- 1 -
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN
Vinh là một địa danh có từ lâu đời, được hình thành và phát triển
từ cuối thế kỷ XIX. Suốt quá trình phát triển của mình, Vinh đã, đang và
sẽ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Nghệ An và cả vùng
Bắc Trung Bộ. Trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế của thành phố được
phát triển khá nhanh, quá trình ĐTH được đẩy mạnh, đặc biệt khi Vinh
trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, môi trường tự
nhiên đang bị ô nhiễm đã gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đối với sự
phát triển của thành phố và chất lượng cuộc sống dân cư. Để đảm bảo
cho TP.Vinh khi được mở rộng hơn về quy mô không gian, dân số, cơ sở
kinh tế - kỹ thuật, hạ tầng xã hội đạt được sự phát triển bền vững, cần
thiết phải nghiên cứu tác động đến môi trường tự nhiên của quá trình
ĐTH ở TP.Vinh.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và kế thừa thành tựu nghiên cứu
của các nhà khoa học đi trước trong lĩnh vực môi trường đô thị, NCS đã
chọn đề tài: “Nghiên cứu tác động đến môi trường tự nhiên của quá trình
đô thị hóa ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” cho luận án của mình.
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích những tác động đến môi trường tự nhiên của quá trình
ĐTH làm căn cứ để đề xuất các giải pháp phát triển đô thị, BVMT ở
TP.Vinh.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động đến
môi trường tự nhiên của quá trình ĐTH.
- Phân tích hiện trạng và những biến đổi của môi trường tự nhiên
ở TP.Vinh.
dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp điều tra, khảo sát thực
tế, phương pháp thu thập số liệu, xử lý thống kê; phương pháp phân tích,
đánh giá tổng hợp; phương pháp phân tích hóa lý; phương pháp bản đồ và
hệ thống thông tin địa lý (GIS).
5. NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
- Quá trình ĐTH ở TP.Vinh trong thời gian qua diễn ra khá chậm
do tốc độ CNH chưa cao, chủ yếu là từ việc mở rộng không gian đô thị.
Quá trình này đã làm biến đổi MT tự nhiên, tuy mức độ chưa lớn nhưng
đã tạo sức ép đối với sự phát triển KT-XH và BVMT đô thị.
- 23 -
phát triển đô thị. Xu hướng của các tác động này biểu hiện trên cả hai
phương diện tiêu cực và tích cực.
Tác động đến môi trường tự nhiên của quá trình ĐTH được đánh
giá theo 5 tiêu chí cho thấy: các thành phần môi trường tự nhiên như
không khí, nước, đất bị tác động theo chiều hướng tiêu cực, trong đó môi
trường nước và không khí bị tác động mạnh nhất. Nguyên nhân chủ yếu
gây tác động tiêu cực đến các thành phần môi trường này là do sự gia tăng
các chất thải gây ô nhiễm từ sự gia tăng dân số, từ các hoạt động sản xuất,
nhất là công nghiệp và dịch vụ và từ sự tăng trưởng mạnh của các phương
tiện GTVT. Bên cạnh đó, sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thể hiện
bằng sự tăng tỷ lệ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cũng gây tác
động tiêu cực đến chất lượng môi trường tự nhiên, nhất là môi trường đất.
Những tác động tích cực thể hiện qua việc nâng cấp và phát triển
hệ thống cơ sở hạ tầng, bao gồm cả hệ thống cơ sở hạ tầng bảo vệ môi
trường sẽ là nền tảng để giảm thiểu những tác động tiêu cực của quá trình
ĐTH đến môi trường tự nhiên.
4. Từ kết quả đánh giá tác động đến môi trường tự nhiên của quá
trình ĐTH ở TP.Vinh đã đề xuất những giải pháp có tính định hướng phát
triển đô thị theo quan điểm PTBV, phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH
mức nhẹ. Chất lượng nước trong các hồ nhìn chung còn tương đối sạch,
một số hồ bị ô nhiễm ở mức nhẹ.
Chất lượng nước dưới đất bị ô nhiễm ở trung bình tại khu vực giáp
biển thuộc xã Hưng Hòa và khu vực bãi rác Đông Vinh. Ở các khu vực
khác, nước dưới đất bị ô nhiễm ở mức nhẹ.
