ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG
LÊ THỊ THU THẢO
SỬ DỤNG WQI ĐỂ ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT
SÔNG CU ĐÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Đà Nẵng – Năm 2015
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG
LÊ THỊ THU THẢO
SỬ DỤNG WQI ĐỂ ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT
SÔNG CU ĐÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn: ThS. Trần Ngọc Sơn
Đà Nẵng – Năm 2015
LỜI CAM ÐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Ðà Nẵng, ngày 05 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Thu Thảo
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô Khoa Sinh - Môi trường,
Trường Ðại học Sư phạm – Ðại học Ðà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy Trần Ngọc Sơn đã
tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, dành nhiều thời gian trao đổi và định hướng cho tôi
1.5.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 15
1.6. ĐẶC ĐIỂM SÔNG CU ĐÊ 16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
19
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 19
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 19
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 19
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.3.1. Phương pháp hồi cứu số liệu 20
2.3.2. Phương pháp lấy mẫu, phân tích 20
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu 22
2.3.4. Các phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) 22
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÁC THÔNG SỐ LÝ, HÓA, SINH CỦA MÔI
TRƯỜNG NƯỚC MẶT SÔNG CU ĐÊ 26
3.1.1. Nhu cầu oxy hóa sinh học (BOD
5
) môi trường nước sông Cu Đê 28
3.1.2. Nhu cầu oxi hóa hóa học (COD) môi trường nước sông Cu Đê 29
3.1.3. Hàm lượng N-NH
4
môi trường nước sông Cu Đê 30
3.1.4. Hàm lượng P-PO
4
môi trường nước sông Cu Đê 31
3.1.5. Hàm lượng TSS môi trường nước sông Cu Đê 32
3.1.6. Sự biến động của oxi hòa tan (DO) 33
3.1.7. pH môi trường nước sông Cu Đê 33
3.1.8. Coliform môi trường nước sông Cu Đê 34
Chất lượng môi trường nước sông Cu Đê năm 2012 -
2013
17
2.1
Các phương pháp phân tích trong ph
òng thí nghi
ệm
20
2.2
Cách xây dựng đường chuẩn P-PO
4
22
2.3
Bảng quy định các giá trị q
i
, BP
i
23
2.4
Bảng quy định các giá trị BP
i
và q
i
đối với DO% bão
hòa
24
2.5
Bảng quy định các giá trị BP
i
và q
Hàm lượng N-NH
4
môi trường nước sông qua hai đợt
nghiên cứu
30
3.4
Hàm lượng P-PO
4
môi trường nước sông qua hai đợt
nghiên cứu
31
3.5
Hàm lượng TSS môi trường nước sông qua hai đợt
nghiên cứu
32
3.6
DO của môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu
33
3.7
pH môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu
34
3.8
Coliform môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu
35
3.9
Độ đục môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu
36
3.10
WQI
thông số
của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đ
ã góp ph
ần đáng kể cho nền kinh tế -
xã hội của thành phố, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với định hướng của
cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đ
ã
đ
ạt được, hiện nay thành phố Đà
Nẵng đang phải đối mặt với những vấn đề bức xúc về sự suy giảm chất lượng môi
trường sống. Một trong những vấn đề bức xúc là ô nhiễm nguồn nước ngọt mà đặc
biệt là sự ô nhiễm ở các hệ thống sông, dẫn đến những tác động tiêu cực đến chất
lượng cuộc sống của người dân [6], [15], [25], [24].
Sông Cu Đê là một trong hai con sông chính của thành phố Đà Nẵng, không
chỉ phục vụ cấp nước, tưới tiêu mà còn mang lại giá trị cảnh quan cho thành phố.
Hiện nay, với sự gia tăng dân số, nhiều khu đô thị mới được xây dựng, đặc biệt khu
công nghiệp (KCN) Hoà Khánh và KCN Liên Chiểu được mở rộng, sông Cu Ðê
đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức, nổi bật trong số đó là vấn đề chất
lượng môi trường nước sông. Do đó, việc đánh giá và quản lý chất lượng nước là
yêu cầu cấp thiết và đang được quan tâm [10], [24], [31].
