Một vài phân tích về tình trạng việc làm của thanh niên Việt Nam - Pdf 28

Đại học KTQD Khoa Toán Kinh tế
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn của PGS.TS
Nguyễn Cao Văn trong việc tư vấn giúp em chọn đề tài cũng như những nhận xét quý
báu của thầy giúp em hoàn thiện bài viết này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến TS.
Ngô Văn Thứ, trưởng khoa Toán kinh tế đã giúp đỡ em trong việc xây dựng mô hình.
Cảm ơn cô Nguyễn Thị Hải Vân, P. Cục trưởng cục việc làm, Giám đốc Trung
tâm quốc gia dự báo & Thông tin thị trường lao động đã tạo điều kiện cho em tìm
hiểu số liệu cũng như các văn bản chính sách của Nhà nước về lao động, việc làm.
Các anh Nguyễn Thế Hà, Trần Quang Chỉnh, Nguyễn Quang Lộc đã tạo điều kiện
thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập.
Em xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 01 năm 2010
Sinh viên
Vũ Thành Dương
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Vũ Thành Dương
1
Đại học KTQD Khoa Toán Kinh tế
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ Cơ cấu lao động thanh niên
Đồ thị 1. Cân bằng cung cầu lao động trong cạnh tranh hoàn hảo.
Đồ thị 2. Quy mô lao động thanh niên có việc làm
Biểu đồ: Quy mô lực lượng lao động thanh niên giai đoạn 1998-2008
Bảng 1. tỷ lệ có việc làm phân theo nhóm tuổi
Bảng 2. tỷ lệ có việc làm của thanh niên phân theo giới tính
Bảng 3. tỷ lệ thanh niên có việc làm theo khu vực sống.
Bảng 4. bảng ước lượng.
Bảng 5. Kiểm định độ chính sác của mô hình.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Vũ Thành Dương
2
Đại học KTQD Khoa Toán Kinh tế

Winstata.
Mô hình sử dụng: Logit
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Vũ Thành Dương
3
Đại học KTQD Khoa Toán Kinh tế
4. Kết cấu của đề tài gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan về lao động và thị trường lao động Việt nam.
Chương 2: Thực trạng việc làm trong thanh niên Việt Nam những năm gần đây.
Chương 3: Áp dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích thực trạng việc làm
trong thanh niên ở nước ta.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Vũ Thành Dương
4
Đại học KTQD Khoa Toán Kinh tế
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ LAO ĐỘNG
VÀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
I. LAO ĐỘNG – NỀN TẢNG CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ.
1. Định nghĩa lao động.
- Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi
những vật thể tự nhiên cho phù hợp với lợi ích của mình. Lao động là sự vận dụng
của sức lao động, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất tạo ra của
cải vật chất cho xã hội.
Thành quả do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm nuôi sống bản
thân họ, gia đình họ và đảm bảo sự tồn tại của xã hội. Lao động có năng suất, chất
lượng đem lại hiệu quả cao là nhân tốt quyết định đến sự phát triển của đất nước. Vì
vậy lao động có một vị trí vô cùng quan trọng và không thể thiếu được trong bất kỳ
một chế độ xã hội nào, một quốc gia nào. Mỗi con người đến độ tuổi lao động, có
khả năng lao động đều mong muốn và có quyền được lao động để nuôi sống bản
thân, giúp đỡ gia đình và làm giàu cho xã hội. Lao động chính là việc sử dụng sức lao
động.

trọng, quyết định đến cách thức đưa tư liệu sản xuất vào quá trình sản xuất.
• Trong các yếu tố kể trên thì lao động là yếu tố “động” nhất bởi yếu tố con
người thường xuyên biến động do có xu hướng ngày càng giảm chi phí lao động cho
việc sản xuất chi phí lao động cho việc sản xuất sản phẩm. Hơn nữa, người lao động
cũng là cách mạng nhất ở chỗ con người tạo ra máy móc thiết bị - tiền đề cho cách
mạng khoa học kỹ thuật…
- Nhân tố đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra của cải vật chất, là yếu tố
duy nhất đưa lại lợi ích kinh tế, làm tăng của cải cho xã hội. Như C. Mác đã chỉ rõ,
tham gia vào quá trình sản xuất có 2 yếu tố lao động: lao động quá khứ (c) và lao
động sống (v), trong đó (c) được bảo toàn giá trị của nó trong xản phẩm mới và chỉ
có (v) mới tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó.
- Ngoài ra, con người tham gia vào quá trính lao động không chỉ là tạo ra của
cải vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân và xã hội mà đó còn là
quá trình tự hoàn thiện bản thân…bởi ý thức được thoải mãn, được tôn trọng…
3. Nhu cầu việc làm của thanh niên.
- Thanh niên là lực lượng lao động trẻ có tiềm năng rất lớn, đóng vai trò quan
trọng trong xã hội. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thanh
niên với các quy định về dân số trong độ tuổi từ 15 đến 24, 25, 29 hoặc 34 tuỳ theo
cơ cấu lứa tuổi của dân số các nước trên thế giới, ví dụ:
+ Theo một số nhà nghiên cứu, thanh niên là “thời gian chuyển tiếp giữa thời
thiếu niên và trưởng thành”.
+ Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, thanh niên là “những người thuộc lứa
tuổi 15-24” theo hàm ý thanh niên bao gồm những người rời ghế nhà trường sớm
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Vũ Thành Dương
6
Đại học KTQD Khoa Toán Kinh tế
nhất sau khi tốt nghiệp phổ thông (15 tuổi) và đến khi kết thúc trình độ đào tạo đại
học (24 tuổi). Theo ước tính của Liên hiệp quốc, hiện nay có trên 1 tỷ người được coi
là thanh niên, khoảng 85% sinh sống ở các nước đang phát triển và khoảng 60% ở
châu Á;

