Chương 6: QUẢN LÝ VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
_________________
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: QUẢN LÝ CÔNG
Đề tài: QUẢN LÝ VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG
Lớp: CH Quản lý kinh tế 2 - Khóa 19
Nhóm: 06
1. Nguyễn Trung Thành (1975)
2. Lê Hoàng Ánh Dương
3. Nguyễn Hữu Bảo
4. Hoàng Mạnh Hùng (1981)
5. Nguyễn Văn Thanh
6. Nguyễn Đức Phương
7. Nguyễn Thu Hiền
Hà Nội, tháng 11/2011
I. Khái niệm về dịch vụ công
1. Khái niệm về dịch vụ
Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được
gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động
và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Đã có nhiều khái
niệm, định nghĩa về dịch vụ nhưng để có hình dung về dịch vụ trong chuyên đề này,
chúng tôi tham khảo một số khái niệm dịch vụ cơ bản.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu
cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [Từ điển Tiếng Việt, 2004,
NXB Đà Nẵng, tr256]
Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như
hàng hoá nhưng phi vật chất [Từ điển Wikipedia]. Theo quan điểm kinh tế học, bản
chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang,
yếu của dịch vụ công là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng,
còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm. Từ điển
Petit Larousse của Pháp xuất bản năm 1992 đã định nghĩa: “dịch vụ công là hoạt động
vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”.
Khái niệm và phạm vi dịch vụ công có sự biến đổi tùy thuộc vào bối cảnh của
mỗi quốc gia. Chẳng hạn, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch vụ công,
từ quốc phòng, an ninh, pháp chế, đến các chính sách kinh tế- xã hội (tạo việc làm,
quy hoạch, bảo vệ môi trường, và các hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá, bảo hiểm xã
hội,…). Trong khi đó, Pháp và Italia đều quan niệm dịch vụ công là những hoạt động
phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân do các cơ quan nhà nước đảm nhiệm hoặc do
các tổ chức tư nhân thực hiện theo những tiêu chuẩn, quy định của nhà nước. Tuy vậy,
ở mỗi nước lại có nhận thức khác nhau về phạm vi của dịch vụ công. Ở Pháp, khái
niệm dịch vụ công được hiểu rộng, bao gồm không chỉ các hoạt động phục vụ nhu cầu
về tinh thần và sức khoẻ của người dân (như giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao…,
thường được gọi là hoạt động sự nghiệp), các hoạt động phục vụ đời sống dân cư
mang tính công nghiệp (điện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi
trường, thường được gọi là hoạt động công ích), hay các dịch vụ hành chính công, bao
gồm hoạt động của cơ quan hành chính về cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch,… mà cả hoạt
động thuế vụ, trật tự, an ninh, quốc phòng…; còn ở Italia dịch vụ công được giới hạn
chủ yếu ở hoạt động sự nghiệp (y tế, giáo dục) và hoạt động kinh tế công ích (điện,
nước sạch, vệ sinh môi trường) và các hoạt động cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch do cơ
quan hành chính thực hiện.
Ở Việt Nam, nên tập trung nhiều hơn vào chức năng phục vụ xã hội của nhà
nước, mà không bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư
pháp, ngoại giao, qua đó nhấn mạnh vai trò chủ thể của nhà nước trong việc cung
3
cấp các dịch vụ cho cộng đồng. Điều quan trọng là chúng ta phải sớm tách hoạt động
dịch vụ công (lâu nay gọi là hoạt động sự nghiệp) ra khỏi hoạt động hành chính công
quyền như chủ trương của Chính phủ đã đề ra, nhằm xoá bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải
cho bộ máy nhà nước, khai thác mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội, và nâng cao
4
mà uỷ nhiệm cho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự đôn đốc, giám
sát của nhà nước. Thí dụ, các công trình công cộng do chính phủ gọi thầu có thể do các
công ty tư nhân đấu thầu xây dựng.
- Dịch vụ công do tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân phối
hợp thực hiện. Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều
nước. Như ở Trung quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật tự ở các khu dân cư là do
cơ quan công an, tổ chức dịch vụ khu phố và ủy ban khu phố phối hợp thực hiện.
b) Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch vụ
công thành các loại như sau:
- Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý
nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân. Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung
ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do nhà
nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công. Đây là
một phần trong chức năng quản lý nhà nước. Để thực hiện chức năng này, nhà nước
phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận,
đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,… (Ở một số nước, dịch vụ hành chính công
được coi là một loại hoạt động riêng, không nằm trong phạm vi dịch vụ công. Ở nước
ta, một số nhà nghiên cứu cũng có quan điểm như vậy). Người dân được hưởng những
dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc
đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước. Phần lệ phí này mang tính
chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước.
- Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiết
yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thể
thao, bảo hiểm, an sinh xã hội,…( Sự nghiệp là một từ gốc Trung quốc, được dùng theo
nhiều nghĩa. Theo nghĩa hẹp, từ ‘sự nghiệp” dùng để chỉ những hoạt động chuyên môn
nhằm đáp ứng những nhu cầu của xã hội và cá nhân con người, chủ yếu là về những
lĩnh vực liên quan đến sự phát triển con người về văn hoá, tinh thần và thể chất). Xu
hướng chung hiện nay trên thế giới là nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào
mà xã hội không thể làm được hoặc không muốn làm, nên nhà nước đã chuyển giao
quan đến an ninh quốc gia và lợi ích chung của đất nước (như quốc phòng, an ninh, hộ
tịch…) mà chỉ có cơ quan công quyền mới có đủ tư cách pháp lý để làm. Nhà nước
với vai trò chủ đạo của mình, cũng trực tiếp cung ứng các loại dịch vụ thuộc các lĩnh
vực và địa bàn không thuận lợi đầu tư (ví dụ vùng sâu, vùng xa) mà thị trường không
thể hoặc không muốn tham gia do chi phí quá lớn hay không có lợi nhuận. Các đơn vị
sự nghiệp do nhà nước thành lập để cung ứng như các bệnh viện và trường học công,
các cơ sở cung cấp điện nước…hoạt động tương tự các công ty nhưng không vì mục
tiêu lợi nhuận. Ban đầu, nhà nước đầu tư cho các đơn vị đó, sau đó họ sẽ tự trang trải
và khi cần thiết có thể nhận được sự hỗ trợ bù đắp của nhà nước.
- Nhà nước chuyển một phần hoạt động cung ứng dịch vụ công cho thị trường
dưới các hình thức:
+ Uỷ quyền cho các công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ cung ứng một số
6
dịch vụ công mà nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và thường có nguồn kinh phí từ
ngân sách nhà nước như vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý rác thải, xây dựng và xử
lý hệ thống cống thoát nước v.v…Công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ được uỷ
quyền phải tuân thủ những điều kiện do nhà nước quy định và được nhà nước cấp kinh
phí ( loại dịch vụ nào có thu tiền của người thụ hưởng thì chỉ được nhà nước cấp một
phần kinh phí).
+ Liên doanh cung ứng dịch vụ công giữa nhà nước và một số đối tác trên cơ sở
đóng góp nguồn lực, chia sẻ rủi ro và cùng phân chia lợi nhuận. Hình thức này cho
phép nhà nước giảm phần đầu tư từ ngân sách cho dịch vụ công mà vẫn tham gia quản
lý trực tiếp và thường xuyên các dịch vụ này nhằm đảm bảo lợi ích chung.
+ Chuyển giao trách nhiệm cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức khác đối với
các dịch vụ mà các tổ chức này có điều kiện thực hiện có hiệu quả như đào tạo, khám
chữa bệnh, tư vấn, giám định…(bao gồm các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức xã
hội…), đặc biệt là, các tổ chức này tuy là đơn vị tư nhân hoặc phi chính phủ nhưng
được khuyến kích hoạt động theo cơ chế không vì lợi nhuận, chỉ thu phí để tự trang
trải.
+ Tư nhân hoá dịch vụ công, trong đó nhà nước bán phương tiện và quyền chi
giáo dục đào tạo không chỉ đáp ứng nhu cầu của người đi học mà còn góp phần nâng
cao mặt bằng dân trí và văn hoá của xã hội. Đó là nguyên nhân khiến cho chính phủ có
vai trò và trách nhiệm quan trọng trong việc sản xuất hoặc bảo đảm cung ứng các loại
hàng hóa công cộng.
Với sự đa dạng của các loại dịch vụ công, của các hình thức cung ứng dịch vụ
công, và những đặc điểm của dịch vụ công, có thể thấy rằng cung ứng loại dịch vụ này
một cách có hiệu quả không phải là một vấn đề đơn giản. Nhà nước phải xác định rõ
loại dịch vụ nào nhà nước cần giữ vai trò cung ứng chủ đạo, loại dịch vụ nào cần
chuyển giao cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội, loại dịch vụ nào nhà nước và
khu vực tư nhân có thể phối hợp cung ứng và vai trò điều tiết, quản lý của nhà nước về
vấn đề này như thế nào. Kinh nghiệm của nhiều nước những năm qua cho thấy rằng,
trong cung ứng dịch vụ công, nhà nước chỉ trực tiếp thực hiện những loại dịch vụ công
mà khu vực phi nhà nước không thể làm được và không muốn làm. Nếu nhà nước
không chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công ở các lĩnh vực thích hợp cho khu vực
phi nhà nước và cải cách việc cung ứng dịch vụ công của các cơ quan nhà nước, thì
hiệu quả cung ứng dịch vụ công về tổng thể sẽ bị giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực đến đời
sống của người dân và sự phát triển chung của toàn xã hội.