Chất lượng môi trường đất bị thoái hóa do phân bón và thuốc
BVTV chiếm một phần diện tích ở các xã ngoại thành. Ô nhiễm đất do
nhiễm mặn chiếm một phần diện tích ở xã Hưng Hòa. Các khu vực còn
lại chất lượng môi trường đất được đánh giá là khá sạch.
2. Vinh là một địa danh có từ lâu đời. Quá trình ĐTH của
TP.Vinh thể hiện bằng một số đặc điểm cơ bản, đó là: thành phố đã qua
nhiều lần mở rộng không gian địa giới hành chính, có sự gia tăng tương
đối nhanh về quy mô dân số và lực lượng lao động phi nông nghiệp và sự
tăng trưởng khá mạnh mẽ của ngành công nghiệp, dịch vụ và cơ sở hạ
tầng kỹ thuật đô thị. Tuy nhiên so với các đô thị lớn trên cả nước, quá
trình ĐTH ở TP.Vinh diễn ra chậm hơn, tốc độ CNH và hiện đại hóa chưa
cao, các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển chưa đủ mạnh.
3. Môi trường tự nhiên ở TP.Vinh bị tác động bởi những tác nhân
được bắt nguồn từ đặc điểm của quá trình ĐTH, đó là sự phát triển của
các hoạt động kinh tế, sự gia tăng dân số đô thị, các chính sách quản lý và
- 3 -
- Đánh giá những tác động đến môi trường tự nhiên của quá trình
ĐTH ở TP.Vinh là căn cứ khoa học để đề xuất các giải pháp BVMT tự
nhiên, phát triển đô thị theo hướng bền vững.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Luận án đã vận dụng các phương pháp địa lý để nghiên cứu tác
động đến môi trường tự nhiên của quá trình ĐTH ở TP.Vinh. Đây là cơ sở
để phân tích hiện trạng và biến đổi của môi trường tự nhiên, tìm ra các tác
nhân ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên của quá trình ĐTH ở TP.Vinh.
đến môi trường tự nhiên của quá trình đô thị hóa.
- Chương 2. Hiện trạng và những biến đổi của môi trường tự
nhiên ở TP.Vinh giai đoạn 2000 - 2011.
- Chương 3. Đánh giá tác động đến môi trường tự nhiên của quá
trình đô thị hóa ở TP.Vinh.
- Chương 4. Đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường tự
nhiên, đảm bảo sự phát triển bền vững trong quá trình đô thị hóa ở
TP.Vinh.
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG
ĐẾN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
1.1. MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ĐÔ THỊ
1.1.1. Môi trường
Luật BVMT của Việt Nam đã định nghĩa: “Môi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên, yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau
bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại
phát triển của con người và thiên nhiên".
1.1.2. Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên là tổng hợp các yếu tố của tự nhiên, các
ĐKTN, chúng luôn có tác động qua lại lẫn nhau, gây ra biến đổi của nhau
và luôn có tác động tới sự sống con người, tới sự tồn tại và phát triển của
xã hội loài người.
Môi trường không khí là lớp không khí bao quanh trái đất, bao
gồm các tầng khí quyển, các dạng vật chất, các hạt vô cơ, hữu cơ Ô
nhiễm môi trường không khí là sự có mặt của chất lạ hoặc một sự biến đổi
quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch
hoặc gây sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, bụi, giảm tầm nhìn.
Môi trường nước là phần nước của trái đất bao gồm sông, hồ,
Việc quy hoạch sử dụng đất trong thời gian tới cần tập trung vào
việc điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, triệt để tận dụng không gian kể cả
chiều sâu với đất để tăng hệ số và hiệu quả sử dụng đất, BVMT đất.
TP.Vinh cần xây dựng các chính sách cụ thể, thỏa đáng để giải quyết tình
trạng mất đất sản xuất nông nghiệp của người dân trong quá trình ĐTH.
- 20 -
4.2. CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VÀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TỰ NHIÊN Ở THÀNH PHỐ VINH
4.2.1. Các giải pháp phát triển đô thị, quản lý quá trình đô thị hóa ở
thành phố Vinh
- Nâng cao chất lượng quy hoạch, thực hiện và quản lý quy hoạch
đô thị. Nâng cấp, cải tạo và phát triển một cách đồng bộ hệ thống kết cấu
hạ tầng kỹ thuật đô thị.