thiếu việc làm
Đại học KTQD Khoa Toán Kinh tế
việc và sẵn sàng làm trong thời điểm điều tra. Do đó, khái niệm lực lượng lao động
thanh niên (sau đây gọi tắt là lao động thanh niên) được sử dụng trong đề tài là những
người trong độ tuổi từ đủ 15-29 tuổi, có khả năng lao động và sẵn sàng làm việc.
- Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn tràn
đầy nhiệt huyết, năng động, sáng tạo, là lực lượng xã hội to lớn, đảm nhiệm những
công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khoẻ và sáng tạo.
Trong mỗi thời kỳ lịch sử, thanh niên luôn là lực lượng tiên phong đi đầu tham
gia giải quyết những nhiệm vụ quan trọng được đất nước và nhân dân giao phó, là
một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai của đất nước, vận mệnh của
dân tộc.
Bước vào thời kỳ phát triển mới của đất nước, trong bối cảnh toàn cầu hoá và
hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ,
tri thức mới, với trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, ý thức vai
trò trách nhiệm đối với đất nước, đối với cộng đồng ngày càng lớn, các thế hệ thanh
niên đã không ngừng nâng tầm nhận thức, nêu cao ý chí tiến thủ, phát huy phẩm chất
tốt đẹp và thế mạnh của tuổi trẻ, xung kích, tình nguyện, chủ động, sáng tạo, đảm
đương những việc khó, việc mới, không quản mọi gian nan, thách thức, đã và đang
đóng góp hiệu quả vào các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội đất nước, thực hiện
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN. Vì vậy, có thể khẳng định, thanh niên chính là chủ nhân, là tương lai,
là vận mệnh của dân tộc, Việt Nam có trở thành một quốc gia giàu mạnh, ấm no,
hạnh phúc được hay không chính là sứ mệnh cao cả của lực lượng thanh niên.
II. THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG.
1. Định nghĩa thị trường lao động.
Theo Adam Smith thị trường là không gian trao đổi trong đó người mua và
người bán gặp nhau trao đổi hàng hóa và dịch vụ nào đó.
Theo David Berg: thì thị trường là tập hợp những sự thỏa thuận, trong đó người
mua và người bán trao đổi với nhau loại hàng hóa, dịch vụ nào đó. Như vậy, theo ông

động, độ dài của thời gian làm việc và chất lượng của lực lượng lao động….
3. Cân bằng trong thị trường lao động.
Đồ thị 1.1. Cân bằng cung cầu lao động trong cạnh tranh hoàn hảo.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Vũ Thành Dương
9
Đại học KTQD Khoa Toán Kinh tế
Cũng giống như trong thị trường hàng hóa, cân bằng trong thị trường yếu tố sản
xuất xảy ra khi giá yếu tố sản xuất làm cho lượng cung bằng lượng cầu. Trong hình
trên, tại điểm cân bằng A, đơn giá tiền lương cân bằng là W
c
, và lượng lao động cân
bằng là L
c
. Vì tất cả các lao động đều có thông tin đầy đủ nên họ nhận được tiền
lương như nhau và họ tạo ra sản phẩm doanh thu cận biên của lao động là như nhau
bất kể họ được sử dụng ở đâu.
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC LÀM TRONG THANH
NIÊN.
1. Môi trường kinh tế – xã hội.
- Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là tiền đề thúc đẩy
sự gia tăng khả năng tạo việc làm của nền kinh tế, trong những năm qua, Việt Nam
đã chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng giải phóng triệt để sức sản
xuất, huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển, tạo môi trường thuận lợi cho các
hoạt động đầu tư, kinh doanh; phát triển đồng bộ các thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị
trường tài chính tiền tệ, …; khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển (đặc biệt
sau khi có sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp ngày càng
gia tăng, góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 500 nghìn lao động mỗi năm, chủ
yếu là lao động thanh niên, là khu vực có tiềm năng lớn nhất về tạo việc làm), đẩy
mạnh thu hút các nguồn lực đầu tư nước ngoài; phát triển công nghiệp chế biến nông
lâm thuỷ sản, may mặc, giày da, khai khoáng..; các ngành dịch vụ hỗ trợ kinh doanh

