BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP HCM
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
TIỂU LUẬN MÔN THỰC PHẨM CHỨC NĂNG
Đề tài: ĐẬU NÀNH VÀ SỨC KHỎE
GVHD: TRẦN THỊ MINH HÀ
NHÓM: 8
BUỔI HỌC: THỨ 3, TIẾT 1-2
DANH SÁCH NHÓM
STT Họ và tên MSSV
1 NGUYỄN THỊ DIỆU HIỀN 2005120248
2 CAO THỊ ĐỨC 2005120263
3 LÊ ĐẶNG THANH HƯƠNG 2005120025
4 TRẦN CÔNG THÀNH 2005120076
TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2014
LỜI NÓI ĐẦU
Đậu nành là loại cây trồng phổ biến trên toàn thế giới. Các sản phẩm thực
phẩm từ đậu nành được biết đến bởi giá trị dinh dưỡng và đặc tính sinh học cao. Tại
Việt Nam đậu nành được trồng nhiều ở vùng núi và trung du phía Bắc, chiếm hơn
40% diện tích đậu nành cả nước. Đậu nành có mặt trong bữa ăn hằng ngày của con
người thông qua việc chế biến thành các thực phẩm quen thuộc như: sữa, đậu hủ,
bột đậu nành, tương, chao… hay có thể bổ sung vào các loại thực phẩm khác để làm
tăng giá trị dinh dưỡng.
Với trào lưu quay về với thực phẩm tự nhiên, lành tính, đậu nành trở thành
thực phẩm vàng của thế kỷ 21, đang dẫn đầu xu hướng tiêu dùng xanh toàn cầu nhờ
thành phần dưỡng chất đa lượng quý báu như đạm, axít béo không no, hơn 30 loại
vitamin, khoáng chất khác… Trong thời kỳ sức khỏe được đưa lên hàng đầu, đậu
nành đã và đang được mở rộng sang phạm vi thực phẩm chức năng, dược phẩm. Với
khả năng ngăn ngừa và trị liệu bệnh tật, đậu nành có tác dụng giảm nguy cơ các
bệnh liên quan đến tim mạch, ngăn cản sự phát triển các mầm ung thư, ngăn ngừa
bệnh thận…Có thể nói đậu nành là loại thực phẩm quan trọng trong cuộc sống con
14
5.1.1.Protease inhibitors 14
5.1.2.Phytates 16
5.1.3.Phytosterols 17
5.1.4.Saponins 18
5.1.5.Phenolic acids 18
5.1.6.Lecithin 18
5.1.7.Omega-3 fatty acids: 19
5.1.8.Isoflavones (phytoestrogens): 20
5.2.CÔNG DỤNG Y HỌC CỦA ĐẬU NÀNH
22
5.2.1.Đậu nành và bệnh tim mạch: 22
5.2.4.Đậu nành và bệnh thận 24
5.2.5.Đậu nành và ảnh hưởng sinh lý của phụ nữ 24
6.CÁC LOẠI THỰC PHẨM TỪ ĐẬU NÀNH
25
6.1. Sữa đậu nành 25
6.2.Tương đậu nành 26
6.3.Đậu phụ 26
6.4.Tempêh 27
6.5.Miso 27
6.6.Natto 27
7. MỘT SỐ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG TỪ ĐẬU NÀNH
27
8.LIỀU LƯỢNG KHUYẾN CÁO SỬ DỤNG ĐẬU NÀNH
u nành là cây thân th
ả
o. Thân cây m
ả
nh, cao t
ừ
0,8 m
đ
ế
n 0,9 m, có lông cành h
ư
ớng lên phía trên. Thân cây đa số mọc đ
ứ
ng, một số ít
thuộc lo
ạ
i n
ử
a đ
ứ
ng. Lá mọc cách, có ba lá chét hình trái xoan, mũi lá g
ầ
n nhọn
không đ
ề
u ở gốc. Hoa có màu tr
ắ
ng hay tím x
ế
p thành chùm ở nách cành. Qu
5 đ
ế
n 35 g.