- Quản lý quá trình ĐTH: phát triển kinh tế đô thị, tăng sức hút
của thành phố, đẩy nhanh tốc độ tăng dân số cơ học, chú trọng phát triển
các khu kinh tế vệ tinh, đẩy mạnh công nghiệp hóa và ĐTH nông thôn.
Thành phố cần hoàn thiện bộ máy quản lý và nâng cao hiệu quả quản lý,
lồng ghép bảo vệ môi trường với quy hoạch phát triển KT-XH của đô thị.
4.2.2. Các giải pháp bảo vệ môi trường tự nhiên đô thị
Phát triển đô thị, BVMT không thể giải quyết bằng những biện
pháp đơn lẻ mà phải là sự kết hợp chặt chẽ của nhiều biện pháp khác
nhau. Trên cơ sở nghiên cứu, điều tra, đánh giá thực tiễn địa phương,
NCS đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tự nhiên đô thị.
4.2.2.1. Các giải pháp chung
- Các giải pháp về kỹ thuật - công nghệ
- Các giải pháp sử dụng các công cụ kinh tế
- Các giải pháp về chính sách bảo vệ môi trường
- Các giải pháp về tăng cường ý thức bảo vệ môi trường
Môi trường tự nhiên ở đô thị bao gồm các thành phần của tự
nhiên tồn tại, vận động và biến đổi gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
mỗi đô thị.
1.2. QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI
TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
1.2.1. Bản chất của quá trình đô thị hóa
1.2.1.1. Khái niệm đô thị, đô thị hóa
Khái niệm đô thị có sự khác nhau theo thời gian và không gian.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: "Đô thị là không gian cư trú của cộng
đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi
nông nghiệp".
Đàm Trung Phường trong "Đô thị Việt Nam" (1995) đã đưa ra khái
niệm ĐTH: ĐTH là một quá trình chuyển dịch lao động, từ hoạt động sơ
khai nhằm khai thác TNTN sẵn có như nông-lâm-ngư nghiệp, khai khoáng,
phân tán trên một diện tích rộng khắp hầu như toàn quốc, sang những hoạt
động tập trung hơn như công nghiệp chế biến, sản xuất, xây dựng cơ bản,
vận tải sửa chữa, dịch vụ, thương mại, tài chính, văn hoá - xã hội, KHKT…
cũng có thể nói là chuyển dịch từ hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt
động phi nông nghiệp tập trung trên một số địa bàn thích hợp gọi là đô thị.
- 6 -
1.2.1.3. Đặc điểm của quá trình đô thị hóa
ĐTH là một quá trình mang tính xã hội và lịch sử. Mỗi thời kỳ
phát triển có một hệ thống đô thị phát triển tương ứng vì đô thị phản ánh
trung thực trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tổ chức xã hội của
thời kỳ ấy. Đây là một quá trình chuyển hóa, vận động phức tạp có quy
luật về kinh tế - xã hội, văn hóa, không gian và môi trường. Tính quy luật
của quá trình ĐTH biểu hiện ở sự tăng dân số đô thị, thay đổi phân bố
dân cư, chuyển đổi nghề nghiệp, phát triển kinh tế đô thị, mở rộng đô thị,
thay đổi kiến trúc cảnh quan và cấu trúc không gian đô thị. ĐTH là quá
môi trường tự nhiên của quá trình ĐTH ở TP.Vinh
Tiêu chí Đơn vị 2000 2005 2010 Đánh giá
K
1
- Lượng nước thải
Sinh hoạt
Công nghiệp
Y tế
- Tỷ lệ dân sử dụng
nước sạch 10
6
m
3
/năm
% 3,066
0,92
-
75,0
K
2
CTR Sinh hoạt
CTR Công nghiệp
CTR Y tế tấn/ngày
tấn/ngày
kg/ngày104
2,99
263
139
5,4
346
175
8,7
509
Gia tăng nguy cơ ô nhiễ
m
môi trường nướ
c, không
Gia tăng tác động ô nhiễ
m
môi trường đất.
