùng phát triển đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội
cho tổng thể.
+ Sự phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ.
+ Phải kiến thiết cho được những khu nhân (những trung tâm đô thị, thành phố,
khu vực ngoại vi) để tạo động lực cho sự hình thành các hình thức TCLTCN mang lại
hiệu quả cao nhất [51].
1.1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp bao gồm: vị trí địa lí
và tài nguyên thiên nhiên, dân cư và nguồn lao động, trình độ khoa học - công nghệ,
cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật, môi trường chính sách, các nguồn lực tài
chính, thị trường và các mối quan hệ liên lãnh thổ…

nghiệp mạnh cho phát triển kinh tế đất nước. Năm 2008, tổng giá trị sản xuất công
nghiệp của các KCN đạt 33,2 tỉ USD chiếm 38% GDP cả nước. Các KCN đóng góp
đáng kể vào tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước, hàng năm đạt tỉ trọng trung
bình khoảng 20%. Tính bình quân một ha đất công nghiệp cho thuê đã tạo ra giá trị xuất
khẩu khoảng 700.000 USD. Với vai trò quan trọng của mình, các doanh nghiệp KCN đã
nộp ngân sách Nhà nước 2,6 tỉ USD. Giá trị sản xuất kinh doanh trên một ha đất công
nghiệp đã cho thuê đạt 1,68 triệu USD/năm [13]. Đồng hành với sự phát triển KCN, cơ
sở hạ tầng kinh tế như cảng biển, hệ thống đường, điện, nước, thông tin liên lạc… tại các
khu vực này cũng phát triển theo, hạ tầng KCN cũng như những vùng xung quanh KCN
có sự thay đổi nhanh chóng. Thêm vào đó, sự phát triển KCN đã hình thành một đội ngũ
công nhân có tác phong công nghiệp và ý thức kỉ luật lao động cao.
Tuy có nhiều đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, song quá trình phát triển KCN cũng đã làm phát sinh một số vấn đề xã hội đáng
quan tâm, cũng như trong thực tiễn xây dựng và đi vào hoạt động, các KCN đã bộc lộ
những thách thức không nhỏ đối với môi trường.
- Các trung tâm công nghiệp cũng giữ một vai trò quan trọng trong bức tranh
5
phân bố công nghiệp. Căn cứ vào vai trò của trung tâm công nghiệp trong sự phân
công lao động theo lãnh thổ, có thể chia ra: các trung tâm công nghiệp có ý nghĩa
quốc gia (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh), các trung tâm có ý nghĩa vùng (Hải Phòng, Đà
Nẵng, Cần Thơ…) và các trung tâm có ý nghĩa địa phương (Việt Trì, Bắc Giang…)
- Ở Việt Nam, dải công nghiệp có lẽ không nhiều và chưa thật tiêu biểu. Chúng
thường tập trung xung quanh các thành phố - trung tâm công nghiệp hàng đầu của cả
nước như Tp. Hồ Chí Minh và phụ cận, Hà Nội và phụ cận…
- Vùng công nghiệp là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, có ranh giới riêng
theo quyết định của Chính phủ. Đây là hình thức tổ chức lãnh thổ cao nhất và đặc thù
của Việt Nam. Lãnh thổ Việt Nam được chia thành 6 vùng công nghiệp, mỗi vùng có
một thế mạnh và những hướng chuyên môn hóa khác nhau.
1.2.2. Khái quát một số hình thức TCLTCN ở khu vực Bắc Trung Bộ
- Các điểm công nghiệp của khu vực Bắc Trung Bộ nằm tương đối rải rác và

phố hay nằm gần khu vực sản xuất nông nghiệp.
- Trung tâm công nghiệp
Ở Bắc Trung Bộ có rất ít các trung tâm công nghiệp và các trung tâm công
nghiệp này hầu hết đều là qui mô nhỏ như: Bỉm Sơn, Thành phố Thanh Hóa (Thanh
Hóa), Vinh (Nghệ An), Huế (Thừa Thiên - Huế). Đây hầu hết là các trung tâm công
nghiệp đa ngành và hướng tới những sản phẩm chuyên môn hóa dựa trên thế mạnh
của vùng như: sản xuất VLXD, chế biến lương thực, thực phẩm. Các trung tâm công
nghiệp này đều có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với phát triển TCLTCN của vùng,
đặc biệt là trung tâm công nghiệp Huế - nằm trong địa bàn trọng điểm miền Trung.
