Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng : Thiết bị dạy học trong đổi mới phương pháp dạy học môn địa lí - Pdf 28

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Trong bối cảnh hiện nay toàn ngành giáo dục đang nổ lực thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học, theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Giáo
dục từng bước áp dụng phương tiện hiện đại vào dạy học, phải tích cực hóa các hoạt
động học của học sinh, khơi dậy cho các em khao khát tìm tòi, nghiên cứu cố gắng
phát huy năng lực, trí tuệ trong quá trình nắm vững kiến thức. Để đạt được điều này
người giáo viên phải biết vận dụng và tổ chức việc dạy theo hướng tích cực nhằm giúp
các em khai thác hết kiến thức.
Thực hiện chương trình đổi mới phương pháp dạy học của Đảng và Nhà nước, áp
dụng các loại phương tiện dạy học vào giáo dục từ cấp THCS đến THPT trong dạy và học
địa lí, đã đạt được một số kết quả khả quan, góp phần nâng cao chất lượng học tập, khả
năng tư duy của học sinh THCS. Tuy nhiên việc sử dụng phương tiện dạy học vẫn chưa sử
dụng đồng bộ ở các trường THCS trong toàn tĩnh, một số giáo viên chưa thành thạo
với các kỹ năng khai thác kiến thức từ kênh hình, thiết bị dạy học trong nhà trường
còn thiếu và được cấp về trong thời gian dài nên đã cũ nát, học sinh thì còn lúng túng
khi tiếp cận với phương tiện dạy học (đặc biệt là thiết bị dạy học hiện đại) . Là một
giáo viên từng tham gia giảng dạy môn địa lí nhiều năm và đã được tiếp cận với
phương pháp dạy học mới nhưng tôi không tránh khỏi sự băn khoăn về những vấn đề
trên. Để phương tiện dạy học địa lí được sử dụng rộng rãi, thường xuyên và đồng bộ
hơn tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Thiết bị dạy học trong đổi mới phương pháp
dạy học môn địa lí” Vì vậy, tôi xin đưa ra kinh nghiệm nhỏ này để cùng các đồng nghiệp
tham khảo, chia sẻ, góp ý.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh THCS
3. Phạm vi nghiên cứu:
Đổi mới phương pháp dạy học cấp THCS bằng việc kết hợp các phương tiện
dạy học
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng sử dụng thiết bị
trong dạy học địa lý để việc dạy và học môn địa lý ở trường THCS có hiệu quả hơn. Giúp

biệt là các giáo viên giảng dạy môn Địa lí ở các Trường THCS nói chung và trên địa bàn
các địa phương tỉnh nhà nói riêng.
Phần II: Nội dung
1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn.
1.1. Cơ sở lý luận
Thiết bị dạy học là phương tiện hỗ trợ giáo viên, học sinh trong quá trình dạy học
nhằm đạt được mục đích dạy học. Thiết bị dạy học bao gồm các mô hình, bản đồ, tranh
ảnh, dụng cụ, băng, đĩa ghi âm, ghi hình, phần mềm dạy học, máy vi tính Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã ban hành danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cho các môn học ở trường phổ
thông, trong danh mục này có các loại hình tranh ảnh, mô hình, dụng cụ, băng đĩa hình, ,
máy chiếu, phần mềm dạy học
Ngày nay, trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, nhiều thiết bị
dạy học mới ra đời. Sự ứng dụng hay tích hợp các ứng dụng của công nghệ thông tin nhằm
hỗ trợ cho việc dạy học có hiệu quả hơn nhiều so với việc chỉ sử dụng các thiết bị dạy học
truyền thống. Thiết bị dạy học đã gợi động cơ cho học sinh ý thức về ý nghĩa của những
hoạt động và của dối tượng hoạt động. Gợi động cơ nhằm làm cho những mục đích sư
phạm biến thành mục đích của cá nhân học sinh, chứ không phải là sự vào bài, đặt vấn đề
một cách hình thức. Gợi động cơ được hiểu cả tầm vĩ mô lẫn vi mô. Trong quá trình dạy
học, người giáo viên chỉ dừng ở mức cố gắng gợi động cơ ở tầm vi mô thông qua từng
phần, từng nội dung bài học cụ thể. Việc gợi động cơ ở tầm vĩ mô đòi hỏi sự cố gắng của
toàn thể xã hội, cả trong và ngoài ngành giáo dục.
Địa lí là bộ môn khoa học tổng hợp, tri thức địa lí chủ yếu được hình thành bằng các
phương pháp quan sát, mô tả thực nghiệm, thực hành, tưởng tượng, liên hệ địa phương
Muốn thực hiện các bài học trên lớp. Giáo viên phải là người hướng dẫn các em chủ động
trong giờ học. Qua thực tế hiện nay để đạt một giờ dạy tốt là cả một vấn đề mà mỗi thầy cô
chúng ta cần quan tâm : Có những giờ dạy rất thành công, nhưng cũng có những giờ dạy
chưa đạt được mục đích của bản thân mỗi giáo viên đứng lớp. Vì những cơ sở trên đây tôi
muốn trao đổi với các bạn tìm ra những phương pháp tối ưu nhất để các giờ dạy địa lí đạt
kết quả cao nhất.
1.2. Cơ sở thực tiễn.

