Sáng kiến kinh nghiệm: BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 HỌC TẬP CÓ HIỆU QUẢ TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ - Pdf 28


PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THĂNG BÌNH
TRƯỜNG TIỂU HỌC CAO BÁ QUÁT

Đề tài :
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 HỌC TẬP
CÓ HIỆU QUẢ TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ
NĂM HỌC : 2010- 2011
Tác giả : Trịnh Thị Thanh
Chức vụ : Giáo viên
Tổ : 4-5
1
Thăng Bình, tháng 02 năm 2011

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THĂNG BÌNH
TRƯỜNG TIỂU HỌC CAO BÁ QUÁT

Đề tài :
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 HỌC TẬP
CÓ HIỆU QUẢ TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ
NĂM HỌC : 2010- 2011
Tác giả : Trịnh Thị Thanh
Chức vụ : Giáo viên
Tổ : 4 - 5
Phạm vi nghiên cứu : Tập làm văn lớp 5
Phạm vi áp dụng : Lớp 5C Trường T.H Cao Bá Quát
Thời gian nghiên cứu : Năm học 2009 - 2010
Thời gian áp dụng : Năm học 2010 – 2011
Kí hiệu : TV – TH
2


Với những lý do trên, tôi chọn và viết đề tài : “ Biện pháp giúp học sinh lớp 5
học tập có hiệu quả Tập làm văn miêu tả”, trước hết là giúp nâng cao chất lượng
Tập làm văn cho lớp tôi phụ trách. Sau đó, mục tiêu quan trọng hơn là góp phần
nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung.
 Giới hạn nghiên cứu:
- Nghiên cứu và áp dụng cho học sinh lớp 5C Trường Tiểu học Cao Bá Quát từ năm
học 2010 – 2011 và rút kinh nghiệm áp dụng cho các năm sau.
3
Thăng Bình, tháng 02 năm 2011

III. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao. Tổng hợp
các kiến thức, kĩ năng từ Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, để viết
nên một bài Tập làm văn.
Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trục chủ
điểm và các bài đọc. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn bó chặt
chẽ với nhau. Như vậy, muốn dạy- học có hiệu quả Tập làm văn miêu tả (tả cảnh, tả
người) nhất thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện
từ và câu. Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài tập luyện từ- câu
thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung miêu tả rất rõ về cảnh vật, thiên
nhiên, con người,
Bài Tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, góp
nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ như
tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi.
Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ. Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và học tập
tích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững chất lượng
môn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học.
 Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo mục tiêu yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ
năng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học theo Chuẩn kiến thức,

Tập làm văn là do nhiều nguyên nhân.
2. Nguyên nhân của thực trạng
Theo tôi có sáu nguyên nhân như sau:
1/ Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của đề bài.
2/ Học sinh không được quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả.
3/ Khi quan sát thì các em không được hướng dẫn về kĩ năng quan sát: quan sát
những gì, quan sát từ đâu ? Làm thế nào phát hiện được nét tiêu biểu của đối tượng
cần miêu tả.
4/ Không biết hình dung bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sự vật miêu tả
khi quan sát.
5/ Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để bài viết mạch lạc,
chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về một sự vật, cảnh vật, về
một con người cụ thể nào đó.
6/ Nguyên nhân cuối cùng là trách nhiệm của người giáo viên. Phân môn Tập
làm văn là một môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo, nhưng lâu nay người giáo
viên (nhất là giáo viên lớp 4, lớp 5) chưa có cách phát huy tối đa năng lực học tập
và cảm thụ văn học của học sinh; chưa bồi dưỡng được cho các em lòng yêu quý
Tiếng Việt, ham thích học Tiếng Việt để từ đó các em nhận ra rằng đã là người Việt
Nam thì phải đọc thông viết thạo Tiếng Việt và phát huy hết ưu điểm của tiếng mẹ
đẻ.
V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò, nhiệm
vụ của một giáo viên đang đứng trên bục giảng, tôi mạnh dạn đưa ra bảy giải pháp
sau đây, hy vọng sẽ nâng cao được chất lượng phân môn Tập làm văn cho lớp tôi.
1. Giáo viên phải nắm vững nội dung, chương trình và phương pháp
dạy Tập làm văn:
Dạy như thế nào để học sinh học giỏi Tập làm văn, viết được những bài văn
miêu tả sinh động ? Điều cơ bản là người dạy phải nắm vững nội dung chương
trình, đồng thời biết chọn và vận dụng phương pháp phù hợp để truyền thụ kiến
thức cho học sinh. Biết được học sinh cần gì, chưa biết những gì để xác định đúng