Đây được xem là một cực phát triển, là hạt nhân để lan tỏa ra các tỉnh lân cận trong
khu vực.
1.3. Vận dụng cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn vào việc tổ chức lãnh thổ công
nghiệp cấp tỉnh
1.3.1. Các nguyên tắc TCLTCN
- Trong không gian công nghiệp phải tạo ra được một trật tự hợp lý có tính tới
khả năng tài nguyên và yêu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích cộng đồng và đạt hiệu quả
kinh tế - xã hội cao.
- Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An phải đảm bảo có sự phát triển hài hoà
và tương tác.
- Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An phải đảm bảo có sự phối hợp với
trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ
- Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An phải dựa trên việc kiến thiết những
khu nhân (mạng lưới đô thị nội tỉnh) để tạo lực hút cho việc hình thành các hình thức
TCLTCN (điểm công nghiệp, CCN, KCN, trung tâm công nghiệp).
1.3.2. Các nhiệm vụ của TCLTCN
- Sử dụng hợp lý và có hiệu quả nhất các nguồn lực của lãnh thổ Nghệ An (các
nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội ).
- Giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan: vấn đề việc làm của người lao
động, vấn đề hỗ trợ người nông dân tham gia vùng nguyên liệu, vấn đề đào tạo và
nâng cao trình độ nguồn nhân lực

35’00’’ đến 20
o
00’10” vĩ độ Bắc và từ
103
o
50’25” đến 105
o
40’30” kinh độ Đông. Về phía Bắc tiếp giáp với
tỉnh Thanh Hóa; phía Nam tiếp giáp với tỉnh Hà Tĩnh; chung đường biên
giới phía Tây với nước CHDCND Lào; phía Đông trông ra biển Đông với
đường bờ biển dài khoảng 82km.
Nhân tố vị trí địa lý tạo lợi thế nâng cao vai trò của công nghiệp Nghệ An
trong khu vực Bắc Trung Bộ với thành phố Vinh vừa là trung tâm kinh tế - xã hội vừa
là trung tâm công nghiệp vùng, là hạt nhân để hội tụ những điều kiện thuận lợi nhất
cho sự phát triển TCLTCN của tỉnh.
2.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
2.1.2.1. Khoáng sản
Nghệ An có nguồn khoáng sản được đánh giá là đa đạng, phong phú. Khoáng
sản tạo ra những điểm nhấn nổi bật trên bản đồ bố trí sản xuất với qui mô và chất
lượng của một số loại khoáng đạt tiêu chuẩn để hình thành những ngành công nghiệp
khai thác có qui mô lớn như khoáng sản vật liệu xây dựng, thiếc, than
2.1.2.2. Nguồn nước
Nghệ An có hệ thống sông suối dày đặc, mật độ lưới sông từ 0,6 - 0,7 km/km2.
8
Sông Cả là sông lớn nhất tỉnh, dài 361 km. Diện tích lưu vực 17.730 km2 chiếm 80%
diện tích toàn tỉnh. Do địa hình dốc nên các sông suối có khả năng xây dựng các công
trình thuỷ điện lớn nhỏ, đáp ứng nhu cầu năng lượng tại chỗ cho nhân dân vùng cao.
2.1.2.3. Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khác
Tài nguyên địa hình, đất, khí hậu góp phần làm phong phú thêm nguồn nguyên
liệu cho ngành chế biến nông, lâm, hải sản với nhiều sản phẩm đặc trưng và bước đầu

2.6. Các nguồn lực tài chính
2.6.1. Nguồn vốn trong nước
2.6.1.1. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
9
Giai đoạn 2011-2020, dự kiến huy động được 113.500 tỷ đồng (trong đó giai
đoạn 2011-2015 dự kiến huy động 47.500 tỷ đồng), đáp ứng được 18% nhu cầu vốn
đầu tư; trong đó vốn từ ngân sách tỉnh chiếm 65-70% tổng số. Nguồn vốn ngân sách
dành chủ yếu cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội.