vào công việc sớm. Thực tế cho thấy nhiều thanh niên đã tham gia vào lao động ngay
khi còn đang đi học và không ít người đã đạt được thành công.
- Việc chuyển đổi từ đi học sang đi làm của lứa tuổi thanh niên cũng là một
bước khẳng định sự trưởng thành và do đó họ luôn cố gắng hoàn thiện tốt công việc
của mình. Độ tuổi thanh niên là độ tuổi có nhiều sự thay đổi về tâm sinh lý trong đó
phải kể đến vấn đề chuyển đổi từ đi học sang đi làm. Đây là một thời điểm nhạy cảm
của họ và nếu nó diễn ra suôn sẻ thì sẽ là một bước đệm tốt cho sự nghiệp sau này…
3. Ảnh hưởng của lứa tuổi, giới tính, trình độ giáo dục, trình độ chuyên
môn kỹ thuật và vùng kinh tế tới việc làm trong thanh thiếu niên.
- Ảnh hưởng của lứa tuổi: độ tuổi thanh niên (15 - 29) có người tham gia lao
động sản xuất, người còn đi học…do đó tỷ lệ có việc làm trong thanh niên phụ thuộc
lớn vào sự lựa chọn giữa việc hoặc đi làm hoặc vào các cơ sở giáo dục.
- Ảnh hưởng của giới tính: có nhiều công việc đòi hỏi phải có sức khỏe và sự
nguy hiểm phù hợp với nam giới hơn, lại có những công việc đòi hỏi sự tỷ mỉ cẩn
thận phù hợp với nữ giới. Do đó, tùy thuộc vào mức độ giải quyết việc làm và các
chính sách bồi dưỡng, đào tạo, các chính sách đầu tư phát triển ngành kinh tế sẽ ảnh
hưởng đến tỷ lệ có việc làm trong thanh niên.
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Vũ Thành Dương
11
Đại học KTQD Khoa Toán Kinh tế
- Ảnh hưởng trình độ giáo dục: người khi còn đang đi học phần lớn sẽ không
tham gia vào lực lượng lao động do đó làm tỷ lệ người có việc làm giảm đi đáng kể.
- Ảnh hưởng trình độ chuyên môn kỹ thuật: trong khi được đào tạo nghề, họ tuy
không tham gia lao động nhưng các khóa đào tạo nghề thường là ngắn hạn và kết quả
là cho những công nhân phù hợp với công việc nên góp phần lớn vào việc giải quyết
sự khan hiếm thợ trong các nhà máy xí nghiệp…
- Ảnh hưởng từ vùng kinh tế, môi trường sống: chính sách đầu tư trọng điểm
của Nhà nước vào từng vùng kinh tế, từng ngành kinh tế cũng làm ảnh hưởng tới cầu
lao động.
IV.TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO

nông thôn thường chiếm tỷ lệ cao, việc xem xét đồng thời hai chỉ tiêu thất nghiệp và
thiếu việc làm là hết sức cần thiết. Về bản chất, thiếu việc làm là thất nghiệp bán
phần trong khi thất nghiệp là thất nghiệp toàn phần. Tại Việt Nam, thất nghiệp theo
nghĩa rộng (bao gồm thất nghiệp ở khu vực thành thị và thiếu việc làm ở khu vực
nông thôn), đặc biệt trong lao động thanh niên luôn ở mức cao trong những năm qua.
Theo quan niệm phổ biến nhất hiện nay, những người thất nghiệp là những
người không làm việc trong giai đoạn tham chiếu, hiện đang tìm việc và sẵn sàng làm
việc. Xét trên bình diện cả nước, thất nghiệp ở khu vực thành thị có xu hướng giảm,
đến năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị chỉ còn 4,7%. Tuy nhiên, tỷ lệ
thất nghiệp của lao động thanh niên ở khu vực thành thị tương đối cao, vẫn ở mức
trên dưới 10%. Đây là xu hướng chung phổ biến trên thị trường lao động Việt Nam
và hiện vẫn chưa được cải thiện nhiều.
Đồ thị 1.2. Quy mô lực lượng lao động thanh niên giai đoạn 1998-2008
Đơn vị: %
Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra LĐVL 1998-2005, điều tra thực
trạng VL và thất nghiệp 2006, 2007, điều tra biến động dân số, nguồn lao
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Vũ Thành Dương
13
Đại học KTQD Khoa Toán Kinh tế
động và KHH gia đình 2008
Từ năm 1998 đến nay, tuy tỷ lệ thất nghiệp của lao động thanh niên ở khu vực
thành thị có biến động tăng giảm nhưng không đáng kể, tỷ lệ này tăng cao nhất vào
năm 1999 (13,4%) sau đó có xu hướng biến động tăng giảm không đều qua các năm
và thấp nhất vào năm 2008 (10,1%), trong khi tỷ lệ thất nghiệp của lao động ở khu
vực thành thị trên toàn quốc chỉ chiếm 4,7% (năm 2008).
Hiện cả nước có hàng triệu thanh niên chưa có việc làm hoặc việc làm không ổn
định trong khi nền kinh tế chưa đạt tới tốc độ tăng trưởng phù hợp nhằm đáp ứng nhu
cầu việc làm, là sức ép đối với các chính sách an sinh xã hội của nước ta (ví dụ, trợ
cấp bảo hiểm thất nghiệp), làm giảm nguồn thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội
làm giảm lợi thế về nguồn nhân lực đang ở trong độ tuổi tràn đầy sức sống cả về thể