tự hợp lý :
a. Tả theo trình tự không gian:
Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ
ngoài vào trong, từ trái qua phải, (hoặc ngược lại). Ở lớp 4, lớp 5 trình tự này
được vận dụng khi miêu tả loài vật, đồ vật, cảnh vật,
Ví dụ 1:
Tả từ ngoài vào trong: “ Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh.
Trước đền, những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm nhiều màu
sắc bay dập dờn như đang múa quạt xoè hoa. Trong đền dòng chữ vàng Nam Quốc
Sơn Hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.”
Ví dụ 2:
6

Tả từ dưới lên trên “ Cây hồi thẳng, cao, tròn xoe. Cành hồi giòn, dễ gãy hơn
cành khế. Quả hồi phơi mình xoè trên mặt lá đầu cành” (Rừng hồi xứ Lạng).
b. Tả theo trình tự thời gian:
Cái gì xảy ra trước (có trước) thì miêu tả trước. Cái gì xảy ra sau (có sau) thì
miêu tả sau. Trình tự này thường được vận dụng khi làm Tập làm văn miêu tả cảnh
vật hay tả cảnh sinh hoạt của người .
Ví dụ 1:
“ Buổi chiều, xe dừng lại ở một thị trấn nhỏ. Nắng phố huyện vàng hoe.
Những em bé Hmông, những em bé Tu Dí, Phù Lá cổ đeo móng hổ, quần áo sặc sỡ
đang chơi đùa trước cửa hàng. Hoàng hôn, áp phiên của phiên chợ thị trấn, người
ngựa dập dìu chìm trong sương núi tím nhạt” (Đường đi Sa Pa- Tiếng Việt 4).
Ví dụ 2:
“Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào hương thơm
lại ngây ngất kì lạ đến như thế. Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả gieo trên
đất rừng qua một năm, đã lớn cao đến bụng người. Một năm sau nữa, từ một thân lẻ,
thảo quả đâm thêm hai nhánh mới. Sự sinh sôi sao mà mạnh mẽ vậy.”
c. Tả theo trình tự tâm lí:

 Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước.
 Khứu giác: Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những
trận mưa đầu mùa.
 Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng
hót của chào mào.
3. Xác định yêu cầu trọng tâm đề bài:
Bài văn của học sinh được viết theo một đề bài cụ thể, cho nên yêu cầu hàng
đầu là các em phải viết đúng đề bài. Một đề bài đưa ra cho học sinh viết thường ẩn
chứa đến 3 yêu cầu: yêu cầu về thể loại (kiểu bài), yêu cầu về nội dung, yêu cầu về
trọng tâm.
Ví dụ: Đề bài ở tuần 4 lớp 5:
“ Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay trong
công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
Khi xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài, giáo viên phải làm sao giúp học
sinh hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội dung
bài viết:
Với đề bài trên, ẩn chứa 3 yêu cầu sau:
a. Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).
b. Yêu cầu về nội dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm từ
“cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”.
c. Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công viên….).
Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu. Như đề bài
“Tả một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung. Với đề bài này, giáo viên
cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết. Chẳng hạn
“Tả một cơn mưa khi em đang trên đường đi học”
Việc xác định đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹp nên các
em có được ý cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,
4. Giúp học sinh nắm đặc điểm của từng kiểu bài miêu tả:
 Giáo viên giúp học sinh biết dùng lời văn phù hợp với yêu cầu về nội dung và
thể loại cho trước, khi luyện tập. Giáo viên cũng cần lưu ý nhắc nhở các em