2.6.1.2. Nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp
Dự kiến giai đoạn 2011-2020 huy động được khoảng 120.300 tỷ đồng (trong đó
giai đoạn 2011-2015 dự kiến huy động 32.300 tỷ đồng), đáp ứng được khoảng 19,1% nhu
cầu vốn đầu tư.
2.6.1.3. Nguồn vốn huy động trong dân
Nguồn vốn này đáp ứng được 20% nhu cầu vốn đầu tư của giai đoạn 2011-2020;
tương ứng số tiền huy động là 126.000 tỷ đồng (trong đó giai đoạn 2011-2015 dự kiến
huy động 38.000 tỷ đồng).
2.6.2. Vốn đầu tư nước ngoài
Nghệ An đang trở thành một mảnh đất lành cho các nhà đầu tư trong nước, sau
nhiều năm liên tục nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư. Giờ đây, các nhà đầu tư không
còn triển khai các dự án riêng lẻ nữa mà đã đầu tư theo từng chuỗi dự án, qua đó đưa lại
lợi ích cụ thể và lâu dài cho tỉnh. Các dự án tiêu biểu trong năm 2010 góp phần đưa
Nghệ An lên vị trí thứ 4 về thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
2.7. Thị trường và các mối quan hệ liên lãnh thổ
Các yếu tố về thị trường và mối quan hệ liên lãnh thổ sẽ tạo ra những nhân tố
mới cho bức tranh phân bố công nghiệp. Nghệ An là một tỉnh thuộc khu vực Bắc
Trung Bộ, là vùng có nhiều tiềm năng về nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông,
lâm, thủy hải sản, thực phẩm; khai khoáng; sản xuất VLXD Trong quá trình phát
triển, ảnh hưởng của vùng này đến phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công
nghiệp nói riêng của Nghệ An là rất lớn.
2.8. Đánh giá chung

trọng cao nhất 38,83%, khu vực miền núi và trung du có tỉ trọng thấp nhất với
17,75% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh (2009). Và tỉ lệ này có xu hướng ngày
càng giảm chứng tỏ sự chênh lệch ngày càng tăng trong sự phát triển công nghiệp
giữa các vùng.
So với các tỉnh trong khu vực Bắc Trung Bộ, Nghệ An đứng thứ 2 sau Thanh Hóa
cả về dân số và giá trị sản xuất công nghiệp với 29% dân số nhưng chỉ chiếm 26,6% giá
trị sản xuất công nghiệp của vùng. Điều này cho thấy qui mô ngành công nghiệp của
Nghệ An còn tương đối nhỏ bé và chậm phát triển. Trong thời gian tới ngành công
nghiệp Nghệ An cần phải có nhiều nỗ lực hơn nữa để khẳng định vai trò, vị trí của mình
trong khu vực Bắc Trung Bộ cũng như địa bàn kinh tế trọng điểm miền Trung.
3.2. Đánh giá hiện trạng các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An
3.2.1. Điểm công nghiệp
- Mật độ điểm công nghiệp trên lãnh thổ Nghệ An còn tương đối thấp, trung
bình chỉ khoảng 1 điểm công nghiệp/10km2. Con số này phản ánh mức độ phân tán
của các điểm công nghiệp trên lãnh thổ là rất cao.
- Qui mô điểm công nghiệp của Nghệ An tương đối nhỏ, trung bình mỗi điểm
công nghiệp chỉ đạt 1,745 tỉ đồng/điểm về giá trị sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, có
sự khác biệt rõ ràng về qui mô trung bình của các điểm công nghiệp giữa các vùng và
giữa các địa phương.
Nhìn chung, các điểm công nghiệp của Nghệ An có qui mô nhỏ bé và phân tán
tương đối manh mún, hiệu quả sản xuất công nghiệp của hình thức này chưa cao. Tuy
nhiên, mỗi khu vực đều đã hình thành được những điểm công nghiệp tiêu biểu như:
11
Nhà máy đường Tate & Lyle (Quì Hợp), Xi măng Hoàng Mai (Quỳnh Lưu)… Đây là
những điểm công nghiệp đóng vai trò động lực cho phát triển công nghiệp địa
phương cũng như là hạt nhân tạo cụm, khu công nghiệp và khai thác một cách hiệu
quả nhất những tiềm năng đặc thù của địa phương và khu vực.