bức ảnh sau:
Sau khi học sinh quan sát, thảo luận các em có thể phân biệt được điểm khác nhau cơ
bản của 2 bức ảnh trên. Từ đó các em có thể trả lời được câu hỏi núi già và núi trẻ
khác nhau ở những điểm nào?
2.2. Kiến tạo kiến thức:
Nếu học sinh chưa biết thông tin chứa trong thiết bị dạy học thì phương tiện này mang
chức năng hình thành biểu tượng cần nghiên cứu
Nếu học sinh đã biết nội dung của khái niệm dưới dạng lời nói, văn tự hoặc kí hiệu mà
khái niệm sự vật, hiện tượng rất trừu tượng thì TBDH giúp minh họa khái niệm đó. Chẳng
hạn, các sự vật hiện tượng và các quá trình địa lí xảy ra ở khắp nơi trong lớp vỏ Trái Đất,
trên một không gian hết sức rộng lớn, học sinh có thể quan sát trực tiếp được, phải nhờ đến
sự quan sát trực tiếp từ TBDH (tranh ảnh, vi deo ). Từ các hình ảnh được trực quan hóa,
hình thành biểu tượng để tiến tới xây dựng khái niệm là một con đường phổ biến trong dyaj
học địa lí
2. 3. Kích thích hứng thú học tập của học sinh.
TBDH có thể kích thích hứng thú học tập nhờ hình thức thông tin như màu sắc, hình
ảnh, âm thanh, nhờ nội dung thông tin như mô phỏng những hiện tượng trong tự
nhiên, xã hội và con người, ứng dụng một lĩnh vực khoa học công nghệ
Ví dụ dạy bài 8 – Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời (Địa lí 6). Trước khi
vào bài có thể cho học sinh xem một đoạn video về chuyển động của Trái Đất quanh
Mặt Trời, qua đó sẽ kích thích hứng thú học tập của học sinh, tạo cho các em có nhu
cầu tìm hiểu, nhu cầu khám phá.
Sau khi xem xong đoạn phim, giáo viên dẫn dắt học sinh thảo luận thông qua 1 số câu hỏi
để từ đó dẫn đến kiến thức mới.
2. 4. Phát triển năng lực hợp tác của từng học sinh:
Bốn trụ cột của giáo dục toàn thế giới trong thế kỉ XXI cũng nhấn mạnh điều này “Học
để biết, học để làm việc, học để chung sống với mọi người, học để làm người”. TBDH có
thể biến đổi mức độ yêu cầu đặt ra cho từng học sinh trong quá trình hoạt động trí tuệ, tạo
môi trường cho học sinh phát triển năng lực hợp tác và tối ưu từng học sinh