Đ
ậ
u nành đ
ư
ợc trồng khá phổ bi
ế
n, đ
ư
ợc s
ử
dụng đ
ể
ch
ế
bi
ế
n th
ứ
c
ă
n
cho ng
ư
ời và gia xúc. Các s
ả
n ph
ẩ
D
ự
a vào s
ự
đa d
ạ
ng v
ề
hình thái của h
ạ
t, Fukuda (1933) và nhi
ề
u nhà khoa
học đã thống nh
ấ
t r
ằ
ng cây đ
ậ
u nành có nguồn gốc t
ừ
vùng Mãn Châu (Trung
Quốc) xu
ấ
t phát t
ừ
một lo
ạ
i đ
ậ
ng 200 n
ă
m
tr
ư
ớc công nguyên, đ
ậ
u nành đ
ư
ợc đ
ư
a vào Tri
ề
u Tiên và sau đó phát tri
ể
n sang
Nh
ậ
t đ
ế
n gi
ữ
a th
ế
kỷ 17 đ
ậ
u nành đ
ư
ợc nhà th
ự
ậ
u nành phát tri
ể
n m
ạ
nh ở Mỹ, Brazin
và Canada. Ở n
ư
ớc ta đ
ậ
u nành có l
ị
ch s
ử
phát tri
ể
n lâu đời nh
ư
ng tr
ả
i qua thời
gian dài cây đ
ậ
u nành v
ẫ
n chi
ế
m một v
ị
trí r
ớc và ngô. Đ
ậ
u nành đ
ư
ợc trồng nhi
ề
u nh
ấ
t ở Châu Mỹ trên 70%, ti
ế
p
đ
ế
n là Châu Á. Ở n
ư
ớc ta hi
ệ
n nay có 6 vùng s
ả
n xu
ấ
t đ
ậ
u nành: vùng Đông
Nam Bộ 26,2%, mi
ề
n núi B
ắ
c Bộ 24,7%, đồng b
ằ
u hình d
ạ
ng nh
ư
tròn, d
ẹ
p…và màu s
ắ
c khác nhau nh
ư
h
ạ
t
màu vàng, đỏ, xanh lục, nâu đen…. Trong
đó đ
ậ
u nành có màu vàng là lo
ạ
i tốt nh
ấ
t
nên đ
ư
ợc trồng và s
ử
dụng nhi
ề
u nh
ấ
t. Ở
ớc h
ạ
t th
ư
ờng chia làm 3 lo
ạ
i: to, trung bình và nhỏ. Lo
ạ
i
to th
ư
ờng t
ỉ
l
ệ
vỏ th
ấ
p ch
ỉ
kho
ả
ng 6%, lo
ạ
i nhỏ t
ỉ
l
ệ
vỏ chi
ế
m 9.5%.
ậ
u nành: h
ạ
t đ
ậ
u nành ph
ả
i phơi th
ậ
t khô, c
ấ
t gi
ữ
ở trong
đi
ề
u ki
ệ
n khô ráo và độ
ẩ
m của không khí càng th
ấ
p càng tốt.
3. Thành phần hóa học của đậu nành:
Cây đậu nành là loại cây trồng đã có từ lâu đời, được xem là một loại "cây kì
lạ", "vàng mọc từ đất", "cây đỗ thần", "cây thay thịt". Sở dĩ đậu nành được người ta
đánh giá cao như vậy chủ yếu là do giá trị kinh tế của nó. Hạt đậu nành có thành
phần dinh dưỡng rất cao, giàu protein, lipid, vitamin và muối khoáng. Đậu nành là
loại hạt mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protid và lipid. Protein đậu
nành có phẩm chất tốt nhất trong số các protein thực vật bởi vì nó có đầy đủ các
Threonine 4,3
Tryptophan 1,3
Valine 5,4
Histidine 2,6
Tuy nhiên protein đậu nành còn chứa hai thành phần không mong muốn:
8
+ Chất ức chế trypsine (trypsine inhibitor): ức chế enzyme trypsine tiêu hóa
protein của động vật nên cần được loại bỏ trong quá trình chế biến.
+ Hemaglutinine là protein có khả năng kết hợp với hemoglobine nên làm giảm
hoạt tính của hemoglobin, làm cho hồng cầu bị vón và giảm hấp thu dưỡng
khí.
3.2. Carbohydrate
Carbohydrate trong thành phần của đậu nành chiếm khoảng 35%, phần lớn là
cellulose, hemicellulose, và một lượng nhỏ lignin.
Bảng 3: Thành phần glucid trong đậu nành
Thành phần Tinh bột Cellulose Hemicellulose Stachiose Raffinose
Hàm lượng 1.5 4.0 15.4 3.8 1.1
3.3. Lipid
Trong hạt đậu nành hàm lượng lipid chiếm khoảng 20% khối lượng hạt. Lipid
có nhiều ở nhân đậu nành. Trong nhóm lipid của đậu nành có 2 thành phần chính là
Glyceride và Lecithin. Glyceride đậu nành chứa nhiều acid béo không no chiếm
60÷70% lượng acid béo của hạt nên dầu đậu nành được coi là thực phẩm có giá trị
sinh học cao. Hàm lượng acid oleic và acid linoleic khoảng 11.255g/100g đậu
(chiếm khoảng 34% khối lượng khô).