3.2.2. Cụm công nghiệp
- Trong thời gian qua Nghệ An có 5/20 huyện, thị thành phố có CCN được
thành lập và đã đi vào hoạt động. Trong đó, thành phố Vinh có 4 CCN là Đông Vĩnh,


chiếm tỉ lệ 20,4%, còn lại 16,7% diện tích chưa triển khai.
KCN Nam Cấm có diện tích qui hoạch gấp 5,3 lần diện tích KCN Bắc Vinh nhưng tỉ
lệ lấp đầy mới chỉ đạt 42,7%.
12
3.2.3.2. Tình hình đầu tư xây dựng
Theo thống kê chưa đầy đủ của Sở Công Thương Nghệ An, số liệu vốn đầu tư
xây dựng năm 2008 của các khu công nghiệp tập trung như sau:
- Vốn chuẩn bị đầu tư (bao gồm vốn quy hoạch, vốn lập dự án đầu tư):
1.007,298 triệu đồng.
- Vốn đền bù giải phóng mặt bằng: 78.930 triệu đồng.
- Vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật KCN: 74.100 triệu đồng [65].
3.2.3.3. Tình hình cho thuê đất và thu hút đầu tư
Cho đến cuối năm 2010, các KCN của tỉnh đã thu hút được 9 dự án đầu tư nước
ngoài với tổng số vốn đầu tư trên 1,017 triệu USD. Trong đó đáng chú ý nhất là dự án nhà
máy sản xuất sắt xốp Kobe Nghệ An với tổng số vốn đầu tư là 1.000 triệu USD đã góp
phần đưa tỉnh Nghệ An vượt lên giữ vị trí thứ 4 về thu hút FDI. Đồng thời các KCN cũng
thu hút được 59 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng kí trên 8044,9 tỉ đồng.
Các KCN Nghệ An có 33 dự án đang thực hiện với tổng vốn đầu tư thực hiện vào KCN
cả tỉnh là 2.313,3 tỉ đồng.
3.2.3.4. Lao động trong khu công nghiệp
Bình quân một ha đất KCN của tỉnh Nghệ An thu hút 44 lao động (giai đoạn
2006 - 2010), trong khi đó một ha đất nông nghiệp chỉ thu hút khoảng từ 10 - 12 lao
động. Điều này thể hiện mức độ tập trung sản xuất của ngành công nghiệp nói chung
và hình thức KCN nói riêng.
3.2.3.5. Hiệu quả sản xuất kinh doanh trên đất KCN
a. Giá trị sản xuất công nghiệp
Tổng giá trị sản xuất các KCN của tỉnh năm 2010 là 2.032,8 tỉ đồng gấp hơn 8
lần năm 2005 và gần gấp đôi năm 2009. Tốc độ tăng giá trị sản xuất KCN cả tỉnh
trung bình là 53,9% (giai đoạn 2006 - 2010). Năm 2006 có tốc độ tăng giá trị sản xuất

Dựa trên kết quả tổng hợp của bảng đánh giá, KCN Nam Cấm đạt 88 điểm nên
dẫn đầu về hiệu quả sản xuất kinh doanh, KCN Bắc Vinh xếp thứ 2 với 77 điểm và
xếp thứ 3 là KCN Hoàng Mai với 57 điểm. Điều này phù hợp với thực tế hoạt động
sản xuất cũng như tiềm năng phát triển của từng KCN.
3.2.3.7. So sánh các KCN Nghệ An với KCN Lễ Môn (Thanh Hóa)
Qua việc xếp hạng các chỉ tiêu đánh giá (xem phụ lục 13), KCN Nam Cấm dẫn
đầu trong 4 KCN đưa ra so sánh với 84 điểm, KCN Lễ Môn xếp thứ 2 (83 điểm),
KCN Bắc Vinh xếp thứ 3 (66 điểm) và KCN Hoàng Mai xếp cuối cùng với 47 điểm.