về việc làm cao hơn của các doanh nghiệp và xã hội trong khi chất lượng của lao
động thanh niên Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế.
Với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu, Việt Nam chủ trương đẩy
mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá, thực hiện quá trình đô thị hóa đã góp phần
quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông
thôn theo hướng phi nông nghiệp, tạo nhiều việc làm cho lao động thanh niên nông
thôn trong khu vực chính thức. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô
thị hoá cũng làm thu hẹp diện tích sử dụng đất nông nghiệp (theo báo cáo của Bộ Tài
nguyên và môi trường, trong giai đoạn 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã
thu hồi khoảng 366.440 ha, trong đó để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công
nghiệp là 39.556 ha, xây dựng hạ tầng là 136.175 ha,...chiếm 3,89% diện tích đất
nông nghiệp đang sử dụng) trong khi quy mô lao động nông thôn, trong đó có lao
động thanh niên tăng, dẫn đến tình trạng người lao động không có đất canh tác, năng
suất lao động chưa được cải thiện, thời gian nông nhàn tăng, một bộ phận thanh niên
nông thôn bị thiếu việc làm, một bộ phận có xu hướng rời nông thôn lên thành phố
kiếm sống với những nghề nặng nhọc, không cần có kỹ năng nghề nghiệp như khuân
vác, phụ xe, rửa xe máy, làm công nhân trong các khu chế xuất, khu công
nghiệp...việc làm không ổn định.
Do áp lực của nền kinh tế thị trường và nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, các
doanh nghiệp thường tuyển dụng lao động với yêu cầu ngày càng cao về trình độ
chuyên môn kỹ thuật, tay nghề và đặc biệt là kinh nghiệm (yếu tố đa phần thanh niên
thường thiếu) trong khi hệ thống giáo dục - đào tạo chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của
các doanh nghiệp, có tới 50% lao động thanh niên khi vào làm tại các doanh nghiệp
phải đào tạo lại trước khi làm việc.
Mặt khác, phần đông lao động thanh niên sau khi tốt nghiệp các trường cao
đẳng, đại học (thường tập trung ở khu vực thành thị) có xu hướng ở lại các thành phố
để tìm việc làm, chấp nhận việc làm không phù hợp với chuyên môn, lương thấp, các
điều kiện lao động không đảm bảo...Đây là sự lãng phí lớn đối với đất nước, hơn nữa
gây mất cân đối trong phát triển, phân bố kinh tế, lao động giữa các vùng và miền
khác nhau, làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị trong khi thiếu hụt trầm

cấp, các ngành, nhiều thanh niên chưa tiếp cận được với các chính sách, các điều
kiện, cơ hội để học nghề và giải quyết việc làm. Nhiều chương trình, dự án cho lao
động thanh niên được phê duyệt nhưng tiến độ triển khai chậm, chưa tạo ra sự gắn
kết trong việc thực hiện các chính sách về dạy nghề và tạo việc làm. Các chương
trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội giao cho thanh niên làm chủ chưa nhiều trong
khi những bất cập về cơ chế quản lý và tổ chức hoạt động cũng ảnh hưởng không nhỏ
tới hiệu quả thực hiện.
Mặt khác, tạo việc làm cho người lao động nói chung, lao động thanh niên nói
riêng là trách nhiệm của các cấp, các ngành, là kết quả của sự huy động tổng thể
nhiều nguồn lực cho nên hiện nay vẫn chưa có cơ chế, chính sách đặc thù riêng về tạo
Chuyên đề tốt nghiệp SV: Vũ Thành Dương
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status