Bảng 4: Các acid béo không thay thế
Dạng Các acid béo Giá trị
Không No
Acid linoleic 52-65%
Acid linolenoic 2-3%
Acid oleic 25-36%
Hàm lượng
(mg/kg)
Thành
phần
Hàm lượng
(mg/kg)
Thiamine
11.0÷11.7
Inoxiton 1.9
Riboflavine
3.4÷3.6
Axit folic 2300
Niacin
21.4÷23.0
Vitamin A 0.18÷2.43
Pridoxin
7.1÷12.0
Vitamin E 1.4
Biotin
0.8
Vitamin K 1.9
Pantothenic
13.0– 21.5
3.5. Enzyme
Enzyme là chất xúc tác sinh học, làm tăng quá trình biến đổi trong cơ thể,
gồm các enzyme như sau:
Bảng 1: Các enzyme trong đậu nành
Enzyme Công dụng
Urease Chống lại sự hấp thụ các chất đạm qua hàng ruột do
11
vật vừa khó hấp thu, vửa để lại những hợp chất cặn xấu cho cơ thể, làm suy thoái
nhanh và gây ra nhiều chứng bệnh nan y. Ngược lại, protein đậu nành có lợi cho cơ
12
thể, không để lại những hợp chất gây bệnh lại có đặc tính đặc biệt về khả năng kết
hợp với các prorein từ ngũ cốc, ở một mức độ nào đó, bổ sung cho nhau để tạo ra
nhiều loại dưỡng chất tương ứng với nguồn gốc từ động vật như protein trong trứng,
cá và nhiều loại khác.
Chẳng hạn khi so sánh thành phần dinh dưỡng của sữa đậu thành có nhiều
điểm tương tự với sữa bò. Sữa đậu nành có lượng protein cao gần bằng sữa bò,
nhưng nhiều calcium hơn sữa bò. Sữa đậu nành có ưu điểm là không có lactose, có
thể thay thế sữa bò cho những người bị dễ bị đau bụng do lactose. Sữa đậu nành
cũng chứa ít chất béo bão hòa hơn sữa bò, có thể có lợi cho tim mạch hơn.
Do đó, protein đậu nành được dùng thay thế protein động vật, làm giảm
những khiếm khuyết mà protein động vật gây ra. Đồng thời nhờ tính kết hợp, cung
cấp cho cơ thề nhiều hợp chất phong phú đáp ứng quá trình trao đổi chất trong cơ
thể.
Bảng 7: Thành phần các acid amin không thay thế trong thực phẩm
Loại acid
amine
Đậu
nành
Trứng Thịt bò Sữa bò Gạo Giá trị đề nghị bởi
FAO-OMS
Leucine 7.84 8.32 8.00 10.24 8.26 4.8
Isoleucine 4.48 5.60 5.12 5.60 3.84 6.4
Lysine 6.40 6.24 2.12 8.16 3.68 4.2
Pheninalanine 4.96 5.12 4.48 5.44 4.80 2.8
Threonine 3.84 5.12 4.64 4.96 3.36 2.8
Trytophan 1.28 1.76 1.21 1.44 1.28 1.4
Valine 4.80 7.52 5.28 7.36 5.76 4.2
ng
ứ
c ch
ế
trypsin.
+ Bowman-Birk (BB) inhibitor: có kh
ả
n
ă
ng
ứ
c ch
ế
trypsin và chymotrypsin.
Trypsin inhibitor làm ngăn cản hoạt động của trypsin và các enzymes khác
cần cho hấp thu protein, làm thiếu hụt chất đạm nghiêm trọng có thể gây viêm tụy.
Các ch
ấ
t
ứ
c ch
ế
trypsin d
ễ
dàng đ
ư
ợc phá huỷ khi x
ử
lý nhi
ệ
14
Các nghiên c
ứ
u y học ch
ứ
ng minh r
ằ
ng Bowman-Birk inhibitor (BBI) có
kh
ả
n
ă
ng ngăn ngừa sự tác động của một số gene di truyền gây nên chứng ung thư.