Như vậy, qua việc so sánh các KCN của Nghệ An với KCN Lễ Môn - một trong
những KCN tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa, một trong những tỉnh có tiềm năng phát
triển công nghiệp mạnh nhất của khu vực Bắc Trung Bộ, có thể nhận thấy qui mô
diện tích cũng như qui mô về giá trị sản xuất của các KCN của khu vực này nhìn
chung còn khá khiêm tốn, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh còn tương đối
thấp. Đặc biệt là những KCN nằm trong thành phố như KCN Bắc Vinh và KCN Lễ
Môn có những hạn chế nhất định trong việc mở rộng qui mô. Tuy nhiên, các KCN
Nghệ An đã bước đầu khẳng định những ưu thế nhất định và có nhiều tiềm năng cho
sự phát triển.
Tóm lại, qua 6 năm hoạt động (2005 - 2010) các KCN Nghệ An đã bước đầu
khẳng định được vai trò của mình trong phát triển ngành công nghiệp nói riêng, nền
kinh tế của tỉnh nói chung. Mặc dù tỉ lệ lấp đầy KCN chưa cao, số lượng dự án đi vào
hoạt động sản xuất chưa nhiều, một số doanh nghiệp hoạt động chưa thực sự hiệu quả
nên năng suất lao động trên diện tích cũng như năng suất lao động bình quân đầu
người chưa cao, nhưng các KCN của tỉnh đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng
ngàn lao động, đóng góp một phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách của tỉnh.
14
3.2.3.8. Đánh giá tác động của các KCN Nghệ An đối với kinh tế - xã hội địa phương
và môi trường
- Về hiệu quả kinh tế - xã hội
+ KCN hoạt động tương đối hiệu quả và có tác động nhất định vào kinh tế - xã
hội của địa phương.

qua các năm và có tương quan giống với biểu đồ tăng trưởng công nghiệp cả tỉnh.
3.2.4.2. Cơ cấu ngành công nghiệp
Trong những năm qua cơ cấu ngành công nghiệp của trung tâm công nghiệp
Vinh có sự chuyển dịch theo hướng ngày càng tăng tỉ trọng của ngành công nghiệp chế
15
biến, chế tạo, giảm tỉ trọng của ngành khai thác. Trong đó, ngành sản xuất sản phẩm
phi kim loại và công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống là những ngành dẫn đầu về tỉ
trọng với 31,3% và 29,6% giá trị sản xuất.
3.2.4.3. Các hình thức tổ chức lãnh thổ trong trung tâm công nghiệp Vinh
Cho đến nay, trong trung tâm công nghiệp Vinh đã qui hoạch và xây dựng 1 khu
công nghiệp Bắc Vinh, 4 cụm công nghiệp ở Đông Vĩnh, Nghi Phú, Hưng Lộc, Hưng
Đông. Một số sản phẩm thuộc các nhóm ngành vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản,
sản xuất hàng tiêu dùng tăng khá, có thương hiệu và đang từng bước chiếm lĩnh thị
trường (gạch granit Trung Đô, bia NaDa).
Trung tâm công nghiệp Vinh là một trong những điều kiện chính để thành phố
Vinh được nâng cấp thành đô thị loại I của cả nước. Trung tâm công nghiệp Vinh
phát triển sẽ kích thích sự phát triển của các huyện xung quanh, tạo cơ sở để hình
thành và phát triển các khu, cụm công nghiệp.
3.3. Đánh giá tổng hợp tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An
3.3.1. Các mặt đã đạt được:
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An đang ở bước đầu của sự phát triển với
một số kết quả đáng khích lệ.
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp đã chú trọng tới việc khai thác các tiềm năng và
lợi thế so sánh của tỉnh.
Hệ thống cơ sở hạ tầng đang từng bước được nâng cấp hoàn thiện tạo nên bộ
khung vững chắc hỗ trợ đắc lực cho tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An. Trong
đó, hình thành được các tuyến lực quan trọng theo hướng Bắc - Nam (quốc lộ 1A,
quốc lộ 15), theo hướng Đông - Tây (quốc lộ 7, quốc lộ 48).