thứ hai, là phương tiện dạy học ở nhiều bài địa lí. Từ bản đồ có thể bồi dưỡng thế giới quan
duy vật biện chứng, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu,… cho học sinh.
Do đặc điểm của các đối tượng, sự vật địa lí được trải rộng trong không gian, giáo viên
không thể dẫn học sinh đến từng nơi được, Vì vậy, dạy học địa lí không thể không có bản
đồ . Trong mỗi bản đồ địa lí đều chứa đựng những kiến thức ở các kí hiệu, ước hiệu và
những kiến thức thông qua các mối quan hệ địa lí- kiến thức “ẩn”.
Dựa vào bản đồ, giáo viên có thể nêu ra những vấn đề cho học sinh suy nghĩ, nhận thức,
phát triển tư duy địa lí và khai thác đặc trưng quan trọng của địa lí là tự duy gắn liền với
lãnh thổ, xét đoán dựa trên cơ sở bản đồ.
b. Các bước khai thác kiến thức từ bản đồ:
- Đọc tên bản đồ để biểt nội dung bản đồ;
- Đọc bản chú giải để biết cách thể hiện nội dung của bản đồ;
- Căn cứ vào bảng chú giải, tìm đối tượng địa lí trên bản đồ;
- Liên kết kí hiệu, xác lập mối quan hệ địa lí, để nêu đặc điểm của đối tượng, giải thích
các đặc điểm và sự phân bố
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ bản đồ tự nhiên Việt Nam. (Địa lí 8)
Với bản đồ này giáo viên yêu cầu học sinh:
-Đọc tên bản đồ để biết được nội dung của bản đồ;
-Đọc bảng chú giải để biết cách sử dụng nội dung của bản đồ;
-Căn cứ vào bảng chú giải, tìm đặc điểm của sông ngòi Việt Nam trên bản đồ;
-Liên kết các ký hiệu, xác lập mối quan hệ địa lí để nêu đặc điểm và giải thích được các đặc
điểm tự nhiên.
Trên bản đồ không có dấu hiệu gì cho thấy các dạng địa hình chủ yếu và hướng chạy của
địa hình? Đặc điểm sông ngòi, khí hậu, tài nguyên khoáng sản … như thế nào? Nên giáo
viên phải hướng dẫn học sinh dựa vào màu sắc để phân biệt được các dạng địa hình và độ
cao địa hình để biết được độ dốc của sông, biết được sông chảy như thế nào và có những
con sông nào?. Tác động bởi nhân tố địa hình đến việc hình thành đặc điểm khí hậu như thế
nào? => Từ bản đồ trên học sinh có thể nhận biết được các thành phần tự nhiên của nước
ta như thế nào?
c. Các kĩ năng cơ bản cần rèn luyện cho học sinh khi sử dụng bản đồ:

2.3) Cách sử dụng, khai thác từ át lát địa lí.
Át lát là phương tiện dạy học rất cần thiết và hữu ích đối với môn địa lí trong nhà trường.
Cùng với sách giáo khoa, át lát là nguồn cung cấp kiến thức, là phương tiện để học tập, rèn
luyện các kĩ năng cũng như hỗ trợ rất lớn trong các cuộc thi vì Átlát là cuốn sách thứ 2 viết
bằng kênh hình. Để khai thác át lát một cách hiệu quả giáo viên cần hướng dẫn học sinh
khai thác át lát theo trình tự sau:
-Tìm hiểu cấu trúc của át lát (gồm các trang, mục nào, sắp xếp ra sao);
-Xem bảng chú giải ở mặt sau của trang bìa để biết các kí hiệu thể hiện trên bản đồ.
-Tùy theo yêu cầu của từng bài học để thực hiện các yêu cầu tiếp theo.
Các câu hỏi sử dụng atlat thường có dạng: “Dựa vào atlat địa lý và kiến thức đã học…’’ với
những câu hỏi kiểu này, yêu cầu học sinh phải dựa vào hai kênh thông tin là át lát kết hợp
với các biểu đồ trong át lát và kiến thức sách giáo khoa.
Như vậy nếu người học có đầy đủ các kỹ năng sử dụng bản đồ thì việc khai thác át lát sẽ rất
thuận lợi, nó sẽ giúp người học hình dung được tình hình phân bố và phát triển của rất
nhiều sự vật, hiện tượng địa lí trên không gian lãnh thổ, giảm tải được tính trừu tượng của
nội dung học tập, hạn chế ghi nhớ máy móc.
2.4) Cách sử dụng, khai thác kiến thức từ lát cắt địa lí.
Khi phân tích lát cắt không chỉ là phân tích địa hình nơi lát cắt đi qua mà còn phân tích
được những đặc điểm tự nhiên xung quanh dọc theo lát cắt. Vì vậy khi hướng dẫn học sinh
sử dụng, khai thác kiến thức từ lát cắt địa lí giáo viên cần hướng dẫn học sinh theo trình tự
sau:
-Phân tích đặc điểm tình hình nơi lát cắt đia qua:
+Tên lát cắt?
+Lát cắt đi từ đâu đến đâu?
+Vị trí của lát cắt trên bản đồ?
+Lát cắt đi qua những khu vực địa hình nào? (mô tả được các đặc điểm, hình thái cơ bản
mà lát cắt đi qua như độ cao, độ dốc, hướng nghiêng, mức độ chia cắt)
+Giải thích được nguồn gốc của địa hình nơi lát cắt đi qua.
-Phân tích đặc điểm tự nhiên một cách tổng hợp dọc lát cắt.
Ví dụ : Dạy bài 40: Thực hành đọc lát cắt địa lí tư nhiên tổng hợp. (Địa lí 8)