Nó cũng bảo vệ các tế bào cơ thể không cho hư hại gây nên bởi những môi trường
sống xung quanh như tia nắng mặt trời và các chất ô nhiễm trong không khí. Tiếp
theo sau đó, nhiều khoa học gia khác đã khảo sát và thử nghiệm chất protease
inhibitors đậu nành trong phòng thí nghiệm và thấy rằng nó có tác dụng chống lại sự
phát triển mầm ung thư kết tràng, ung thư phổi, ung thư pancreas, và ung thư miệng.
Năm 1987, Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute) đã
nhìn nhận vai trò của protease inhibitors như là một loại thuốc chữa bệnh ung thư.
Theo báo cáo kết quả tường trình tại hội nghị khoa học thế giới về vai trò của
đậu nành trong việc phòng bệnh và trị bệnh, tổ chức tại Brussells, Belgium ngày 15-
18 tháng 09 năm 1996, thì cả hai dạng tinh chế PBBI (Purified BBI) và cô đặc BBIC
(BBI Concentrate) đã chế ngự được sự phát triển tiến trình ung thư miệng, vú, ruột
già, gan, phổi, và thực quản, cả nơi các tế bào trong ống thử nghiệm lẫn nơi các con
chuột bạch và chuột đồng. Họ cho biết PBBI và BBIC không có tác hại ở liều lượng
dùng để chống lại ung thư. Hiện nay chất này đã được dùng trong con người ở vài
trung tâm nghiên cứu và kết quả sơ bộ rất là khả quan.
BBIC đã được thẩm định là loại thuốc mới bởi cơ quan FDA vào năm 1992.
Tại Trường đại học California, Irvine, BBIC đã được áp dụng kể từ đầu năm
ch
ấ
t chống oxi hóa.
Giống như protease inhibitors, phytate có một lịch sử lâu dài không được thừa
nhận là một chất dinh dưỡng và xem nó như là một chất hóa học có tác dụng gắn kết
chất calcium và chất sắt, kẽm trong ruột, ngăn cản sự hấp thu chúng.
Bởi vì đậu nành rất giầu chất phytate, nên trước đây, các nhà khoa học cố tìm
cách làm ra một loại đậu nành có chứa hàm lượng phytate thấp, nhưng kết quả lại
đổi khác. Họ đã tìm thấy phytate không những có tác dụng ngăn ngừa mầm ung thư
mà còn có khả năng ngăn ngừa bệnh tim mạch.
Hai nhà nghiên cứu khoa học là Drs. E. Graf và J.W. Eaton, đã cho biết rằng
những thực phẩm giàu chất phytate cũng thường có nhiều chất xơ và những thực
phẩm này bảo vệ chúng ta khỏi bị bệnh ung thư kết tràng không những vì chất xơ
mà còn vì phytate. Kết quả trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng phytate đã liên
tiếp ngăn cản không cho bệnh ung thư kết tràng phát triển và ngay cả ngăn cản
không cho phát sinh mầm ung thư vú. Ðiều này cũng dễ hiểu vì phytate có tác dụng
ngăn cản sự hấp thụ chất sắt trong ruột.
Trong cơ thể, các gốc tự do luôn luôn tấn công các tế bào, kể cả DNA. Chúng
được xem là nguyên nhân phát sinh và phát triển không những bệnh ung thư mà còn
bệnh tiểu đường và bệnh sưng khớp xương arthritis. Chất sắt sản sinh ra các gốc tự
do, nhưng khi có sự hiện diện của phytate, chất sắt này sẽ bị hủy diệt khả năng sản
16
sinh và vì thế phytate hành xử giống như chất chống oxi hóa tương tự như vitamin C
và beta-carotene.
Sau nhiều năm lưu ý người dân rằng phytate có thể dẫn đến tình trạng thiếu
chất sắt trong cơ thể vì nó ngăn cản sự hấp thụ chúng, hiện nay các nhà khoa học đã
khám phá ra rằng phytate bảo vệ chúng ta khỏi nạn có quá nhiều chất sắt. Lượng sắt
dư cũng là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng nguy hại đến chứng bệnh nhồi máu cơ
tim.
Ngoài việc phòng ngừa các gốc tự do, ngăn cản sự hình thành mầm ung thư
có cùng c
ấ
u trúc với cholesterol. Và stanol chi
ế
m kho
ả
ng 2% trong tổng số
phytosterol của đ
ậ
u nành.