2. Vai trò của dịch vụ công đối với phát triển kinh tế - xã hội
Tính ưu việt của một xã hội được phản chiếu một cách rõ ràng qua chất lượng
cung ứng dịch vụ công, bởi vì dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích tối
cần thiết của xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững và có kỷ cương, trật tự.
Mọi xã hội đều có những vấn đề chung, liên quan đến cuộc sống của tất cả mọi người.
Đó là các vấn đề như trật tự trị an, phân hóa giàu nghèo, giáo dục, y tế, dân số, môi
8
trường, tài nguyên,… Để giải quyết thành công các vấn đề này, cần có sự góp sức của
cả nhà nước, cộng đồng và các tổ chức xã hội thông qua việc cung ứng các dịch vụ
công. Nếu các dịch vụ công bị ngừng cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, chất
lượng thấp thì sẽ dẫn đến những rối loạn trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời
sống của mỗi người dân, đồng thời tác động tiêu cực đến sự phát triển của mỗi quốc
gia. Nhìn chung, dịch vụ công đáp ứng những nhu cầu chung của xã hội về các lĩnh
cũng là trách nhiệm cuối cùng đối với việc cung ứng đầy đủ về số lượng, chất lượng,
có hiệu quả dịch vụ công cho dù là nhà nước tiến hành thực hiện trực tiếp hay thông
qua các tổ chức và cá nhân khác là một lá chắn bảo vệ an toàn cho cuộc sống của mỗi
người dân. Với việc nhà nước bảo đảm sự công bằng, bình đẳng cho công dân, nhất là
nhóm dân cư dễ bị tổn thương, trong việc tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ công thiết
yếu liên quan trực tiếp tới đời sống như y tế, giáo dục, an sinh xã hội…, người dân
được hưởng các quyền sống cơ bản của mình, trên cơ sở đó học tập, làm việc nâng cao
mức sống của bản thân và đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Như vậy, dịch vụ công có
tác dụng cực kỳ to lớn đối với sự phát triển của đất nước và từng người dân, và là yếu
tố quan trọng góp phần ổn định xã hội.
3. Vai trò nhà nước trong quản lý và hoạt động cung cấp dịch vụ công
Chúng ta đều biết rằng, nhà nước của bất kỳ chế độ nào cũng bao gồm hai chức
năng cơ bản: chức năng quản lý (hay còn gọi là chức năng cai trị) và chức năng phục
vụ (hay còn gọi là chức năng cung cấp dịch vụ cho xã hội). Hai chức năng này thâm
nhập vào nhau, trong đó chức năng phục vụ là chủ yếu, chức năng quản lý xét đến cùng
cũng nhằm phục vụ. Với chức năng phục vụ, như đã phân tích ở các phần trên, nhà
nước có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ công thiết yếu cho xã hội. Bên cạnh đó, với
chức năng quản lý, nhà nước phải thực hiện vai trò quản lý và điều tiết xã hội nói
chung, trong đó có vấn đề dịch vụ công. Nhà nước bằng quyền lực của mình, thông qua
các công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, để quản lý
và điều tiết hoạt động cung ứng dịch vụ công, qua đó làm tăng hiệu quả cung ứng dịch
vụ công trong toàn xã hội.
- Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức phi chính
phủ, các tổ chức tự quản của cộng đồng tham gia cung ứng dịch vụ công
Vai trò này vượt ra khỏi phạm vi quản lý nhà nước thuần túy, xuất phát từ việc
xác định trách nhiệm cao nhất và đến cùng của nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ công
không có nghĩa là nhà nước phải trực tiếp cung ứng toàn bộ các dịch vụ này. Thực hiện
vai trò này, nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích tư nhân, các
doanh nghiệp và các tổ chức xã hội của người dân tham gia cung ứng dịch vụ công. Cơ
chế, chính sách ấy bao gồm: vạch rõ những lĩnh vực dịch vụ cần khuyến khích sự tham
đến một xã hội phát triển. Do vậy, một trong những mục tiêu cải cách đã được các nhà
nước xác định rõ là chuyển một phần khá lớn chức năng quản lý xã hội của chính phủ
sang cho các tác nhân khác, và xã hội hóa dịch vụ công là một xu thế lớn trong trào
lưu cải cách nhà nước hiện nay ở phần lớn các nước trên thế giới.
Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng nhất trong đảm bảo cung cấp dịch vụ công,
nhưng không nhất thiết phải là người trực tiếp cung cấp tất cả các dịch vụ đó. Vai trò
của nhà nước cần thể hiện rõ hơn trong đẩy mạnh quản lý cung ứng dịch vụ công bằng
luật pháp, chính sách và các biện pháp mang tính hỗ trợ, kích thích. Các nhà nước tiên
tiến hiện nay đang tìm cách sử dụng tối đa cơ chế thị trường trong lĩnh vực cung cấp
dịch vụ công. Phần lớn dịch vụ công được toàn xã hội tiến hành, nhà nước chỉ giữ lại
những dịch vụ cần thiết nhất theo hướng “nhà nước nhỏ như cần thiết, xã hội lớn như
11
có thể”.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi nhận thức từ phía các cơ quan công
quyền và từ chính những người dân về sự cần thiết phải có sự chuyển biến trong cung
ứng dịch vụ công. Đó là, thứ nhất, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khu
vực tư nhân về phương diện kinh tế, những thành tựu khoa học công nghệ đã làm cho
khu vực tư nhân có thể tiếp nhận một số dịch vụ trước đây chỉ thuộc về nhà nước. Thí
dụ, kỹ thuật truyền hình cáp phát triển cho phép nắm được thời gian sử dụng của từng
máy thu hình, hoặc qua thiết bị tự ghi có thể đo chính xác lượng sử dụng khí ga, điện,
nước của từng hộ tiêu thụ ( để thu tiền). Thứ hai, sự thay đổi về mức sống tạo điều
kiện cho cá nhân có thể tự mua sắm cho mình những phương tiện mà trước đây chỉ có
thể sử dụng công cộng. Có thể thấy rõ điều này trong cung ứng dịch vụ công về lĩnh
vực văn hóa; nếu như trước đây, người dân chỉ có thể xem phim ảnh tại các rạp chiếu
công cộng, thì nay người ta có thể xem tại nhà qua đầu máy VCD, DVD. Ngoài ra, sự
thay đổi về mức sống của người dân theo hướng chất lượng cuộc sống ngày một nâng
cao đòi hỏi số lượng các loại hình và chất lượng dịch vụ cũng cần phải ngày càng tăng
để đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội. Thứ ba, lý do quan trọng khiến nhà nước cần
đổi mới cơ chế cung ứng dịch vụ công
thông qua cải cách và chuyển giao dần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực
trọng là nhà nước phải chuyển giao các loại dịch vụ công mà xã hội có thể đảm nhiệm
đi đôi với việc kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả cung ứng
dịch vụ công.
- Đẩy mạnh sự tham gia của khu vực phi nhà nước trong cung ứng dịch vụ công
Thực ra, việc khu vực phi nhà nước cung ứng dịch vụ công đã có từ thời xa xưa.
Lịch sử cho thấy rằng, hầu hết các dịch vụ y tế đều được thực hiện trên cơ sở tư nhân
bởi những bà đỡ, các thầy lang. Tại các nước đang phát triển, đô thị hóa và công
nghiệp hóa mạnh mẽ đã dẫn đến việc thành lập các nhóm lao động và họ đã tự tổ chức
để cung ứng dịch vụ bảo hiểm y tế thông qua “những quỹ đề phòng ốm đau” hoặc đề
nghị thành lập các hệ thống bảo hiểm xã hội được nhà nước cấp kinh phí.
Chỉ đến thế kỷ XX nhà nước mới giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp các
dịch vụ xã hội như giáo dục và y tế, và ngày nay, trong trào lưu cải cách nhà nước trên
khắp thế giới, việc cung ứng dịch vụ công lại được chuyển từng phần thích hợp cho
khu vực phi nhà nước, và đang trở thành một xu thế phát triển. Thực tế cho thấy, khu
vực phi nhà nước đã ngày càng thâm nhập vào các hoạt động cung ứng dịch vụ công,
chẳng hạn như trong lĩnh vực làm sạch môi trường, cung cấp điện, nước,… Ngay cả ở
những lĩnh vực mà theo truyền thống chỉ do nhà nước quản lý và thực hiện, thì nay
cũng trở thành địa bàn hoạt động của khu vực tư nhân. Ở Mỹ hiện nay, nhiều nhà tù
tại các bang đã được giao cho khu vực tư nhân quản lý, nhiều loại dịch vụ cảnh sát đã
được giao cho các công ty tư nhân đảm nhiệm. Ngoài ra, khu vực tư nhân cũng được
phép tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục và y tế, là loại dịch vụ mà nhà nước giữ vai
trò cơ bản vì chúng liên quan trực tiếp đến mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia. Ở
phần lớn các nước trên thế giới tồn tại song song hai hệ thống giáo dục công lập và
giáo dục dân lập. Sự phát triển hệ thống trường tư thục đã tạo điều kiện cạnh tranh về
chất lượng giảng dạy giữa hai hệ thống. Tất nhiên, các trường tư phải chịu sự quản lý
13
của nhà nước về nội dung giảng dạy, bảo đảm theo một chương trình chuẩn, thống
nhất. Việc chuyển dần mô hình trường công lập sống nhờ bao cấp nhà nước với sức ỳ
quán tính sang định chế hội đồng quản trị tư doanh đã thúc đẩy tính năng động, sáng
tạo và cạnh tranh của các cơ sở giáo dục.