Giáo viên yêu cầu HS quan sát, thảo luận dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh có thể trả
lời được các câu hỏi: Như thế nào là phụ lưu? Chi lưu? Sông chính? Lưu vực? Hệ thống
sông?
2.6) Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học địa lí:
CNTT là phương tiện dạy học hiện đại, đã góp phần tích cực vào việc đổi mới phương
pháp dạy học, nó làm cho các giờ học hấp dẫn nhờ những đoạn video clip sinh động, những
hình ảnh, bản đồ với màu sắc đẹp
Ví dụ: Những hình ảnh về quá trình chuyển động của các hành tinh trong hệ Mặt Trời, vận
động tự quay quanh trục của Trái Đất và các hệ quả của nó
Tuy nhiên khi ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học giáo viên cần lưu ý
- Cần phải chọn lọc các nội dung có thể ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao
- Không được làm dụng CNTT vào giảng dạy
- Ứng dụng CNTT phải kết hợp tốt với các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực
học tập của học sinh
- Khi thiết kế giáo án điện tử giáo viên cần nắm bắt tính hệ thống và kết cấu của một bài
giảng điện tử. Những thông tin, hình ảnh, đoạn phim phải được chọn lọc, phải thiết thực và
phù hợp với nội dung bài giảng
Ví dụ khi dạy bài 12 địa lí 6: “Tác động của nội lực và ngoại lực trong viện hình thành địa
hình bề mặt Trái Đất” khi nói về mặt tích cực và hạn chế của núi lửa, động đất chúng ta có
thể chiếu một đoạn phim tư liệu về tác hại của núi lửa và động đất. Từ đó yêu cầu các em
rút ra nhận xét? Hay những hiện tượng tự nhiên xãy ra hàng ngày như núi lửa, động đất,
sóng thần, bão, lũ
3. Phương pháp khai thác kiến thức từ một số bài học cụ thể qua việc khai thác kiến
thức từ thiết bị dạy học:
Ví dụ 1: Khi dạy phần tự nhiên tiết 19 bài 17 “Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
(Địa lí 9)
Hoạt động của Thầy và Trò Kiến thức cơ bản
Hoạt động 1: Nhận biết vị trí địa lí, giới
hạn lãnh thổ và nêu ý nghĩa của chúng
đối với việc phát triển kinh tế - xã hội

đồ HS có thể xác định được (Bảng bên)
? Giải thích vì sao Tây BẮc có mùa đông
ít lạnh hơn? (Dựa vào bản đồ để GT)
? Dựa vào bản đồ tự nhiên và kiến thức
vừa mới học: Hãy cho biết đặc điểm tự
nhiên của vùng?
Dựa vào bản đồ tự nhiên giáo viên cho HS
giải thích vì sao vùng có mùa đông lạnh
sâu sắc nhất cả nước?
? Xác định các nhà máy thủy điện, nhiệt
điện và các loại khoáng sản trên bản đồ?
? Những thuận lợi và khó khăn…?
Phía Đông: Biển Đông
=> Ý nghĩa: Thuận lợi cho việc giao lưu với
nước ngoài và trong nước, vùng lãnh thổ giàu
tiềm năng
2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên
nhiên:
Tây Bắc Đông Bắc
Địa
hình
Núi cao, hướng
TB - ĐN
Núi TB và thấp,
hướng cánh
cung
Khí
hậu
Có mùa đông ít
lạnh hơn