Bước đầu hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọn có qui mô, sản phẩm
có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước như: đường kính, xi

Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, là vùng nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến nông, lâm, thủy hải sản, thực phẩm; khai khoáng; sản xuất VLXD…
Trong quá trình phát triển, ảnh hưởng của vùng này đến phát triển kinh tế - xã hội nói
chung và công nghiệp nói riêng của Nghệ An là rất lớn. Bởi vậy, khi xây dựng quy
hoạch TCLTCN Nghệ An cần xem xét đến định hướng phát triển của vùng này.
Tình hình kinh tế - xã hội trong những năm qua tiếp tục ổn định và phát triển,
nhiều cơ chế chính sách mới được ban hành có tác động tích cực đến phát triển sản
xuất và tổ chức lãnh thổ sản xuất, nguồn nhân lực dồi dào, có truyền thống cần cù,
hiếu học và rất cách mạng, nhạy cảm với cái mới, hệ thống đô thị đã có bước phát
triển mạnh mẽ. Đây là những yếu tố hết sức thuận lợi tạo cơ hội cho việc hoàn chỉnh
TCLTCN của tỉnh [46].
4.1.2. Quan điểm thực hiện tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An phải tạo ra một trật tự hợp lí có tỉnh tới
khả năng tài nguyên và yêu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích cộng đồng và đạt hiệu quả
kinh tế - xã hội cao.
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp phải đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, hiện đại
phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế thế giới của nước ta.
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An cần phải dựa vào những khu nhân
(những trung tâm, đô thị). Cần hình thành các khu và CCN để tạo nên các cực tăng
trưởng nhanh trong phát triển công nghiệp.
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp phải đảm bảo tính cân bằng cho môi trường sinh
thái, không được làm ảnh hưởng tới cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử, văn hoá,
du lịch của quốc gia và của tỉnh.
17
4.1.3. Phương hướng tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An
- Thực hiện đa dạng hoá sản xuất công nghiệp, vừa tập trung phát triển các
ngành có thế mạnh ở địa phương, vừa phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng
công nghệ cao.
- Tập trung đầu tư vào một số khu công nghiệp có nhiều ưu thế phát triển để tạo ra
những cực trọng điểm trong bức tranh phân bố công nghiệp của tỉnh, trên cơ sở đó xây

bố công nghiệp Nghệ An hài hòa, cân xứng.
4.1.5.2. Định hướng các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An
- Điểm công nghiệp:
18
Bên cạnh việc nâng cấp và mở rộng những cơ sở sản xuất đã có, Nghệ An đã đầu
tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của các điểm công nghiệp mới.
Các điểm công nghiệp ra đời ở các huyện, thị trấn, thị tứ khu vực miền núi, trung du sẽ
trở thành những hạt nhân phát triển công nghiệp cho các địa phương này.
- Cụm công nghiệp
Đến năm 2020, toàn tỉnh quy hoạch và đầu tư phát triển 34 cụm công nghiệp
(bao gồm cả cụm công nghiệp đã có quy hoạch chi tiết) với tổng diện tích quy
hoạch là 731,3 ha. Trong đó, có 24 dự án đã hoàn thành qui hoạch và đang được đầu
tư tổ chức, xây dựng, còn 10 dự án đang trong quá trình hoàn thành qui hoạch và
chuẩn bị đầu tư (xem phụ lục 6).
- Khu công nghiệp
Trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng công nghiệp trên địa bàn của từng giai đoạn
và khả năng thu hút đầu tư vào KCN tập trung, dự kiến quy hoạch các KCN như sau:
Giai đoạn 2011 - 2015: (thêm khoảng 853 ha)
* KCN Bắc Vinh thực hiện hoàn chỉnh giai đoạn I với với diện tích 60,16 ha,
KCN Nam Cấm tiếp tục thực hiện giai đoạn II với diện tích hơn 200 ha, Đẩy mạnh thu hút
đầu tư vào KCN Hoàng Mai quy mô 291,86 ha, KCN Đông Hồi quy mô 1.200 ha.
Lấy nhà máy xi măng Hoàng Mai làm trung tâm phát triển, gắn với quy hoạch
phát triển KCN Nam Thanh- Bắc Nghệ.