Hiện nay đ
ã có nhi
ều phương pháp được sử dụng là công cụ đánh giá chất
lượng nước tại các môi trường thủy vực, trong đó phương pháp sử dụng chỉ số chất
lượng nước (WQI) là một trong những phương pháp được nghiên cứu và ứng dụng
rộng rãi [1], [29], [33], [42]. Đây là phương pháp đơn giản, dễ hiểu, có tính khái quát
cao, có thể được sử dụng cho mục đích đánh giá diễn biến chất lượng nước theo
không gian và thời gian, là nguồn thông tin phù hợp cho cộng đồng, cho những nhà
quản lý không phải chuyên gia về môi trường nước [8], [27].
Với những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng WQI để đánh giá
chất lượng nước sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng”.
nước trong quá trình sinh hoạt và sản xuất. Con người ngoài việc khai thác tài
nguyên thiên nhiên thì còn thải ra một lượng lớn chất thải bao gồm chất thải rắn, khí
thải và nước thải. Trong đó, lượng nước thải chủ yếu được thải ra từ các hoạt động
sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và giao thông vận tải ngày càng gia
tăng. Lượng nước thải này nếu không được xử lý một cách triệt để sẽ tác động rất
lớn đến chất lượng nguồn nước và c
ũng là m
ột trong những nguyên nhân gây ô
nhiễm nước nghiêm trọng [2], [7], [22].
Ở các nước phát triển, ước tính có khoảng 90% nước thải được thải trực tiếp
vào sông, hồ mà không qua bất kì biện pháp xử lý nào hoặc có biện pháp xử lý
nhưng không triệt để đ
ã gây ra nhi
ều ảnh hưởng đến môi trường nước.
Tại Mỹ, mỗi năm có 850.000.000 gallon nước thải do bị rò rỉ và hệ thống
cống thoát nước kết hợp không đồng bộ, đã gây ra ô nhiễm các nguồn nước sông,
hồ và vịnh ở Hoa Kỳ. Kết quả là sản lượng thủy sản tự nhiên, hệ sinh thái và cảnh
quan bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tại công ty
Aurul (Rumani) đ
ã th
ải ra 50 - 100 tấn xianua và kim loại nặng (như đồng) vào
dòng sông gần Baia Mare (thuộc vùng Đông - Bắc). Sự nhiễm độc này đ
ã khi
ến các
loài thuỷ sản ở đây chết hàng loạt, tổn hại đến hệ thực vật và làm bẩn nguồn nước
sạch, ảnh hưởng đến cuộc sống của 2,5 triệu người [47].
Theo nghiên cứu của Ezzat và cộng sự (2002) về chất lượng nước sông Nile
ở Ai Cập cho thấy chất lượng nước sông tại đây c
ũng đang trong t
ình tr
ũng đang
trong tình trạng tương tự. Theo kết quả nghiên cứu của Thares Srisatit và cộng sự
cho thấy tại Bangkok môi trường nước tại các khu công nghiệp đang trong t
ình
trạng báo động. Trong 30 mẫu phân tích thì có
đ
ến 27 mẫu cho thấy các chỉ tiêu
BOD
5
, COD, N tổng vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 4 - 6 lần, trong đó có một
số chỉ tiêu như Pb, As vượt TCCP từ 7 - 8 lần [4].
Theo kết quả điều tra của David và cộng sự về chất lượng nước mặt tại
Thượng Hải, Trung Quốc cho thấy nguồn nước tại đây có nồng độ Pb, Zn và Hg cao
hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 – 5 lần, nguyên nhân là do việc xả thải của các nhà
máy, xí nghiệp sản xuất ắc quy, luyện khoáng tại đây hoạt động nhưng không được
xử lý và quản lý chặt chẽ. Theo báo cáo của sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Tứ
Xuyên, thì chất lượng nước mặt tại một số khu vực gần các khu công nghiệp tại đây
đang bị ô nhiễm đáng báo động, hàm lượng Pb, Cu, Fe, N tổng, P tổng tại một số
khu vực đ
ã v
ư
ợt quá giới hạn cho phép vài chục lần, có nơi nguồn nước không còn
khả năng tự làm sạch và nhiều đoạn sông trở thành dòng sông chết [10].