e. Chọn từ ngữ thích hợp khi tả cảnh:
Khi làm văn miêu tả cần biết lựa chọn từ ngữ gợi tả, dùng hình ảnh so sánh
hoặc nhân hoá để làm nổi bật đặc điểm cảnh đang tả giúp người đọc như đang đứng
trước cảnh đó và cảm nhận được những tình cảm của người viết.
Ví dụ :
Sau đây xin trích một số câu trong bài văn tả cảnh: “Chiều tối” của Phạm Đức
(Sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 22): “Nắng bắt đầu rút lên những chòm cây cao, rồi
nhạt dần và như hoà lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng.”
Ta thấy câu văn miêu tả sự chuyển hoá của ánh sáng từ “nhạt dần” rồi “hoà
lẫn” với “ánh sáng trắng nhợt”.
Tác giả cũng đã dùng mắt để quan sát sự biến đổi của ánh sáng và bóng tối, đã
dùng tai để nghe tiếng dế và dùng mũi để cảm nhận hương vườn và cũng đã sử dụng
nghệ thuật nhân hoá làm cho câu văn sinh động một cách rất tinh tế, khi viết:
9

“Bóng tối như bức màn mỏng, như thứ bụi xốp, mờ đen phủ dần lên mọi vật.”
“Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi.”
“ Trong im ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra và tung tăng
trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.”
 KIỂU BÀI TẢ NGƯỜI :
Khi miêu tả người, yếu tố quan sát lại càng quan trọng. Nhìn chung, mọi người
đều có những đặc điểm giống nhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau ở những đặc
điểm riêng, chỉ người đó mới có. Nhiệm vụ của giáo viên khi hướng dẫn học sinh
“miêu tả người” là giúp cho các em thấy rằng phải miêu tả ngắn gọn mà chân thực,
sinh động về hình ảnh và hoạt động của người mình tả.
Ví dụ:
Trong bài văn “Người thợ rèn” (SGK lớp 5- tập 1- trang 123). Tác giả miêu tả
người thợ rèn đang làm việc:
“Anh bắt lấy thỏi thép hồng như bắt lấy một con cá sống. Dưới những nhát búa
hăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đành đạch.”