* KCN Phủ Quỳ: Diện tích giai đoạn dự kiến 200 ha. Trung tâm là nhà máy
mía đường liên doanh công suất 6.000 tấn mía/ngày. Kết hợp sản xuất các chế phẩm
sau đường như: cồn, phân vi sinh. Xây dựng các cơ sở chế biến hoa qủa hộp, cà phê
hoà tan, dầu thảo mộc, gỗ ván dăm, nước khoáng
Hình thành 3 KCN nằm trong KKT Đông Nam với tổng diện tích khoảng
1.500 ha, gồm :
* Khu công nghiệp Nghi Hưng. Diện tích 600 ha. Hướng chuyên môn hóa: Sản

hiện đại.
+ Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư vào hai khu công nghiệp tập
trung: khu công nghiệp Bắc Vinh và khu công nghiệp Hưng Tây. Dành đất để xây dựng
các cụm công nghiệp qui mô nhỏ (Hưng Đông, Nghi Phong, Nghi Liên, Phúc Thọ…).
Ngoài ra, trung tâm công nghiệp Vinh cần phải phối hợp với các địa phương
trong vùng để phát triển vùng nguyên liệu, cung cấp lao động, tiêu thụ sản phẩm cho
các cơ sở công nghiệp của trung tâm.
4.3. Các giải pháp chủ yếu để phát triển tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An
4.3.1. Các giải pháp tổng thể
4.3.1.1. Về tổ chức quản lý Nhà nước
- Cần thành lập bộ phận qui hoạch lãnh thổ trong Sở Công Thương và Sở Kế
hoạch và Đầu tư để nghiên cứu và phát triển tổ chức lãnh thổ công nghiệp của tỉnh,
tìm ra các phương án tổ chức lãnh thổ tối ưu để khai thác có hiệu quả nhất các tiềm
năng vốn có của Nghệ An cũng như đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế - xã
hội và môi trường.
- UBND tỉnh cần xem xét để thành lập sớm Sở Kinh tế đối ngoại làm nhiệm vụ
thông tin kinh tế - kĩ thuật - thị trường và tư vấn cho các doanh nghiệp trong tỉnh
cũng như tạo hành lang pháp lý và đảm bảo các nguyên tắc quản lí hành chính nhà
nước làm chỗ dựa để thu hút các nhà đầu tư từ bên ngoài, giúp cho các nhà đầu tư
yên tâm về bộ máy của tỉnh trong việc đảm bảo các cam kết.
4.3.1.2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
- Rà soát lại hệ thống giáo dục đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề.
- Về hình thức đào tạo, để nâng cao chất và lượng nguồn nhân lực cần phải:
+ Đào tạo nghề dài hạn để có đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ
lành nghề đủ khả năng tiếp cận và sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật và
20
công nghệ hiện đại.
+ Mở rộng và đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề ngắn hạn tại các trường dạy
nghề nhằm tạo cơ hội cho người lao động tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm.
- Có chính sách thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao về công tác tại địa

cũng như ở nước ngoài để tìm kiếm thị trường mới cũng như nắm bắt kịp thời xu thế
tiêu dùng đối với các loại sản phẩm chủ yếu và có thế mạnh của tỉnh.
Trước mắt Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở Công Thương để thực hiện giải
pháp này. Sau khi Sở Kinh tế đối ngoại được thành lập thì sẽ thực hiện chuyên trách.
4.3.1.5. Giải pháp công nghệ và bảo vệ môi trường
- Tiến hành sớm việc đánh giá hiện trạng môi trường đối với toàn bộ các khu
21
công nghiệp hiện có, các cơ sở sản xuất bao gồm: đánh giá lượng ô nhiễm do khí thải
công nghiệp, khí thải của xe cộ…
- Đánh giá tác động đến môi trường của tất cả các nhà máy sẽ xây dựng, nhất
là đối với những nhà máy đã được cấp giấy phép đầu tư xây dựng nhưng chưa có
đánh giá tác động môi trường.