K
5
Tỷ lệ đất sản xuất kinh
doanh phi nông
nghiệp/đất tự nhiên
%
4,54
5,76
5,22
Tác động nhỏ
và ít làm
thay đổi môi trường đất. Chương 4. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, ĐẢM BẢO SỰ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở TP.VINH
4.1. CÁC CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
- Thực trạng của quá trình phát triển đô thị và tác động đến môi
trường tự nhiên của quá trình ĐTH ở TP.Vinh.
khí thải, lượng phân bón… làm gia tăng mức độ ô nhiễm của các thành
phần môi trường tự nhiên, chủ yếu là môi trường nước, môi trường không
khí và môi trường đất. Trong đó môi trường nước và môi trường không
khí bị tác động nhiều nhất. Môi trường đất ít biến đổi và mức độ biến đổi
chậm hơn.
- 7 -
1.2.3. Những tác nhân tác động đến môi trường tự nhiên từ quá trình
đô thị hóa
- Sự phát triển của các hoạt động kinh tế
Trong quá trình ĐTH và CNH, các hoạt động sản xuất kinh
doanh, đặc biệt là các hoạt động sản xuất công nghiệp là tác nhân chủ yếu
gây ra những biến đổi môi trường. Quá trình ĐTH càng được đẩy mạnh,
quy mô các ngành sản xuất tăng; khối lượng vật chất của tự nhiên cần
phải được khai thác và sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất cũng được
tăng lên tương ứng. Cùng với sự gia tăng về quy mô của nền sản xuất, các
loại chất thải được tạo ra không chỉ tăng về số lượng mà thành phần các
loại chất thải ngày càng phức tạp, đặc biệt là sự gia tăng các thành phần
độc hại gây nguy hiểm cho môi trường.
Ngoài ra còn phải kể đến tác động của ngành GTVT (chủ yếu từ
khí thải của các phương tiện giao thông cơ giới), tác động của sản xuất
nông nghiệp (chủ yếu thông qua việc sử dụng các loại phân bón và các
loại hoá chất bảo vệ thực vật).
- Sự gia tăng dân số đô thị
Quá trình ĐTH càng được đẩy mạnh, mức độ tập trung dân cư đô
thị càng cao, dân cư đô thị càng tăng, khối lượng các loại chất thải sinh
hoạt cũng có sự tăng lên tương ứng. Trong điều kiện không được quản lý
và kiểm soát chặt chẽ, hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị không phát triển
kịp, ý thức BVMT dân cư còn hạn chế, do vậy sự gia tăng nhanh dân cư
▪ Tỷ lệ giữa diện tích đất sản xuất kinh doanh phi nông
nghiệp/diện tích đất tự nhiên của toàn vùng nghiên cứu (K
5
).
1.3. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI
TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA.
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề
về ĐTH và BVMT đô thị, đặc biệt là các tác giả ở các nước, các khu vực có
nền công nghiệp phát triển như Mỹ, Châu Âu, Liên Xô (cũ)… Phát triển đô
thị bền vững đã được nhiều tổ chức khoa học quan tâm, nghiên cứu. Ngay
từ những năm 30 của thế kỷ XX, các hội thảo quốc tế đã thảo luận các
vấn đề về sự hình thành và phát triển của hệ thống các đô thị, BVMT đô
thị trên thế giới, đặc biệt là các Hội nghị thượng đỉnh LHQ về PTBV.
1.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề ĐTH và BVMT đã và đang được nhiều nhà khoa học tập
trung nghiên cứu, nhất là trong những năm gần đây. Nhiều công trình
nghiên cứu trong lĩnh vực này đã được công bố, nổi bật là các công trình
nghiên cứu về đô thị của Đàm Trung Phường, Trương Quang Thao,
Nguyễn Hữu Thái, Đỗ Thị Minh Đức… Các công trình nghiên cứu về
BVMT đô thị của Lê Văn Khoa, Lưu Đức Hải, Lê Huy Bá, Hoàng Xuân
Cơ, Nguyễn Đình Hòe, Đào Hoàng Tuấn…
Ở Nghệ An đã có một số công trình nghiên cứu về môi trường đô
thị của Mai Trọng Thông và một số tác giả khác. Kế thừa các công trình
nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, NCS đã chọn hướng
nghiên cứu tác động đến môi trường tự nhiên của quá trình ĐTH ở
TP.Vinh. Đây là vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra cho quá trình ĐTH ở
TP.Vinh hiện nay theo hướng bền vững.