nhận được và biết tả hết các đặc điểm đó thì sẽ làm cho bài văn miêu tả của các em
sinh động, hồn nhiên đầy cảm xúc và người đọc dễ chấp nhận hơn.
Ví dụ:
Trong bài văn tả “Cô Chấm” (sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 156) nhà văn Đào
Vũ đã viết: “Chấm không phải là cô con gái đẹp, nhưng là người mà ai đã gặp thì
không thể lẫn lộn với bất cứ một người nào khác.”
“Chấm cứ như một cây xương rồng. Cây xương rồng chặt ngang chặt dọc, chỉ
cần cắm nó xuống đất, đất cằn cũng được, nó sẽ sống và sẽ lớn lên. Chấm thì cần
cơm và lao động để sống .”
“Chấm mộc mạc như hòn đất. Hòn đất ấy bầu bạn với nắng với mưa để cho cây
lúa mọc lên hết vụ này qua vụ khác, hết năm này qua năm khác ”
5. Làm giàu vốn từ cho học sinh
 Giáo viên cần có biện pháp làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh qua từng bài
đọc, từng bài tập ở các môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ- câu cùng chủ điểm.
Tạo cho học sinh thói quen quan sát, đánh giá, nhìn nhận một sự vật, một cảnh
vật hay một con người nào đó và thể hiện những điều đã quan sát và đánh giá được
bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình, kịp thời điều chỉnh những lỗi về dùng từ, viết
câu, làm văn
a. Bài tập làm giàu vốn từ cho học sinh thông qua các phân môn Tiếng Việt:
 Môn Tập đọc giúp các em hiểu được nghĩa đen, nghĩa bóng, hiểu được nội
dung của các đoạn văn, khổ thơ có ý nghĩa miêu tả (cảnh vật, con người, ). Mỗi
tiết dạy Tập đọc nên thêm một vài câu hỏi về thể loại, bố cục và trình tự miêu tả
của tác giả để học sinh thấm dần về Tập làm văn miêu tả.
 Môn Luyện từ- câu là môn có thể giúp học sinh làm giàu vốn từ nhiều nhất
khi dạy các tiết Mở rộng vốn từ. Trong các tiết này có các bài tập mở rộng vốn từ
rất cụ thể, thiết thực như tìm từ, ghép từ, phát hiện từ miêu tả, dùng từ đặt câu, sắp
xếp các từ thành nhóm miêu tả như nhóm từ ngữ miêu tả ngoại hình, nhóm từ ngữ
miêu tả đặc điểm cảnh vật, nhóm miêu tả hoạt động,
Đặc biệt ở chính phân môn Tập làm văn, giáo viên có thể giúp học sinh làm giàu
vốn từ theo các đề tài nhỏ:

Khi học sinh đã được cung cấp những từ ngữ miêu tả rồi, giáo viên cần tổ
chức, hướng dẫn cho các em lập dàn ý, lựa chọn sắp xếp ý để miêu tả. Mục đích xây
dựng dàn ý là giúp học sinh xác định được đúng yêu cầu của từng phần: mở bài,
thân bài, kết bài, xác định thể loại và đối tượng miêu tả để tránh tình trạng học sinh
viết tràn lan, lạc đề và miêu tả không trọng tâm.
Hoạt động tiếp theo sau khi lập dàn ý là hoàn thiện dàn ý. Đây là bước quan
trọng, cần thiết để có được một bài tập làm văn viết tốt nhất. Khi làm bài vào vở,
học sinh cần chú ý cách trình bày, chữ viết, lỗi chính tả. Đó là những yếu tố giúp
học sinh thành công trong quá trình học Tập làm văn. Cuối cùng, khi đã làm bài
xong học sinh cần kiểm tra lại bài viết của mình trước khi nộp bài.
7. Giáo viên chấm bài và trả bài viết
Chương trình Tập làm văn lớp 5 có 3 tiết trả bài tả cảnh, 3 tiết trả bài tả người,
4 tiết trả bài kể chuyện, đồ vật, cây cối, con vật. Ta nhận thấy rằng có chấm bài chu
đáo thì mới có tiết trả bài đạt hiệu quả.
a. Chấm bài:
Khi chấm bài Tập làm văn cho học sinh, mỗi bài tôi đọc qua một lượt để có cái
nhìn chung về bố cục, về diễn đạt của học sinh, xem thử học sinh đã làm bài đúng
12

thể loại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa. Tôi ghi ra sổ chấm bài những chỗ hay,
chưa hay hoặc sai những lỗi gì của từng HS.
Khi chấm điểm xong cho cả lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của học
sinh và rút ra những tiến bộ cần phát huy, và những thiếu sót cần sửa chữa bổ sung
để chuẩn bị cho tiết trả bài sắp tới…
b. Trả bài viết:
Nội dung, phương pháp lên lớp một tiết trả bài Tập làm văn viết lớp 5, theo
sách giáo khoa xác định có 3 hoạt động chính:
1. Nghe thầy (cô) nhận xét chung về kết quả bài làm của lớp.
2. Chữa bài.
3. Đọc tham khảo các bài văn hay được thầy (cô) giáo khen để học tập và rút kinh

o Bước 2: Học sinh đọc lại bài làm của mình, chú ý những chỗ mực đỏ ghi lời
khen, chê của cô giáo. ( Ví dụ : câu hay, đoạn hay, hoặc lỗi dùng từ, lỗi viết
câu, lỗi chính tả…)
o Bước 3: Học sinh tự chữa bài vào vở tập làm văn.