Tại Indonexia, theo kết quả nghiên cứu của Jaume Bech, Charlotte
Poschenrieder, Juan Barcelos, Alejandro Lansac về chất lượng nước sinh hoạt cho
thấy trong nước thải sinh hoạt của vùng này chứa một lượng lớn các chất như N
tổng, P tổng vượt TCCP từ 3 - 4 lần, hàm lượng BOD
5
, COD khá cao, pH không ổn
5
nơi có dân cư đông đúc và nhiều KCN lớn đều bị ô nhiễm. Phần lớn lượng nước
thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m
3
mỗi ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải ra
các sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m
3
nhưng chỉ có 10%
được xử lý) đều không được xử lý, mà
đ
ổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các
con sông lớn tại vùng Châu Thổ sông Hồng và sông Mê Kông. Ngoài ra, nhiều nhà
máy và cơ sở sản xuất như các l
ò m
ổ và ngay bệnh viện (khoảng 7.000 m
3
mỗi
6
ngày, chỉ 30% là được xử lý) c
ũng không đư
ợc trang bị hệ thống xử lý n
ư
ớc thải.
Nhiều ao hồ và sông ngòi tại Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đáng lưu
ý là h
ệ thống hồ
trong công viên Yên Sở. Đây được coi là thùng chứa nước thải của Hà Nội với hơn
50% lượng nước thải của thành phố. Người dân trong khu vực này không có đủ
nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt và tưới tiêu. Điều kiện sống của họ c
ũng b
ị đe dọa
ũng đang
trong tình trạng báo động. Vào tháng 5 năm 2010, người dân 2 bên bờ sông Trà
Khúc, đoạn qua thành phố Quãng Ngãi phát hiện cá chết hàng loạt, nước sông bốc
mùi và chuyển màu. Nguyên nhân là do nhà máy đường Quãng Ngãi xả nước thải
không qua xử lý xuống sông. Kết quả là làm ô nhiễm cả một đoạn sông [5].
Tại khu vực phía Nam, nơi tập trung với khối lượng lớn các KCN, các cơ sở
sản xuất tình trạng ô nhiễm nước sông c
ũng r
ất nghiêm trọng, nhiều dòng sông
đ
ã
và đang kêu cứu, trong đó có nhiều đoạn trở thành dòng sông chết, gây thiệt hại rất
7
lớn về mặt kinh tế và sức khỏe của người dân.
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn – Chi cục bảo vệ môi trường
thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy chất lượng nước sông Sài Gòn
đ
ều vượt quá
TCCP. Cũng theo báo cáo này cho thấy chất lượng DO rất thấp chỉ đạt 2,8 – 4,7
mg/l, trong khi đó, TCCP là trên 6 mg/l, hàm lượng Colifom vượt TCCP gấp 220
lần. Và nguyên nhân chủ yếu gây ra hậu quả trên là do việc xả thải từ các hoạt động
của các nhà máy trên địa bàn [49].
1.3. TỔNG QUAN CHUNG VỀ WQI
1.3.1. Giới thiệu chung về WQI
WQI là một chỉ số tổ hợp được tính toán từ các thông số chất lượng nước xác
định thông qua một công thức toán học, dùng để mô tả định lượng về chất lượng
nước và được biểu diễn qua một thang điểm [1]. WQI là một phương tiện có khả
năng tập hợp một lượng lớn các số liệu thông tin về chất lượng nước, đơn giản hóa
các số liệu chất lượng nước, để cung cấp thông tin dưới dạng dễ hiểu, dễ sử dụng
cho các cơ quan quản lý tài nguyên n
, NO
3
-
, tổng N, PO
4
3-
, tổng P, BOD
5
, COD, TOC.