- Kiểm kê các nguồn gây ô nhiễm chính trong công nghiệp (cả quốc doanh lẫn
ngoài quốc doanh), định kỳ quan trắc, phân tích thành phần các chất thải độc hại. Hỗ
trợ kỹ thuật cho công tác quan trắc, thanh tra và quản lý môi trường.
Tóm lại, để phát triển tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An một cách cân đối,
hoàn chỉnh và hiệu quả, cần phải phối hợp đồng thời tất cả các chính sách và giải
pháp. Trong đó, chính sách và giải pháp về tổ chức và quản lý có ý nghĩa quyết định
và ảnh hưởng đến tất cả các giải pháp khác.
4.3.2. Các giải pháp phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An
4.3.2.1. Giải pháp phát triển điểm công nghiệp
- Gom các điểm công nghiệp có cùng chung sản phẩm về thành các cụm công
nghiệp chuyên môn hóa để tận dụng kết cấu hạ tầng, qui trình sản phẩm và tăng lợi
thế cạnh tranh.
- Phát triển vùng nguyên liệu gắn với cơ sở chế biến
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Sở Công Thương và các
doanh nghiệp thực hiện.
4.3.2.2. Giải pháp phát triển cụm, khu công nghiệp
a. Về tổ chức quản lý
Mở rộng tối đa quyền tự chủ, xác định rõ quyền về tài sản pháp nhân của doanh

triển công nghiệp nhằm mang lại hiệu quả cao về các mặt kinh tế - xã hội và môi trường.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề tổ chức lãnh thổ công nghiệp đã và đang
được quan tâm một cách rộng rãi. Các nhà khoa học đã đưa ra một số hình thức tổ chức
lãnh thổ công nghiệp cơ bản. Nhiều quốc gia đã áp dụng thành công và mang lại hiệu
quả kinh tế rất cao. Ở Việt Nam, Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
đưa ra 6 hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp; còn Viện chiến lược phát triển (Bộ
Công Thương) thì đưa ra phương án 6 vùng công nghiệp bước đầu đã góp phần hoàn
thiện bức tranh không gian tổ chức lãnh thổ của nền kinh tế - xã hội nước ta. Đối với
lãnh thổ cấp tỉnh thì có 4 hình thức TCLTCN cơ bản, nhưng quan trọng nhất là hình thức
KCN tập trung với nhiều tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bản thân nó.
2. Nghệ An có nhiều điều kiện để phát triển một TCLTCN toàn diện và hiệu quả
dựa vào vị trí địa lí làm tăng cường các mối liên kết lãnh thổ, tài nguyên đất, rừng dồi
dào, có một số loại khoáng sản có qui mô lớn, nguồn lao động với đặc tính cần cù, sáng
tạo và ngày càng năng động, môi trường chính sách ngày càng thông thoáng, cùng với
hệ thống trung tâm đô thị và kết cấu hạ tầng ngày càng hoàn thiện.
3. Các kết quả đạt được của tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An là:
- Các điểm công nghiệp của tỉnh mặc dù có mật độ phân tán và qui mô tương đối
nhỏ nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với phát triển công nghiệp của địa phương.
Đặc biệt là những điểm công nghiệp có vai trò hạt nhân tạo vùng như: Nhà máy đường
Tate&Line (Quì Hợp), Nhà máy Xi măng Hoàng Mai (Quỳnh Lưu), Nhà máy Thủy điện
Bản Vẽ là những động lực mạnh để thúc đẩy công nghiệp của các khu vực trong tỉnh,
nhất là khu vực trung du và miền núi nhằm giảm bớt sự chênh lệch vùng trong phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Tám CCN được thành lập và đi vào hoạt động trong thời gian qua đã tạo ra
những bước phát triển mới thúc đẩy phát triển kinh tế và đẩy nhanh quá trình đô thị
hóa của từng địa phương. Trong đó, các CCN nằm trong TTCN Vinh có vai trò quan
trọng trong việc tập hợp các điểm công nghiệp đã có từ lâu trong thành phố làm tăng
23
hiệu quả hoạt động sản xuất công nghiệp cũng như giảm thiểu các tác động đối với
môi trường. Các CCN hình thành ở các huyện có ý nghĩa quan trọng trong thu hút các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status