Hoạt động 3:
Đọc tham khảo một số đoạn, hoặc vài bài văn hay của một số em cho cả lớp
nghe để học tập và rút kinh nghiệm.
VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua những biện pháp và giải pháp tôi đã áp dụng được nêu ở trên, đến cuối
học kì I năm học 2010 – 2011 các em đã nắm được một số vốn kiến thức nhất định
để học có hiệu quả phân môn Tập làm văn. Cả lớp đều ham thích môn học, không
sợ sệt khi đến tiết Tập làm văn như đầu năm học nữa. Bài làm của các em đa số đã
có tiến bộ, học sinh nắm được cách sắp xếp ý, bố cục chặt chẽ, dùng từ chính xác,
viết câu văn trôi chảy, mạch lạc, bước đầu có hình ảnh, cảm xúc, hiểu và vận dụng
khá tốt các biện pháp tu từ trong các bài tập làm văn của mình. Các em cảm thụ
được bài văn, đọc bài trôi chảy, hiểu đúng nội dung bài, nhất là rất tự tin khi đến tiết
học Tập làm văn.
Diễn biến chất lượng Tập làm văn:
Thời điểm Số
HS
Điểm 5 Điểm 4 Điểm 3 Điểm 1, 2
Khảo sát đầu
năm
2010-2011
23 0 0% 1 4,4% 8 34,8% 14 60,8%
Giữa học kì I
23 2 8,7%
5 21,7% 10

rệt đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt của lớp và
của tổ chuyên môn.
VII. KẾT LUẬN
Sau một học kì áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, thành công tuy nhỏ nhoi
nhưng tôi ý thức được rằng để giúp học sinh lớp 5 làm được bài văn miêu tả sinh
động, đúng kiểu bài, đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian, công sức nghiên
cứu soạn giảng, có lòng nhiệt tình với học sinh và tâm huyết với nghề nghiệp. Thầy
cô giáo đã miệt mài, tận tuỵ thì việc mong muốn có nhiều học sinh giỏi văn sẽ
không còn là khó. Sau thời gian đầu tư nghiên cứu và áp dụng những biện pháp dạy
học như trên, học sinh lớp tôi đã có chuyển biến đi lên về chất lượng phân môn Tập
làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
Tập làm văn đúng là phân môn có tính chất tổng hợp và sáng tạo cao. Cho nên
mỗi bài văn của từng học sinh là một tác phẩm văn học của các em, chúng ta phải
tôn trọng nó, giúp đỡ nó để mỗi ngày có được nhiều học sinh giỏi văn. Biết đâu sau
này trong các em, sẽ có người trở thành nhà văn, nhà thơ
Có thể nói, bước đầu thành công trong việc dạy Tập làm văn miêu tả cho học
sinh lớp 5 là nguồn động viên rất lớn cho tôi. Tôi sẽ đem kinh nghiệm này tiếp tục
áp dụng để giảng dạy phân môn Tập làm văn ở học kì II và các năm sau, với mong
muốn lớn nhất của tôi là giúp học sinh nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cấp
Tiểu học.
Tuy nhiên những biện pháp mà tôi đã áp dụng trên, tuỳ đối tượng học sinh
cũng cần có sự vận dụng một cách khéo léo, sáng tạo của giáo viên. Tôi nghĩ rằng
nội dung đề tài này không có nhiều điểm mới, đó chỉ là nhiệm vụ hằng ngày của
giáo viên mà thôi. Nhưng đồng thời tôi cũng tin rằng nếu lâu nay ta làm chưa tốt thì
bây giờ ta dốc hết tâm huyết vào, tận tuỵ với học sinh, soạn giảng nghiêm túc thì
chắc chắn sẽ gặt hái được thành công.
Rất mong nhận được sự đồng tình của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp lớp
4- 5.
VIII. ĐỀ NGHỊ
Để dạy học có hiệu quả Tập làm văn ở Tiểu học ( nhất là văn miêu tả ở lớp 4, 5