+Có vùng biển rộng lớn gấp ba lần đất liền với 2 quần đảo lớn Hoàng Sa và Trường Sa;
+Lãnh thổ nước ta kéo dài theo chiều Bắc nam, hẹp theo chiều Tây đông, bờ biển uốn cong
hình chữ S;
+Có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố rộng khắp cả nước….;
- Kĩ năng xác lập mối quan hệ: Từ kĩ năng mô tả các đối tượng địa lí trên bản đồ, giáo viên
gợi ý để học sinh biết được những ảnh hưởng của các đối tượng đó đến đặc điểm tự nhiên,
đến khí hậu, đến đời sống và sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước…
Ví dụ 2: Khi dạy bài 13: Môi trường đới ôn hòa (Địa lí 7) GV cho học sinh quan sat lược
đồ các đới khí hậu trên Trái Đất. Giáo viên có thể che bớt phần chữ yêu cầu học sinh xác
định ranh giới của đới ôn hòa. Dựa vào lược đồ này học sinh có thể biết được trên Trái Đất
có những đới khí hậu nào? Và giới hạn của mỗi đới?
IV. Bài học kinh nghiệm.
- Trong quá trình sử dụng TBDH địa lí, giáo viên không những có vai trò định hướng cho
học sinh quan sát, hướng dẫn và gợi ý học sinh cách khai thác kiến thức mà còn giúp học
sinh tự thao tác, điều khiển, sử dụng để khám phá, tìm tòi kiến thức hoặc củng cố kiến thức,
rèn luyện kĩ năng địa lí cho học sinh. Tạo điều kiện để học sinh “Học trong hành động”.
Việc sử dụng TBDH phải căn cứ vào nội dung của nững yêu cầu sau:
- Lựa chọn TBDH phù hợp.
Việc lựa chọn TBDH phải căn cứ vào nội dung của từng bài, từng phần cho phù hợp.
Những nội dung đó là những kiến thức cơ bản, đặc trưng của bài học. Mặt khác, còn phải
căn cứ vào hoạt động học tập của học sinh đối với mỗi nội dung bài học để lựa chọn
TBDH. Việc lựa chọn TBDH phải trên cơ sở xác định vai trò, vị trí của các TBDH, xác
định mối quan hệ TBDH với nội dung bài học và nắm chắc tính năng, tác dụng, nguyên lí
hoạt động của chúng.
- Định hướng cho học sinh trước khi yêu cầu quan sát, khai thác kiến thức từ các TBDH
địa lí. Thực tế dạy học cho thấy, việc quan sát và khai thác kiến thức của học sinh đối với
các TBDH chỉ hiệu quả nếu trước khi học sinh quan sát, nhận xét, giáo viên đưa ra hệ
thống câu hòi nhằm giúp học sinh biết cần phải quan sát cái gì, phần tích nôi dung, giải
thích nguyên nhân, nhận xét và khai thác kiến thức như thế nào.
Chẳng hạn, khi yêu cầu học sinh quan sát và khai thác kiến thức một bức tranh về vùng núi

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
1. Kết luận.
Trên đây là những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn bản thân tôi trong quá trình dạy
học địa lí ở trường THCS mặc dù nó chưa thực sự hiệu quả song nó phần nào giải quyết
được những hạn chế của bộ môn.
- Kết quả đạt được: Từ thực tế cho thấy trong những năm gần đây không có tình trạng
học sinh nhàm chán học môn đại lí nữa, mà các em luôn có hứng thú tìm tòi học hỏi. Chính
vì vậy nên chất lượng học tập của HS luôn cao so với những năm trước, kết quả các kì thi
khảo sát cuối kì của học sinh thường đạt: Khá, giỏi đạt trên 45%, trung bình đạt khoảng
45 – 50%, không có học sinh bị loại kém.
- Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện bài viết của tôi còn rất nhiều hạn chế
mong các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến và đưa ra nhiều kinh nghiệm quý báu trong dạy
và học địa lí để chúng tôi học hỏi để từng bước nâng cao chất lượng của giáo dục nói chung
và phân môn địa lí nói riêng.
2. Ý kiến đề xuất
* Đối với giáo viên: Để dạy học môn đại lí có hiệu quả, thu hút được sụ tìm tòi, khám
phá của HS thì phải có sự đầu tư của giáo viên cả quá trình truyền thụ bài trên lớp cũng
như soạn bài trên cơ sở kết hợp các loại đồ dùng dạy học. Nhằm giúp học sinh sử
dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả
* Đối với ban giám hiệu nhà trường và các cấp quản lí giáo dục:
Hiện nay ở các trường học cấp THCS thiết bị dạy học dược cấp về từ rất lâu nên đã
bị hư hỏng và rách nát rất nhiều gây khó khăn trong việc sử dụng và bảo quản của giáo
viên. Nên có một số tiết dạy vẫn còn không có đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung, nên
hiệu quả của một số tiết học chưa cao , ngoài ra cần có phòng chức năng riêng của bộ môn
riêng để tiện cho việc sắp xếp và sử dụng
TBDH cho môn địa lí còn ít và thiếu chưa đồng bộ, tài liệu cho môn học chưa có nhiều.
Do đó tôi dề nghị với nhà trường tăng cường mua sắm TBDH cho môn địa lí và do với đặc
thù bộ môn nên tôi nghị các cấp quản lí xây dựng một phòng học địa lí với trang thiết bị
cần thiết để cho việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp
môn địa lí nói riêng được thực hiện tốt trong nhà trường…/.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status