- 17 -
trả lại màu nước trong xanh (hồ Goong, hồ Bến Thủy, hồ Cửa Nam…),
- 16 -
Chương 3. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG TỰ
NHIÊN CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ VINH
3.1. ĐẶC ĐIỂM QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ VINH
Quá trình ĐTH được đẩy mạnh trong thời kỳ đổi mới. Thành phố
không ngừng được mở rộng về diện tích, tăng lên về dân số. Lao động phi
nông nghiệp ngày càng tăng, cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng
CNH. Vinh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về KT-XH, xây dựng hạ
tầng và quản lý đô thị. Sự mở rộng quy mô diện tích đô thị hiện có trên cơ
sở hình thành các khu đô thị mới, các phường, xã mới là một nét nổi bật
trong quá trình ĐTH ở TP.Vinh. Điều này đã thúc đẩy quá trình ĐTH
nông thôn một cách mạnh mẽ, là sự mở đường của quan hệ sản xuất cho
lực lượng sản xuất phát triển.
TP.Vinh giữ vai trò đầu tàu trong phát triển KT-XH của tỉnh Nghệ
An và đã có sức hút tương đối lớn đối với các khu vực phụ cận. Tuy
nhiên, so với các đô thị lớn trong vùng và trên cả nước, quá trình ĐTH ở
TP.Vinh diễn ra chậm hơn. Vinh chưa tạo ra thực lực đủ mạnh để tạo lực
hấp dẫn với dân cư, lao động từ các khu vực khác. Tỷ lệ gia tăng dân số
cơ học thấp hơn so với dự báo. TP.Vinh chưa phải chịu sức ép lớn của
quá trình dịch chuyển dân cư, sự gia tăng quy mô dân số đô thị ở TP.Vinh
chủ yếu do mở rộng địa giới hành chính.
3.2. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA
QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ VINH
3.2.1. Các nguồn gây tác động đến môi trường tự nhiên từ quá trình
đô thị hóa ở thành phố Vinh
3.2.1.1. Tác động của sự phát triển các hoạt động kinh tế đến môi trường
tự nhiên ở thành phố Vinh.
NO
2
(mg/m
3
)
Bụi
(mg/m
3
)
Tiếng ồ
n
(dBA)
Tổng
điểm
1 Ngã tư chợ Vinh 0,146 15,408 0,317 0,439 80 2
2 Ngã tư Quán Bánh 0,065 20,060 0,526 0,201 78 3
3 Ngã tư Bến Thủy 0,159 19,770 0,082 0,189 72 1
4 Quảng trường HCM 0,048 2,290 0,039 0,096 68 0
5 KCN Bắc Vinh 0,040 6,870 0,092 0,295 66 0
6 CCN Đông Vĩnh 0,060 11,450 0,205 0,110 68 1
7 CCN Nghi Phú 0,051 13,740 0,110 0,169 66 0
8 CCN Hưng Lộc 0,065 9,160 0,060 0,127 64 0
9 NM xi măng Cầu Đước 0,399 18,132 0,257 0,480 53,2 3
10
Công ty than Nghệ Tĩnh 0,033 0,810 0,016 1,117 67 3
Kết quả đánh giá cho thấy khu vực có mức độ ô nhiễm nhẹ là ở
nhà máy xi măng Cầu Đước, công ty than Nghệ Tĩnh, công ty CP cơ khí
ôtô Nghệ An, bệnh viện Đa khoa Nghệ An, ngã tư chợ Vinh, ngã tư Quán
Bánh ở các phường Bến Thủy, Lê Lợi, Quang Trung và rìa Tây Nam của
phường Cửa Nam. Nguyên nhân gây ô nhiễm tại các khu vực này chủ yếu
là do nồng độ bụi và hàm lượng khí SO
2
khá cao. Đây là nơi tập trung các
cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, kinh doanh và hoạt động GTVT.
Khu vực có mức độ ô nhiễm trung bình ở phường Trường Thi, nơi có
công ty CP bia Sài Gòn - Nghệ An. Môi trường không khí chưa bị ô
nhiễm bao gồm phần lớn diện tích của thành phố. Đây là những nơi có ít
các cơ sở công nghiệp hoặc có KCN, CCN mới xây dựng với công nghệ
sản xuất tương đối hiện đại nên nồng độ các khí thải không lớn.