+ Các khía cạnh sức khỏe: Tổng Coliform, Fecal Coliform, Dư lượng thuốc
bảo vệ thực vật, các kim loại nặng.
+ Đặc tính vật lý: Nhiệt độ, pH, màu sắc.
+ Chất rắn lơ lửng: Độ đục, TSS.
- Bước 2: Chuyển đổi các thông số về cùng một thang đo
Các thông số thường có đơn vị khác nhau và có các khoảng giá trị khác nhau,
vì vậy để tập hợp được các thông số vào WQI ta phải chuyển các thông số về cùng
một thang đo. Bước này sẽ tạo ra một chỉ số phụ cho mỗi thông số. Chỉ số phụ có
thể được tạo ra bằng tỉ số giữa giá trị thông số và giá trị trong quy chuẩn.
- Bước 3: Trọng số
Trọng số được đưa ra khi ta cho rằng các thông số có tầm quan trọng khác
nhau đối với chất lượng nước.
- Bước 4: Tính toán WQI
Các phương pháp thường được sử dụng để tính toán WQI từ các chỉ số phụ:
Trung bình cộng, trung bình nhân hoặc giá trị lớn nhất [28].
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG WQI TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM
1.4.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng WQI trên thế giới
WQI là một chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước,
dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước
9
sang chỉ số phụ. Tuy nhiên các giá trị trọng số (wi) hoặc giản đồ tính chỉ số phụ
(qi) trong WQI - NSF chỉ thích hợp với điều kiện chất lượng nước của Mỹ [18].
Bên cạnh đó, WQI c
ũng đ
ư
ợc các nhà khoa học nghiên cứu và áp dụng.
Chẳng hạn như nghiên cứu của Ashok Lumb, Doug Halliwell, Tribeni Sharma
10
(2006) về áp dụng CCME WQI để đánh giá chất lượng nước tại lưu vực sông
Mackenzie, Canada. CCME WQI được sử dụng trong phương pháp là sự kết hợp ba
yếu tố: Phạm vi - số các thông số chất lượng nước không đạt chỉ tiêu (F1); Tần số -
số lần các chỉ tiêu không đạt (F2); Biên độ - mức độ mà các chỉ tiêu không đạt (F3).
Chỉ số từ 0 (kém nhất) đến 100 (tốt nhất) để phản ánh chất lượng nước. Kết quả cho
thấy chất lượng nước của lưu vực sông Mackenzie-Great Bear bị ảnh hưởng bởi độ
đục cao và kim loại [34].
Một nghiên cứu khác của Kavita Parmar và Vineeta Parmar (2006) về sử
dụng WQI để đánh giá chất lượng nước sông Subernarekha tại huyện Singhbhum.
Nghiên cứu đ
ã
đư
ợc thực hiện để phát triển WQI, sử dụng sáu thông số chất lượng
nước là oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), số có thể xảy nhất (MPN),
độ đục, tổng chất rắn hòa tan (TDS) và giá trị pH tại các địa điểm khác nhau dọc
theo lưu vực sông từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 11 năm 2007. Kết quả cho thấy
chất lượng nước của sông Subernarekha thay đổi từ tốt sang xấu. Các giá trị MPN
vượt quá giới hạn chấp nhận được ở hầu hết các trạm. Nguyên nhân chính của sự
suy giảm chất lượng nước là do sự thiếu vệ sinh thích hợp, con sông không được
bảo vệ, các hoạt động của con người cao và xả thải trực tiếp nước thải công nghiệp
[39].
Năm 2008, G. Srinivas Rao, G. Nageswararao đ
trên nồng độ DO, BOD
5
, COD, SS, pH và N-NH
3
. Kết quả cho thấy 8 trạm đầu tiên
được phân loại là cấp IV (ô nhiễm nặng) và 2 trạm cuối cùng được phân loại là loại
III (ô nhiễm). Giá trị WQI thấp nhất là 35,37 và giá trị cao nhất là 57,53. Nồng độ
của DO và BOD, COD và N-NH
3
thấp là do các hoạt động công nghiệp [37].