Không giống như cholesterol, phytosterol có tác dụng ngăn ngừa các bệnh về
tim mạch qua việc giành chỗ thẩm thấu qua ruột của cholesterol để vào máu. Do đó,
cholesterol không vào máu được mà phải bài tiết ra ngoài, kết quả là lượng
cholesterol trong máu bị giảm xuống.
Nhiều nghiên cứu khoa học đã cho thấy rằng, phytosterol đã làm giảm lượng
cholesterol trong máu, tuy nhiên tác dụng thay đổi tùy từng cá nhân. Trong một
17
nghiên cứu khác, lượng cholesterol của một người giảm 12% và một người khác
giảm 40%.
Cơ thể chúng ta không hấp thụ dễ dàng phytosterol, vì thế nó được đẩy ra
ngoài qua đường ruột. Điều này đã giúp kết tràng khỏi bị tác dụng của muối mật.
Trong phòng thử nghiệm, phytosterol đã giảm độ phát triển các mụn ung thư kết
tràng đến 50 phần trăm và chống lại ung thư da.
Những nhóm dân số tiêu thụ nhiều thực phẩm đậu nành như Nhật Bản, những
người ăn chay, và Giáo Hội Cơ Ðốc Phục Lâm Hoa Kỳ đã có tỷ lệ thấp về bệnh ung
thư kết tràng. Cũng nên biết người Tây phương tiêu thụ 80 mg phytosterol một
ngày, trong khi đó người Nhật Bản tiêu thụ khoảng 400 mg một ngày.
5.1.4. Saponins
Giống như phytate, saponins hành xử như chất chống oxi hóa để bảo vệ tế
bào cơ thể chúng ta khỏi bị hư hại do tác dụng các gốc tự do. Nó cũng còn có khả
5.1.7. Omega-3 fatty acids:
Các acid béo thuộc nhóm omega-3 là loại chất béo không bão hòa, có vai
trò quan trọng trong quá trình phát tri
ể
n của trí não. Nó tham gia vào ho
ạ
t động
của các cơ quan trong cơ th
ể
, tham gia vào s
ự
phát tri
ể
n của mô và t
ế
bào, tham
gia vào quá trình trao đổi ch
ấ
t béo, làm gi
ả
m l
ư
ợng lipoprotein LDL có h
ạ
i và
t
ă
ng l
ư
ợng lipoprotein HDL có lợi cho cơ th
mầm lá trong hạt đậu và gồm bốn cấu tạo hóa học là arginine, diadzein, genistein và
glycine. Lượng isoflavon nhiều hay ít còn tùy theo giống đậu, điều kiện trồng trọt và
mùa gặt hái. Khi đưa vào cơ thể, chất này được chuyển hóa trong ruột, di chuyển
trong huyết tương và sau đó được thải ra ngoài qua thận.
Khả năng trị liệu của isoflavon đậu nành được biết tới là do kết quả của
quan sát. Hiện nay các nhà khoa học đã tìm thấy ba chất genistein, daidzein và
20
glycitein trong isoflavone đậu nành mà genistein là tâm điểm nghiên cứu.
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, Genistein có những lợi ích dưới đây:
+ Cân bằng hàm lượng estrogen cần thiết trong cơ thể.
+ Ngăn ngừa sự phát triển các tế bào ung thư.
+ Genistein cũng có khả năng ngăn ngừa các bệnh nhồi máu cơ tim, tai biến
mạch máu não và sự phát triển tiến trình xơ cứng mạch máu. Genistein là một thảo
dược có khả năng chống lại bệnh sưng khớp xương và các chứng bệnh liên hệ đến
tình trạng đau nhức ở các khớp.
Ngoài Genistein ra một chất khác của Isoflavone đậu nành là chất Daidzein
cũng có những lợi ích như Genistein:
+ Có khả năng ngăn ngừa sự hao mòn xương và sự phát triển chứng bệnh xốp
xương.
+ Khả năng chống oxi hóa và chống ung thư.
+ Biến đổi các tế bào ung thư máu và chuyển hoán chúng về trạng thái bình
thường.
Trung bình mỗi ngày cơ thể cần khoảng 50mg isoflavon. Số lượng này có
trong 30g đậu nành rang, hoặc 1 ly sữa đậu nành, hoặc ½ miếng đậu phụ, hoặc ½ ly
bột đậu. Các sản phẩm khác chế biến từ đậu nành cũng có một lượng nhỏ isoflavon,
nhưng dầu đậu nành thì hầu như không có. Trong việc nấu nướng thường lệ,
isoflavon không bị tiêu hủy vì nó khá bền vững.