- Hãy phân tích cấu tạo của bài Nắng trưa.
- GV nhận xét chung, ghi điểm.
2/ Bài mới : (32-35 phút)
a/Hoạt động 1: Giới thiệu bài (1-2 phút)
- Qua việc phân tích bài Buổi sớm trên cánh
đồng, các em sẽ hiểu thế nào là q/sát và chọn
lọc chi tiết trong 1 bài văn tả cảnh.
b/Hoạt động 2: Hướng dẫn HS làm BT(24-25’)
- 2 HS trình bày.
- Nhận xét.
- Lắng nghe.
16

* Bài 1 :
- 1 HS đọc yêu cầu của BT 1 và đoạn văn.
- GV giao việc theo nhóm đôi:
- Tìm những sự vật được tác giả tả trong buổi
sớm mùa thu.
- Tác giả quan sát sự vật bằng những giác quan
nào?
- Tìm một chi tiết thể hiện sự quan sát tinh tế
của tác giả.
- Tổ chức cho các nhóm trình bày.
- GV nhận xét, chốt kết quả đúng.
*Những sự vật được tả trong bài :
+Bằng xúc giác: mát lạnh, ướt lạnh bàn chân.
+Bằng thị giác: mây xám đục, vòm trời xanh
vòi vọi.
+Câu 3 “Giữa những…xanh vòi vọi", chi tiết
“vài giọt mưa loáng thoáng rơi…"

- Tự sửa bài .
- Lắng nghe.
* HS
K, G
hoàn
chỉnh
dàn ý
rồi viết
vào vở.
* GV
giúp
HS
trung
bình,
yếu
hoàn
thành
dàn ý.
Giáo án minh họa 2 :
Tuần : 15
Tiết : 29
LUYỆN TẬP TẢ NGƯỜI
(Tả hoạt động)
Ngày dạy:
2/12/2010
I/ Mục tiêu :
17

1/ Nắm được cách tả hoạt động của người ( các đoạn của bài văn, nội dung chính
của từng đoạn, các chi tiết tả từng hoạt động ). (BT1)

-GV nhận xét, sửa chữa cách tả hoạt động.
Bài 2 : *Cho HS đọc đề bài 2.
-Cho HS phân tích đề, GV giúp đỡ HS làm bài
cá nhân.
-GV chấm bài.
-Nhận xét: dùng từ, câu, lỗi chính tả.
- GV nhận xét, khen những HS viết đoạn văn
đúng chủ đề, hay.
3/ Củng cố, dặn dò:
- 1HS đọc
- HS lắng nghe.
- HS nêu yêu cầu
- 1 HS đọc to bài “Công
nhân sửa đường” lớp
theo dõi đọc thầm.
-HS thảo luận cặp
-Trả lời
-Nhận xét
-HS thảo luận N4
- HS trả lời đại diện
- Cả lớp nhận xét.
-HS nêu lại toàn bộ nội
dung.
-HS trả lời cá nhân
- Lớp nhận xét.
-HS quan sát và nêu
một số hoạt động của
từng tranh
-HS nêu thêm hoạt động
2/ 1 HS nêu đề.