viện tư (về chất lượng dịch vụ, về mức phí và nhằm tăng thị phần) đã tác động tới hệ
thống y tế công và đặt khu vực này vào tình thế phải cải cách. Như vậy, trong việc
thúc đẩy cạnh tranh, hoạt động của nhà nước không đơn thuần là điều tiết, mà còn
14
khuyến khích và tạo động lực thị trường. Chính phủ tạo ra một sân chơi bình đẳng cho
mọi đối tượng có khả năng cung cấp dịch vụ công để tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh
giữa các nhà cung cấp dịch vụ, và người tiêu dùng các dịch vụ công được quyền tự do
lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ. Nhiều bằng chứng thực tế cho thấy khi các tổ chức
cung ứng dịch vụ công bước vào cuộc cạnh tranh thì mọi việc đều thay đổi. Những tổ
chức nào cung ứng dịch vụ chất lượng kém với giá cả cao thì dần bị xóa bỏ, trong khi
những tổ chức cung ứng dịch vụ chất lượng cao với giá cả phải chăng thì ngày càng
phát triển. Chính sự cạnh tranh đã buộccác tổ chức cung ứng dịch vụ phải luôn luôn tự
đổi mới và điều đó mang lại lợi ích cho cả người dân, nhà nước và nhà cung ứng dịch
vụ.
Một trong những chuyển biến quan trọng trong cung ứng dịch vụ công trong
những năm gần đây là sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của các tổ chức xã hội dân sự,
bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức
phi chính phủ, các cá nhân…Việc mở rộng sự tham gia của các lực lượng xã hội này
cùng nhà nước vào cung ứng dịch vụ công đã tạo ra một môi trường cạnh tranh lành
mạnh, phá vỡ sự bất bình đẳng, phi thị trường do độc quyền gây ra trong lĩnh vực này,
huy động được các nguồn lực cộng đồng và phát huy vai trò của các đối tác xã hội
trong quản lý xã hội. Vai trò của các tác nhân này trong cung ứng các dịch vụ công
cho xã hội thể hiện cụ thể ở các mặt sau đây:
- Là cánh tay nối dài của nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cá nhân, của cả
cộng đồng xã hội để tăng thêm nguồn lực đáp ứng các yêu cầu của xã hội về các dịch
vụ công;
- Là một trong những chức năng cơ bản của tổ chức dân sự trong hoạt động vận
động quần chúng và gắn bó với lợi ích cơ bản của người dân, là cầu nối giữa nhà nước
và nhân dân trong cung cấp dịch vụ công;
- Thực hiện vai trò đại diện và bảo vệ lợi ích của người hưởng thụ dịch vụ công,
nhân và các tổ chức xã hội ngày càng mở rộng. Hầu hết các quốc gia áp dụng nguyên
tắc lĩnh vực nào thị trường và xã hội có thể đảm nhiệm được thì nhà nước chuyển giao
dần ở một mức độ nhất định trách nhiệm cung ứng dịch vụ công ở lĩnh vực đó. Ở
những lĩnh vực dịch vụ không thể chuyển giao được cho khu vực tư nhân và các tổ
chức xã hội, thì nhà nước phải giữ vai trò cung ứng nòng cốt và phải tiến hành cải
cách ở trong chính khu vực nhà nước để cải thiện chất lượng cung ứng các loại dịch
vụ này. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh một lần nữa rằng, dù nhà nước trực tiếp cung ứng
dịch vụ hay chuyển giao cho các khu vực khác, thì với vai trò là người đảm bảo công
bằng xã hội, nhà nước vẫn có nghĩa vụ quan tâm đến việc đạt được những mục tiêu
chính của hoạt động cung ứng dịch vụ công thông qua kiểm soát, điều tiết và bảo hộ
để thị trường và xã hội cung ứng các dịch vụ đó một cách thuận lợi.
- Cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công trong khu vực nhà nước
Cho dù khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội ngày càng tham gia nhiều hơn vào
cung ứng dịch vụ công, song khu vực nhà nước vẫn tất yếu là người cung ứng một số
lớn dịch vụ. Chính vì vậy, trong đổi mới cung ứng dịch vụ công, việc cải thiện chất
lượng cung ứng dịch vụ ở ngay chính khu vực nhà nước là hết sức quan trọng. Bên
16
cạnh chức năng quản lý nhà nước, chức năng phục vụ của nhà nước nhằm cung cấp
những dịch vụ cần thiết cho người dân để họ thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của
mình giờ đây cần được chú trọng hơn bao giờ hết. Nâng cao chất lượng cung ứng dịch
vụ công không phải là một vấn đề mới mẻ. Ngay từ giữa những năm 80 của thế kỷ
trước, Pháp đã đưa ra các chu trình chất lượng thử nghiệm trong các cơ quan nhà
nước. Trước yêu cầu của người dân hiện đã trở thành “người tiêu dùng đòi hỏi cao”,
vấn đề chất lượng trong cung ứng dịch vụ công của nhà nước ngày càng trở nên cấp
bách. Nguyên tắc chất lượng trong cung ứng dịch vụ công của các cơ quan nhà nước
đã chính thức được đề cập tới trong Hiến chương dịch vụ công của Pháp ngày 18
tháng 3 năm 1992 và văn bản ngày 26/7/1996 về cải cách Nhà nước Pháp. Hiến
chương đưa ra một loạt các biện pháp nhằm đảm bảo cung ứng dịch vụ thiết yếu như
trường học, bệnh viện, cảnh sát, bưu điện cho những nơi xa xôi. Điều quan trọng là
Hiến chương đã yêu cầu các cơ quan xây dựng chỉ số hiệu suất và chú trọng sự hợp
trò của Chính phủ chuyển từ “chèo thuyền” sang “lái thuyền”. Nhà nước không nên
ôm đồm làm hết mọi dịch vụ mà nên dân chủ hoá gắn liền với phân quyền, xã hội hoá
nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý của Nhà nước. Thứ hai, chất lượng dịch
vụ công chất lượng thấp, loại hình kém đa dạng, phong phú giá cả lại cao hơn khu vực
tư . Mặt khác, về bối cảnh và xu hướng thời đại tác động đến mô hình hành chính công
truyền thống dẫn đến sự xuất hiện mô hình hành chính phát triển. Đó là: Sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đòi hỏi sự đièu chỉnh kinh tế và phát triển nền hành
chính; sự phát triển nền kinh tế thị trường và toàn cầu hoá kinh tế điều chỉnh các mối
quan hệ quốc tế và do đó ảnh hưởng đến nền hành chính công của mỗi nước trong quá
trình hội nhập. Xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội do trình độ dân trí được nâng
cao; tình thế chung buộc Nhà nước phải một mặt xã hội hoá, tư nhân hoá, chấp nhận
sự tham gia của công chúng vào công việc quản lý nhà nước, đồng thời phải can thiệp
ngày càng sâu vào các quá trình kinh tế- xã hội và cải tiến mô hình nền hành chính
công và nâng cao chất lượng dịch vụ đối với người dân - những “khách hàng” của nền
hành chính…
Như vậy về bản chất, hành chính truyền thống và hành chính phát triển đều là đối
tượng nghiên cứu của khoa học hành chính công được xây dựng bởi một hệ thống các
khái niệm,hệ thống lý thuyết hành chính công với nhiều cách tiếp cận khác nhau . Sự
khác nhau cơ bản ở đây là “mô hình”, mỗi “mô hình” có những thế mạnh và phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định của các quốc gia.
Đi sâu vào nghiên cứu hai “mô hình” dựa trên một số tiêu thức chúng ta nhận thấy
những điểm khác nhau cơ bản sau đây:
So sánh tiêu thức mục tiêu: hành chính công truyền thống; bảo đảm đúng chu
trình, đúng quy tắc, thủ tục hành chính (đầu vào). Đánh giá việc quản lý hành chính
thông qua xem xét mức độ thực thi các quy tắc, thủ tục hành chính. Trong khi đó, mục
tiêu của hành chính phát triển là: Bảo đảm kết qua tốt nhất, hiệu quả cao nhất (đầu ra);
dùng các tiêu chí cụ thể để đánh giá kết quả quản lý hành chính.
18
Đối với công chức của hành chính công truyền thống: trách nhiệm của người công
chức; nhà quản lý là giám sát việc thực hiện và giải quyết công việc theo quy chế thủ
hình hành chính phát triển xuất hiện nhằm khắc phục những yếu kém không phù hợp
của mô hình hành chính truyền thống . Nền kinh tế Việt Nam đang vận hành theo cơ
chế thị trường và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Chức năng
của Chính phủ chắc chắn sẽ phải đối mặt với những thách thức của thị trường trong
19
nước và thị trường thế giới. Vận dụng những nhân tố hợp lý của mô hình Quản lý công
mới (Hành chính phát triển) để xây dựng một mô hình mang tính đặc sắc Việt Nam,
đẩy mạnh cải cách hành chính theo kịp cải cách kinh tế đang là câu hỏi đặt ra đối với
các nhà lãnh đạo, quản lý và các nhà khoa học hành chính.