2.1.2. Hiện trạng môi trường nước
Môi trường nước ở TP.Vinh đã bị ô nhiễm do các hoạt động sản xuất
và sinh hoạt của con người gây ra.
2.1.2.1. Hiện trạng môi trường nước mặt
a) Nước sông, hồ
Sông Cả (sông Lam) tại khu vực TP.Vinh là hạ du nên là nơi tiếp
nhận toàn bộ chất thải đổ vào qua hàng loạt các công trình tiêu nước. Ở đây
đã có dấu hiệu ô nhiễm nguồn nước, nổi bật nhất là sự gia tăng một số chỉ
tiêu điển hình cũng như các chất hữu cơ tồn tại trong nước so với dòng chảy
phía thượng du. Hàm lượng BOD
5
vượt QCCP 2,67 lần; COD 1,47 lần;
NO
2
-
3,3 lần; Fe 1,49 lần; NH
ngày càng gia tăng. Khu vực nội thành, nước dưới đất ít bị ô nhiễm, nồng
độ và các chất ô nhiễm biến đổi chậm hơn.
3.2.3. Những biến đổi của môi trường đất ở thành phố Vinh
Đất nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm dần do quá trình
ĐTH đã lấy đi một phần diện tích đất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp
đã làm biến đổi môi trường đất, nhất là việc gia tăng số lượng phân bón
và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật không đúng quy trình kỹ thuật. Bên
cạnh đó, việc phát triển các KCN, CCN, các cơ sở sản xuất công nghiệp
và dịch vụ, sự tăng nhanh chất thải sinh hoạt đã làm gia tăng các tác động
đến môi trường đất do khối lượng chất thải (nước thải, chất thải rắn, chất
thải nguy hại) tăng lên.
Chất lượng môi trường đất nhìn chung chưa bị ô nhiễm nhiều, các
khu vực ô nhiễm môi trường đất mang tính cục bộ, chưa lan rộng.
Cùng với quá trình CNH, mở rộng và phát triển đô thị, môi
trường tự nhiên ở TP.Vinh đã bị biến đổi. Tuy nhiên, so với các thành phố
lớn trong cả nước, mức độ ô nhiễm môi trường tự nhiên ở TP.Vinh chưa
đến mức báo động. - 14 -
Bản đồ hiện trạng môi trường đất ở TP.Vinh cho thấy khu vực bị
ô nhiễm thoái hóa đất do phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chiếm một phần
diện tích ở xã Nghi Phú, Nghi Kim, Nghi Ân, Hưng Lộc, Hưng Đông,
Hưng Hòa. Ô nhiễm đất do nguồn thải từ sản xuất và sinh hoạt chiếm một
phần diện tích các phường Hưng Dũng, Hồng Sơn, Lê Mao, Vinh Tân,
Trường Thi, Cửa Nam, Bến Thủy, xã Hưng Lộc. Ô nhiễm đất do khai
thác vật liệu xây dựng chiếm một phần diện tích xã Hưng Đông, Nghi
Liên (nơi có các lò gạch thủ công). Ô nhiễm đất do nhiễm mặn chiếm một
phần diện tích rìa xã Hưng Hòa. Phần diện tích còn lại, hiện tại chất lượng
hàm lượng và số lượng chất ô nhiễm ngày càng tăng, từ 2 chỉ tiêu vượt
tiêu chuẩn cho phép (năm 2000) lên 6 chỉ tiêu (năm 2011). Các chỉ tiêu
- 11 -
Bảng 2.3. Chất lượng nước mặt của sông Lam và các hồ ở TP.Vinh
năm 2011
QCVN
08:2008/
BTNMT T
TChỉ tiêu
Đơn vịSông Lam
(tại cầu Bến
Thủy)
Hồ
GoongHồ
Cửa
5
Fe mg/l 1,49 0,01 0,17 1,12 1 1,5
6
Pb
mg/l 0,0019 0,0037
0,0034
0,2 0,02 0,05
7
As mg/l 0,0012 0,009 0,001 0,05 0,02 0,05
8
Coliform MNP/
100ml
1780 4030 3030 1010 5000 7500
Tổng điểm 8 1 1 7
Nguồn: Đề tài “Điều tra, đánh giá các yếu tố tác động đến tài nguyên,
môi trường đất và nước ở TP.Vinh”
Chất lượng nước mặt cũng được đánh giá theo phương pháp cho
điểm từng chỉ tiêu chất ô nhiễm thành phần và phân cấp thành 4 mức độ
(không ô nhiễm, ô nhiễm nhẹ, ô nhiễm trung bình và ô nhiễm nặng).