của
người.
18

*GV nhận xét tiết học.
- Yêu cầu HS về nhà hoàn chỉnh đoạn văn tả
hoạt động của người mà em yêu mến.
Bài sau: Luyện tập tả người
Lắng nghe
Giáo án minh họa 3 :
Tuần: 17
Tiết : 34
TRẢ BÀI VĂN TẢ NGƯỜI Ngày dạy:
17/12/2010
I/ Mục tiêu :
1/ Biết rút kinh nghiệm để làm tốt bài văn tả người (về các mặt bố cục, trình tự miêu
tả, cách diễn đạt, cách trình bày, chính tả.)
2/ Có khả năng phát hiện và sửa lỗi trong bài làm của mình, của bạn. Nhận biết
điểm của những bài văn hay. Viết lại được một đoạn trong bài cho hay hơn.
II/ Đồ dùng dạy học :
- Phiếu ghi thống kê các lỗi sai + bút dạ + bảng phụ.
III/ Các hoạt động dạy và học :
Hoạt động của GV Hoạt động của HS HTĐB
1/ Kiểm tra bài cũ : (4- 5 phút)
- Gọi một số học sinh đứng tại chỗ đọc đơn xin học
môn tự chọn ở tiết trước.
- Nhận xét, ghi điểm.
2/ Bài mới :
a/ Hoạt động 1 : Giới thiệu bài (1-2 phút)
- Trong tiết TLV hôm nay, cô sẽ trả bài kiểm tra

lỗi.
19

- Đọc cho HS những câu văn sai.
- Cho HS tự sửa vào VBT và lên bảng làm.
d/ Hoạt động 4 : Hướng dẫn học sinh học tập
những đoạn văn, bài văn hay và viết lại một đoạn
văn (8-10’)
- Gọi một số học sinh có đoạn văn hay, bài văn
được điểm cao đọc cho cả lớp nghe.
- Gợi ý cho HS chọn một đoạn văn, có nhiều lỗi
chính tả, đoạn văn lủng củng diễn đạt chưa rõ ý.
Đoạn văn dùng từ chưa hay. Mở bài, kết bài đơn
giản.
- Gọi một số HS đọc lại đoạn văn vừa viết.
- HS lắng nghe, tự
ghi chép
- 3 đến 5 học sinh
đọc.
- Viết lại đoạn văn
có nhiều chỗ sai đó.
- 3 đến 5 học sinh
đọc đoạn văn vừa
viết lại.
4/ Củng cố, dặn dò (1-2 phút)
- Nhắc lại một số điểm cần ghi nhớ về cách làm bài
văn tả cảnh.
- GV nhận xét tiết học.
- Yêu cầu HS về nhà đọc kĩ bài làm và hoàn thiện
một đoạn và cả bài văn.

VII. KẾT LUẬN 14-15
VIII. ĐỀ NGHỊ 15
IX.PHỤ LỤC 16-18
X. TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
21

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học : 2010 - 2011
I. Đánh giá xếp loại của HĐKH Trường Tiểu học Cao Bá Quát
1. Tên đề tài : Biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả Tập
làm văn miêu tả
2. Họ và tên tác giả : Trịnh Thị Thanh
3. Chức vụ : Giáo viên Tổ : 4 - 5
4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài :
a. Ưu điểm : b. Hạn chế : 5. Đánh giá, xếp loại :
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường :
22
Mẫu SK1 thống nhất xếp loại :
Những người thẩm định : Chủ tịch HĐKH

Phần
Nhận xét
của người đánh giá xếp loại đề tài
Điểm
tối đa
Điểm
đạt
được
1. Tên đề tài
2. Đặt vấn đề
1
3. Cơ sở lý luận 1
23
Mẫu SK3

4. Cơ sở thực tiễn 2
5. Nội dung nghiên cứu 9
6. Kết quả nghiên cứu 3
7. Kết luận 1
8. Đề nghị
9. Phụ lục
1
10. Tài liệu tham khảo
11. Mục lục
12. Phiếu đánh giá xếp loại
1
Thể thức văn bản, chính tả 1
Tổng cộng 20đ
Căn cứ số điểm đạt được, đề tài trên được xếp loại:
Người đánh giá xếp loại đề tài :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status