3. Tăng cường sự giám sát của cộng đồng đối với quản lý và cung cấp dịch vụ
công
Sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định chính sách và đảm bảo chất
lượng dịch vụ công sẽ giúp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ của nhà nước thông
qua việc cải tiến quản lý dịch vụ công và tăng cường sự minh bạch trong quyết định
chính sách. Quá trình tham gia này thể hiện qua nhiều cách khác nhau, có thể từ tham
khảo ý kiến, trao đổi thông tin, cho tới những hành động trực tiếp tham gia của công
dân, chủ động đề xuất sáng kiến hoặc góp ý vào chính sách. Nhất là ở những nơi việc
cung ứng dịch vụ công không hiệu quả thì người dân có thể thông báo cho các cấp
chính quyền về vấn đề này và thúc ép họ phải cải tiến. Do đó, các cơ quan công quyền
buộc phải có trách nhiệm hơn trong việc lắng nghe tiếng nói của người dân và phản
hồi kịp thời, đầy đủ trước các yêu cầu đó. Cơ chế phản hồi này giúp cho các thông tin
hai chiều luôn thông suốt và được chia sẻ. Thông qua đó, người dân và các nhà cung
cấp dịch vụ có cơ hội cùng đánh giá và trao đổi ý kiến nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ. Kinh nghiệm các nước cho thấy rằng sự tương tác ngày càng tăng giữa người sử
dụng và nhà cung ứng dịch vụ công đã đem lại những kết quả tích cực. Một đánh giá
gần đây của người dân về hệ thống cung cấp nước ở Bacu, Adebaigian đã cho thấy
không chỉ những vấn đề nghiêm trọng về thất thoát nước và chất lượng nước có hại
cho sức khỏe mà cả những chi phí cao do bộ máy cung cấp nước không đáng tin cậy
của thành phố áp đặt cho những người tiêu dùng có thu nhập thấp. Ngoài ra, những
người tiêu dùng này cũng cho biết thêm là họ sẵn sàng trả nhiều hơn từ 2 đến 5 lần số
như vậy được nhiều nước chú trọng. Thí dụ, Đài loan và Hàn quốc đã rất quan tâm đến
việc xây dựng hệ thống bảo hiểm y tế theo hướng phục vụ người dân ngày càng có
hiệu quả dựa trên sự đóng góp tài chính từ phía người dân cùng với sự hỗ trợ của nhà
nước. Chương trình bảo hiểm y tế quốc gia của Đài Loan, sau 3 năm thực hiện (1998),
đã thu hút được 97% dân số tham gia. Đến cuối năm 2003, con số này đã lên tới
99%6. Chương trình bảo hiểm y tế đã làmcho người dân hiểu rõ được quyền và nghĩa
vụ hợp pháp của họ trong việc cùng nhà nước và những người dân khác chia sẻ nghĩa
vụ đóng góp và cùng hưởng những lợi ích từ Bảo hiểm y tế quốc gia. Thực tế cho thấy
rằng Chương trình Bảo hiểm y tế quốc gia của Đài loan đã bảo vệ người dân khỏi
những rủi ro tài chính và có sự tiếp cận công bằng tới các dịch vụ y tế. Bên cạnh đó,
Chương trình đã tăng cường cung cấp các dịch vụ y tế ở vùng sâu vùng xa, đảm bảo
lợi ích cho người dân sống ở các vùng khó khăn. Điều đó cho thấy rằng chủ trương
tăng cường sự tham gia của người dân vào cung ứng dịch vụ công qua đó mang lại lợi
ích cho cả hai phía người dân và nhà nước là hoàn toàn đúng đắn và cần được nhân
rộng ra nhiều lĩnh vực cung ứng khác.
21
IV. Xã hội hóa dịch vụ công
1. Khái niệm xã hội hóa dịch vụ công
1.1. Quan niệm về “xã hội hoá”
Trong những năm qua ở nước ta, có một thực tế là thuật ngữ “xã hội hoá” được
đề cập trong nhiều văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước cũng như trên các
phương tiện thông tin đại chúng, nhưng cho đến nay chưa có một khái niệm (định
nghĩa) thống nhất về “xã hội hoá”, hoặc chí ít là chưa có sự giải nghĩa tương đối đầy
đủ về nội hàm của thuật ngữ này. Thực tế, điều này đã trở thành một thách thức lớn
trong việc quán triệt và thực hiện chủ trương xã hội hoá cung ứng dịch vụ công ở nước
ta do có những cách hiểu khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về xã hội hoá. Cách
hiểu thông thường nhất là dùng nghĩa của từ “xã hội” cộng với nghĩa của hình vị
“hoá”, như các cách giải thích dưới đây cho “xã hội hoá” là “chung” hoạt động sản
xuất- kinh doanh là hoạt động không thể tự một người hay một gia đình làm được, mà
là một hoạt động có tổ chức và có tính tập thể cao; hoạt động do nhà nước quyết định,
các chủ thể kinh tế ngoài nhà nước vào việc cung ứng dịch vụ công.