Tính trung bình mỗi người Mỹ tiêu thụ khoảng 3 gram protein đậu nành
trong một ngày. Điều này thật trái ngược so với vùng Đông Nam Á, nơi mà đậu
nành đã trở thành một thức ăn thông dụng từ hơn bốn ngàn năm nay. Tại Nhật
gãy. Nó cũng còn trợ giúp cho tế bào xương hình thành vững vàng.
Chất Isoflavones trong đậu nành ngăn chận được sự thoái hóa của xương và
làm cho xương luôn luôn khỏe mạnh.
Những nghiên cứu gần đây cho biết những phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, mỗi
ngày dùng bột hay sữa đậu nành thường xuyên thì mật độ khoáng chất trong xương
vẫn duy trì ở mức độ bình thường.
5.2.3. Đậu nành có thể phòng chống được bệnh ung thư
Ung thư là mối đe dọa lớn của nhân loại mà nguyên nhân vẫn chưa được hoàn
toàn sáng tỏ. Chế độ dinh dưỡng cũng có dự phần, và đậu nành được nhiều nghiên
cứu cho là có khả năng làm giảm nguy cơ gây vài loại ung thư có liên hệ tới kích
thích tố như ung thư vú, tử cung, tuyến tiền liệt.
Trong bệnh ung thư, tế bào bất thường tăng trưởng và tăng sinh không bình
thườn, xâm lấn, tiêu hủy tế bào lành mạnh, rồi lan nhanh ra khắp cơ thể. Các tế bào
bất thường này xuất hiện dưới tác dụng của những tác nhân gây ung thư mà thực
phẩm là một trong những nguồn cung cấp. Chất nitrit trong chế biến thịt, aflatoxin
trong đậu phộng, một vài hóa chất trong thuốc trừ sâu bọ, mỡ béo, saccharin, cà
phê
Nhưng thực phẩm cũng chứa nhiều chất chống ung thư mà đậu nành nằm
trong nhóm này. Đó là nhờ estrogen thực vật choán chỗ không cho estrogen tự nhiên
trong máu bám vào các tế bào của vú, tử cung để gây ung thư
Genistein trong đậu nành làm giảm nguy cơ ung thư bằng cách giảm sự tổn
thương tế bào, và chất ức chế Protease BowmanBirk có trong Protein đậu nành cũng
có thể ức chế sự khởi phát ung thư. Chất Daidzein trong Protein đậu nành, nếu được
sử dụng với liều cao sẽ có tác dụng kích thích hệ thống miễn dịch, để phá hủy
những chất có hại cho cơ thể, do đó có tác động lên việc giảm nguy cơ bị ung thư.
23
Những hợp chất này còn có khả năng ngăn chặn sự cung cấp máu để nuôi dưỡng
một loại tế bào đặc biệt có khuynh hướng hình thành các bướu ung thư.
5.2.4. Đậu nành và bệnh thận
Quả thận tốt rất cần thiết để làm nhiệm vụ thải các chất bã do chuyển hóa
Ở Việt Nam cũng như các nước khác trong vùng đã dùng đậu nành để chế
biến ra nhiều loại thức ăn khác nhau từ hàng ngàn năm nay, mà phổ thông nhất là
đậu hũ hay còn gọi là đậu phụ, nước tương, sữa, chao… là những món ăn vừa giầu
dinh dưỡng, vừa ngon lại vừa rẻ.
Ngoài ra, còn nhiều loại thực phẩm khác được chế biến từ đậu nành, không
chỉ ở Việt Nam mà còn là ở các nước Á Đông khác như tempeh, miso…
Ở Hoa Kỳ và các nước Tây phương, đậu nành cũng được biến chế ra nhiều
món thực phẩm khác nhau cho phù hợp với lề lối ăn uống của họ như soy-burgers,
soy-hot dog, soy-bacon…
6.1. Sữa đậu nành
Là thức uống phổ biến ở Việt
Nam và Trung Hoa. Ngày nay sữa
đậu nành cũng được dùng làm thực
phẩm cho trẻ em khắp thế
giới.Người Việt có rất nhiều món ăn
được chế biến từ đậu nành. Làm đậu
phụ cũng khá đơn giản. Ngâm đậu
cho mềm, xay nhỏ thành sữa, nấu
chín để chất đạm đặc lại rồi cho vào
khuôn ép ráo nước.
25
Hình 3: Sữa đậu nành Vinasoy