1.4.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng WQI ở Việt Nam
Tại Việt Nam đ
ã có nhi
ều nghiên cứu, đề xuất và áp dụng về bộ WQI khi
đánh giá chất lượng nước tại các thủy vực. Đáng chú ý nh
ư
đánh giá chất lượng
nước trên sông Sài Gòn tại Phú Cường, Bình Phước và Phú An trong thời gian từ
2003 đến 2007 của Lê Trình. Ngoài ra, chỉ số WQI còn
đư
ợc sử dụng để đánh giá
chất lượng nước tại một số sông ở Đồng Nai, sông Hồng…[3], [12], [13], [16], [20].
Mô hình WQI được đề xuất bởi Phạm Thị Minh Hạnh được chia làm 2 loại
là: WQI cơ bản IB và WQI tổng hợp IO. Trong đó, WQI cơ bản được tính cho 8
thông số chính (COD, BOD
5
, DO, độ đục, SS, N-NH
4
, P-PO
4
đi
ểm khảo sát đại diện trên các sông rạch chính đã được tính toán. Kết quả
cho th
ấy
không có điểm nào ở thành phố Hồ Chí Minh đạt loại I (rất tốt - ô nhiễm nhẹ), chỉ
có m
ột số điểm trên sông Sài Gòn, Đồng Nai và một số sông ở Cần Giờ đ
ạt loại II
(t
ốt, ô nhiễm nhẹ)
. Ph
ần lớ
n các đi
ểm tr
ên sông Đồng Nai
, Sài Gòn và các sông
ở
C
ần Giờ chỉ đạt loại III (
trung bình, ô nhi
ễm trung bình)
, các sông Ch
ợ Đệm, Cần
Giu
ộc, k
ênh An Hạ, Thầy Cai, Rạch
Tra. Các sông r
ạch ở B
ình Chánh, Nhà Bè,
Hóc Môn ch
đợt (tháng 3 và tháng 8/2010), đo đạc thêm các thông số độ đục, nhiệt độ để phục
vụ cho việc tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI). Kết quả cho thấy chất lượng
nước sông tại 15 vị trí quan trắc vào 2 đợt nhìn chung t
ương đ
ối tốt, chỉ xảy ra ô
nhiễm cục bộ tại một số vị trí bởi các chỉ tiêu như Coliform, N-NH
4
, P-PO
4
. Kết quả
tính toán WQI theo Quyết định số 879/ QĐ_TCMT áp dụng cho sông Hồng còn có
những hạn chế như: vào mùa l
ũ lư
ợng phù sa tương đối lớn nên hàm lượng TSS và
độ đục c
ũng r
ất cao, khi đó WQI sẽ không phản ánh được mức độ ô nhiễm nước
sông, nước sông Hồng được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau nên mỗi thông
13
số ô nhiễm sẽ có mức độ quan trọng khác nhau [20].
Tại Đà Lạt, nghiên cứu ứng dụng WQI để đánh giá hiện trạng chất lượng
môi trường nước mặt do Phạm Thế Anh và Nguyễn Văn Huy (2013) thực hiện. Từ
kết quả phân tích, khảo sát và đánh giá chỉ số chất lượng nước mặt tại một số hồ và
suối lớn của thành phố Đà Lạt, nhìn chung các hồ và suối chứa nước trên địa bàn
thành phố Đà Lạt đều bị ô nhiễm, nặng nhất là nước Hồ Xuân Hương [3].
Hiện nay, để thống nhất cách tính toán WQI, tháng 07 năm 2011, Tổng cục
Môi trường đ
ã chính th
ức ban hành Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật tính toán chỉ số chất
lượng nước theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 01 tháng 07 năm 2011 của
cảng nước sâu Liên Chiểu và ga đường sắt Bắc Nam sẽ được xây dựng [10].
b. Khí hậu
Khí hậu là nhiệt đới gió mùa điển hình, nền nhiệt độ cao và ít biến động, chế
độ ánh sáng và mưa ẩm phong phú. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 25
0
C, mùa hè
trung bình là 28-30
0
C, mùa đông là 12
0
C, độ ẩm tương đối cao trung bình 82%,
lượng mưa trung bình là 2066 mm, giờ nắng trung bình 2150 h/n
ăm
.
Một năm có một mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến
tháng 12. Mùa mưa và thời kỳ đầu mùa khô là thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông
Bắc. Gió mùa Đông Bắc tràn về thường làm cho nhiệt độ trung bình ngày giảm từ 2
đến 5
0
C. Nhiệt độ trung bình ngày xuống dưới 21
0
C.
Từ giữa mùa khô thường có hoạt động của gió mùa Tây Nam làm cho thời
tiết Đà Nẵng khô hanh, nhiệt độ cao nhất trong ngày trên 35
0
C, độ ẩm không khí
xuống dưới 55%, nước bốc hơi nhiều, độ mặn thường xâm nhập sâu vào hạ lưu các
sông.
Trong suốt 12 tháng đều có khả năng có b
ão ho
ngu
ồn có ý
ngh
ĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Đà Nẵng. Đất đai có nguồn gốc
ch
ủ yế
u đá bi
ến chất, đất đỏ vàng
…phát triển tr
ên các đá mẹ như mắc
-ma, gra-
15
phit…Đ
ịa hình đất đai của vùng này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, nông
nghi
ệp và
du l
ịch
.
Vùng trung du: Ch
ủ yếu là đồ
i núi th
ấp có độ cao trung bình
t
ừ 50 đến 100
m, xen kẽ là những cánh đồng hẹp, bao gồm các xã Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà
Sơn, Hoà Nhơn v
ới diện tích 11.170 ha, chi
ếm 15,74 % diện tích to
àn huyện
nh
ững ng
ày mưa lũ lớn
.
Đ
ịa hình đa dạng của Hoà Vang cùng với kết cấu đất vững chắc thuận lợi
cho b
ố t
rí các công trình h
ạ tầng kỹ thuật, tạo cho huyện tiềm năng phát triển một
n
ền kinh tế với thế mạnh về nông lâm nghiệp và du lịch nhưng đồng thời cũng có
nhi
ều khó khăn,
thách th
ức như hạn hán, lũ lụt…
c
ần
ph
ải giải quyết.
C
ần phải có
quy ho
ạch sử dụng đất hợp lý và phải tính đến những tác động tích cực cũng như
tiêu c
ực của quá trình khai thác sử dụng nhằm đảm bảo trạng thái cân bằng về địa
hình, b
ảo vệ môi trường sinh thái
.
Địa hình ở quận Liên Chiểu thì tương đối phức tạp và đa dạng, vừa có đồng
, độ dốc bình quân 26,6%, chiều rộng
bình quân 12,8km, tổng lượng nước bình quân hằng năm vào khoảng 0,5 tỉ m
3
.
Thượng nguồn sông Cu Đê có các sông suối nhỏ ngoằn nghèo và đổi hướng liên
tục theo các khe núi. Sau khi tiếp cận với vùng thấp chảy chung theo hướng Tây -
Đông rồi đổ ra vịnh Đà Nẵng [17].
Thượng nguồn sông Cu Đê có hai phụ lưu, bao gồm sông Bắc và sông Nam.
Phía bên trái sông là phụ lưu số 1 gọi là sông Bắc: Bắt nguồn từ độ cao khoảng
800m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đổ vào sông Cu Đê, có diện tích
khoảng 143km
2
. Phụ lưu số 2 nằm bên phải sông gọi là sông Nam, nhánh này bắt
nguồn từ độ cao 500m, đổ vào sông Cu Đê có diện tích khoảng 45km
2
[17].
Dòng chảy hằng năm ở sông Cu Đê chủ yếu phân bố trong mùa mưa (tháng
9-12), mùa khô dòng chảy nhỏ, nên thủy triều ảnh hưởng rất lớn. Lượng nước sông
trong mùa khô chủ yếu là nước biển biến động theo chế độ bán nhật triều không đều
được thể hiện trong bảng 1.1.