Trước đây hoạt động cung ứng dịch vụ công chỉ do một mình Nhà nước đảm
nhiệm thì nay nó được mở rộng cho sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế khác dựa
trên điều kiện và cơ chế nhất định. Điều kiện và cơ chế thực hiện xã hội hoá như thế
nào là tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của từng quốc gia. Với cách tiếp cận như vậy, có
thể hiểu khái niệm “xã hội hoá” áp dụng trong bối cảnh cung ứng dịch vụ công, được
đề cập nhiều trong các văn bản của Đảng và Nhà nước và trên các phương tiện thông
tin đại chúng trong thời gian qua, là:
- Quá trình vận động và tổ chức để nhân dân và toàn xã hội tham gia (về vốn, tài
sản, sức lao động, trí tuệ ), hình thành cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng,
Nhà nước, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội và các tầng lớp nhân dân. Mỗi bên
tham gia có thể có mục đích riêng của mình, tuy nhiên tất cả các bên đều hướng tới
một mục đích chung quan trọng nhất là nâng cao hiệu quả của hoạt động cung ứng
dịch vụ công, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ dịch vụ của nhân dân. Quá trình vận
động nhân dân tham gia cũng có nghĩa là tạo ra các phong trào lành mạnh sâu rộng
trong xã hội như: học tập, tập luyện thể dục thể thao, rèn luyện thân thể, vệ sinh phòng
dịch, xây dựng đời sống văn hoá mới
- Quá trình đa dạng hoá các hình thức hoạt động, mở ra cơ hội để mọi người chủ
động và bình đẳng tham gia. Dịch vụ công không còn chỉ được cung ứng bởi Nhà
nước nữa, mà được mở rộng cho sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước với
nhiều hình thức đa dạng, phong phú (có thể hoạt động độc lập, liên kết với Nhà nước
hoặc quan hệ bạn hàng với Nhà nước) và bình đẳng.
- Quá trình đa dạng hoá các nguồn đầu tư để thu hút, khai thác mọi tiềm năng
trong xã hội. Gắn với việc đa dạng hoá các hình thức hoạt động cung ứng dịch vụ công
là quá trình đa dạng hoá các nguồn đầu tư trong xã hội. Cùng với Nhà nước, các tổ
23
chức ngoài nhà nước có thể bỏ vốn đầu tư vào hoạt động cung ứng dịch vụ công.
- Xã hội hoá dịch vụ công bao gồm cả xã hội hoá việc cung ứng dịch vụ công,
huy động toàn xã hội và thu hút cả đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực hoạt động này và cả
xã hội hoá hưởng thụ dịch cụ công, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cho mọi
24
Xã hội hóa cung ứng dịch vụ ngoài công lập là một chủ trương đúng đắn của
Đảng và Nhà nước. Qua hoạt động này, nhu cầu của các tổ chức và công dân được đáp
ứng nhiều hơn, giảm bớt gánh nặng ngân sách của Nhà nước; phát huy được tiềm lực
chủ động sáng tạo của nhân dân. Tuy nhiên, hoạt động này, Nhà nước phải quản lý
chặt chẽ thông qua các hoạt động chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các dịch vụ tư, đảm bảo
nhu cầu của nhân dân được đáp ứng tốt hơn, công bằng hơn.
Trong xu thế dân chủ hóa đời sống xã hội ngày càng mạnh mẽ, cải cách dịch vụ
công đang trở thành một nội dung quan trọng trong cải cách hoạt động của Nhà nước,
nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực hoạt động của Nhà nước, làm cho Nhà nước đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công dân.
Thực tiễn vấn đề xã hội hóa các dịch vụ công, như cổ phần hóa một số bệnh viện,
trường công lập nhằm nâng cao chất lượng chữa bệnh, chất lượng đào tạo nên được
xem xét một cách nghiêm túc, nếu thật sự điều này dẫn đến một sự cải thiện về nguồn
vốn đầu tư, về hiệu quả đầu tư, về hiện đại hóa công nghệ, cải thiện cung cách quản lý,
tạo động lực làm việc và nâng cao chất lượng phục vụ. Cộng đồng sẽ có nhiều bệnh
viện tốt hơn, nhiều trường học tốt hơn để phục vụ bệnh nhân tốt hơn và đào tạo học
sinh tốt hơn. Những nơi này không cung cấp dịch vụ miễn phí nhưng thật ra, điều này
không làm thay đổi chính sách điều trị miễn phí bệnh nhân nghèo, cũng như không
làm thay đổi chính sách giáo dục cưỡng bách quốc gia, nếu chúng ta thực sự muốn duy
trì các chương trình xã hội cần thiết này. Hệ thống bảo hiểm y tế đang mở rộng cho
mọi người dân trong cộng đồng và không có gì trở ngại về mặt chính sách và biện
pháp thực hiện trong việc cung cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho những thành viên
của các gia đình cần được giúp đỡ, và các trẻ em cơ nhỡ
3. Sự khác nhau giữa xã hội hóa và tư nhân hóa dịch vụ công:
Điều khác biệt cơ bản với tư nhân hoá là xã hội hoá vẫn nhấn mạnh trách nhiệm
và đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành của Nhà nước đối với việc cung ứng các dịch vụ
công. Đối với các cơ sở ngoài công lập, Nhà nước luôn luôn khuyến khích hoạt động
theo cơ chế phi lợi nhuận, được hiểu là lợi nhuận thu được không chia hết cho các cá
nhân mà chủ yếu dùng để đầu tư phát triển, thực hiện các chính sách xã hội, trợ giúp