b) Nước các kênh mương dẫn thải
Kết quả đánh giá theo tổng điểm của các chỉ tiêu cho thấy chất
lượng nước ở các kênh mương của TP.Vinh nhìn chung đang bị ô nhiễm
(cột B
2
)
1 BOD
5
mg/l 93 84 45 30 37 25
2 COD mg/l 118 127 26 34 54 50
3 NO
2
-
mg/l 0,047
0,118
0,001 0,055 0,019 0,05
4 NH
4
+
mg/l 4,86 10,8 11,35 12,5 8,2 1
5 PO
4
3-
mg/l 4,04 0,94 4,24 2,76 6,1 0,5
6 Pb
mg/l 0,8 3,6 0,4 KPH 0,12 0,05
7 As mg/l 0,07 0,1 0,02 0,15 0,04 0,1
8 Coliform
Từ kết quả đánh giá tổng hợp hiện trạng môi trường nước mặt
TP.Vinh năm 2011, NCS đã thành lập bản đồ hiện trạng môi trường nước
mặt TP.Vinh. Trên bản đồ thể hiện dạng điểm kết quả đánh giá mức độ ô
nhiễm môi trường nước mặt tại từng điểm quan trắc theo 4 cấp: không ô
nhiễm, ô nhiễm nhẹ, ô nhiễm trung bình và ô nhiễm nặng.
Kết quả đánh giá cho thấy chất lượng nước sông Lam tại cầu Bến
Thủy, sông Đào, sông Rào Đừng, sông Kẻ Gai đang bị ô nhiễm ở mức nhẹ.
Chất lượng nước các hồ trong thành phố còn tương đối sạch. Các hồ lớn như
hồ Goong, hồ Cửa Nam gần như không ô nhiễm, riêng hồ Bảy Mẫu tuy được
đánh giá ở mức ô nhiễm nhẹ, nhưng đã tiệm cận mức ô nhiễm trung bình (hồ
Bảy Mẫu là nơi chứa nước thải của KCN Bắc Vinh). Các kênh mương dẫn
thải của TP.Vinh đang bị ô nhiễm ở mức trung bình đến nặng. Ô nhiễm nặng
đang xảy ra ở Kênh Bắc và Kênh N
3
là hai kênh dẫn nước thải chủ yếu của
thành phố, nước thải theo các kênh này đổ ra sông Lam.
2.1.2.2. Hiện trạng môi trường nước dưới đất
Kết quả phân tích cho thấy hầu hết các tầng chứa nước nằm gần
mặt đất đều có biểu hiện của sự nhiễm bẩn bởi sắt, các hợp chất hữu cơ,
vô cơ và các vi sinh vật.
- 13 -
Quan trắc chất lượng nước dưới đất tại khu vực dân cư đông đúc
(phường Bến Thủy - cạnh Đại học Vinh, phường Quang Trung, phường
Vinh Tân, phường Hưng Dũng, xã Hưng Hòa), khu du lịch (Quảng
trường Hồ Chí Minh), gần KCN, CCN (Bắc Vinh, Đông Vĩnh, Nghi
Phú), các cơ sở sản xuất công nghiệp, bệnh viện, khu vực sản xuất nông
nghiệp, nghĩa trang, bãi rác cho thấy một số chỉ tiêu vượt QCCP, đặc biệt
là hàm lượng TDS, NO
2
công nghiệp (Bắc Vinh, Đông Vĩnh, Nghi Phú), một số cơ sở sản xuất
công nghiệp (công ty CP bia Sài Gòn - Nghệ An, cơ sở giết mổ gia súc
Nghi Phú), các bệnh viện (bệnh viện Đa khoa tỉnh Nghệ An, bệnh viện
TP.Vinh, bệnh viện Lao), bãi rác Đông Vinh, nghĩa trang thành phố. Kết
quả phân tích cho thấy đa phần các chỉ tiêu thấp hơn và không vượt quy
chuẩn cho phép. Các khu vực bị ô nhiễm chủ yếu do nước thải, rác thải
các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở dịch vụ, sinh hoạt của dân cư, do dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật.