Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên - Pdf 28


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ THU HẰNG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ, TIỀM NĂNG
GIẢM NHẸ VÀ VAI TRÒ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG
TẠI HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HỒ NGỌC SƠN
THÁI NGUYÊN - 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào để bảo vệ luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ. Các hình và ảnh sử dụng trong công trình là
của tác giả và tập thể cộng tác.

Tác giả

Trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học và các
thầy giáo, cô giáo thuộc Trường Đại học nông lâm Thái nguyên. Nhân dịp này cho
tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
Đặc biệt tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới TS. Hồ Ngọc Sơn - Khoa
Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên với tư cách là những
người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá
trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin cảm ơn tổ chức FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên
Hiệp Quốc) đã hỗ trợ kinh phí cũng như phương pháp để tôi có cơ hội tham gia
nghiên cứu và hoàn thành luận án một cách tốt nhất.
Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ phòng Nông Nghiệp huyện, các cán bộ
thuộc 3 xã Quài Nưa, Pú Nhung, Thị trấn, thuộc huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
là địa bàn tác giả tham gia nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt
quá trình học tập và thu thập số liệu ngoại nghiệp để hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân
trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn
thành luận văn.
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản luận
văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để luận văn
được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1.4.1.1. Vị trí địa lý 24
1.4.1.2. Địa hình 25
1.4.2. Đặc điểm tài nguyên 25
1.4.2.1. Quỹ đất đai 25 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iv
1.4.2.2. Tài nguyên 28
1.4.3. Khí hậu, thủy văn 28
1.4.4. Đặc điểm kinh tế, xã hội 31
1.4.4.1. Dân số, đời sống và nguồn lao động 31
1.4.4.2. Điều kiện về thị trường 32
1.4.4.3. Quy hoạch sản xuất nông nghiệp; các sản phẩm chủ lực 32
1.4.4.4. Về sản xuất Nông - Lâm nghiệp 33
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 35
2.1. Đối tượng nghiên cứu 35
2.2. Địa điểm nghiên cứu 35
2.3. Nội dung nghiên cứu 35
2.4. Phương pháp nghiên cứu 35
2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu sơ cấp 35
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu 36
2.4.2.1. Tổng quan NLKH tại vùng nghiên cứu và đánh giá hiệu quả kinh tế của mô
hình NLKH truyền thống 36
2.4.2.2. Phương pháp chọn mô hình và hộ gia đình điển hình tiến hành
nghiên cứu 36
2.4.2.3. Tiềm năng giảm nhẹ với biến đổi khí hậu của mô hình NLKH
truyền thống 37

3.4.2. Khả năng duy trì độ phì, dinh dưỡng đất 75
3.4.3. Khả năng giảm nhẹ rủi ro thiên tai 77
3.4.4. Khả năng giữ nước và duy trì độ ẩm trong đất 78
3.5. Thuận lợi, khó khăn trong phát triển nông lâm nghiệp tại huyện Tuần
Giáo, tỉnh Điện Biên 80
3.6. Đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm phát triển và mở rộng mô
hình NLKH 81
3.6.1. Đối với cấp quản lý 81
3.6.2. Đối với hộ gia đình 83
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 87
1. Kết luận 87
2. Tồn tại 89
3. Kiến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
II. Tài liệu tiếng Anh
III. Website
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations -
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc.
NLKH : Nông lâm kết hợp.
KNK : Khí nhà kính.


Bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Tuần Giáo năm 2010 - 2013 26
Bảng 1.2: Phân bố dân số, lao động và đời sống xã hội của huyện Tuần Gáo 31
Bảng 3.1: Các mô hình ở 3 xã Quài Nưa, Thị Trấn, Pú Nhung thuộc huyện
Tuần Giáo 52
Bảng 3.2: Các dạng hệ thống NLKH truyền thống điển hình tại 3 xã Quài Nưa, 55
Bảng 3.3: Tỷ lệ phân bố của các dạng hệ thống NLKH truyền thống và không thuộc
NLKH truyền thống trong quá trình điều tra 57
Bảng 3.4: Phân bố số hộ canh tác các dạng mô hình theo diện kinh tế hộ gia đình 63
Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế của hệ thống NLKH và không thuộc hệ thống NLKH 64
Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế của ba dạng mô hình nghiên cứu 66
Bảng 3.7: Tổng hợp sinh khối khô của các thành phần 67
Bảng 3.8: Kết quả tổng hợp lượng carbon tích lũy trung bình trong thành phần thực
vật ở các dạng mô hình điển hình điều tra 68
Bảng 3.9: Kết quả tổng hợp lượng carbon tích lũy trong đất của 3 phương thức
nghiên cứu 70
Bảng 3.10: Kết quả tổng hợp lượng Carbon tích lũy và lượng CO
2
hấp thụ của 2
phương thức NLKH truyền thống 71
Bảng 3.11: Giá trị thương mại của 2 phương thức NLKH truyền thống 73
Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế và lượng thóc quy đổi hàng năm của các dạng
mô hình 74
Bảng 3.13. Bảng tổng hợp thành phần dinh dưỡng của các thành phần đất trong 2
phương thức NLKH truyền thống nghiên cứu và 1 phương thức nông
nghiệp tuần đối chứng 76
Bảng 3.14: Phần trăm độ ẩm trong đất của các dạng mô hình nghiên cứu 79 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

đổi khí hậu toàn cầu [3]. Ngành nông lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc
giải quyết và giảm thiểu hai thách thức đó. Sản xuất nông lâm nghiệp, bao gồm cả
phá rừng đưa vào khí quyển khoảng 18% lượng khí thải khí nhà kính chủ yếu là khí
Mê-tan (NH
4
) từ sản xuất lúa nước và chăn nuôi, khí NO từ sử dụng phân hóa học.
Hiện nay chúng ta đang rất quan tâm tới nhưng phương thức canh tác vừa mang lại
hiệu quả kinh tế vừa giảm thải được lượng khí nhà kính và vừa thích ứng với biến
đổi khí hậu. Bảo Huy và nnk (2011) [8] đã khảng định “Phương thức canh tác nông
lâm kết hợp (NLKH) được coi là phương thức canh tác vừa đảm bảo an ninh lương
thực và giảm phát thải khí nhà kính”.
Hệ thống nông lâm kết hợp mang lại lợi ích tạo nhiều thu nhập tăng thêm từ
các nguồn khác nhau, tăng sản xuất lương thực, cải thiện cung cấp thức ăn cho người
và gia súc; tăng cung cấp củi, đất đai được cải thiện khả năng sản xuất và cung cấp
nước, cải thiện môi trường sống… Các thành phần đa dạng được cung cấp, cho thu
hoạch nhiều vào các thời điểm khác nhau trong năm, qua đó đảm bảo thu nhập và
giảm nguy cơ mất mùa. Với những lợi ích này, nông lâm kết hợp có thể cải thiện
cuộc sống của người nông dân, giúp xóa đói giảm nghèo, và duy trì sự ổn định sinh
thái. Thêm vào đó nông lâm kết hợp có khả năng cao trong hấp thụ carbon bởi các
loài thực vật, trong đó đáng kể nhất là thực vật thân gỗ sống lâu năm. Hệ thống nông
lâm kết hợp làm giảm tính dễ bị tổn thương của nông dân và giúp họ thích nghi với
điều kiện thay đổi ở quy mô nhỏ, thường đáp ứng được để trồng rừng, tái trồng rừng
đủ điều kiện trong cơ chế phát triển sạch (CDM). Sự tương tác của các thành phần
khác nhau của các hệ thống nông lâm kết hợp có thể giúp hấp thụ và cô lập carbon
dioxide và các khí nhà kính khác từ khí quyển [7,8].
Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhất do biến đổi khí hậu.
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (2008) đã xác định khu vực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

truyền thống. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3
- Xác định được vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của mô hình NLKH
truyền thống.
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp để phát triển và nhân rộng các mô hình
NLKH truyền thống trong vùng nghiên cứu và các vùng lân cận.
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học:
Kết quả đề tài góp phần làm sáng tỏ vai trò cộng hưởng của mô hình NLKH
truyền thống, đó là vai trò cải thiện sinh kế (hiệu quả kinh tế), giảm nhẹ và thích
ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất:
Đề tài đã phân tích và đề xuất được các giải pháp có tính thực tiễn nhằm
thúc đẩy sự phát triển của NLKH tại tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Tuần
Giáo nói riêng.
qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng [40].
Các tác giả Trần Ngọc Ngoạn và Cs (1999) [14] cho rằng: NLKH là thuật
ngữ dùng để chỉ các hệ thống sử dụng đất, ở đó có các cây, con nông nghiệp (cây
trồng, cây cỏ, vật nuôi ) được bố trí kết hợp với các cây lâm nghiệp theo không
gian hoặc luân canh và có sự tương tác giữa cây, con nông nghiệp và lâm nghiệp về
cả mặt sinh thái và kinh tế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
Vào năm 1997, Trung Tâm Quốc Tế nghiên cứu về NLKH (gọi tắt là ICRAF) đã
xem xét lại khái niệm NLKH và phát triển nó rộng hơn như là một hệ thống sử dụng
đất giới hạn trong các nông trại. Ngày nay nó được định nghĩa như là một hệ thống
quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối
hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự
sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ
nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến " kinh tế trang trại ". Một cách đơn giản,
ICRAF đã xem "Nông Lâm kết hợp là trồng cây trên nông trại" và định nghĩa nó
như là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động và lấy yếu tố sinh thái
làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại và vào hệ sinh thái nông
nghiệp làm đa dạng và bền vững sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội
và sinh thái cho người canh tác ở các mức độ khác nhau [20].
Các định nghĩa trên chỉ ra những đặc trung cơ bản của NLKH đó là:
- Thông thường có hai hoặc nhiều loài cây (có thể gồm cả động vật) nhưng ít
nhất một trong chúng phải là những cây gỗ sống lâu năm.
- Một hệ thống NLKH luôn có hai hoặc nhiều sản phẩm đầu ra.
- Chu kỳ của một hệ thống NLKH dù đơn giản nhất vẫn phức tạp hơn hệ
thống độc canh cả về phương diện kinh tế cũng như sinh thái học (bao gồm cả cấu
trúc và chức năng sinh thái học).

Hệ thống nông lâm kết hợp mang lại nhiều lợi ích tạo nhiều thu nhập tăng thêm
từ các nguồn khác nhau, tăng sản xuất lương thực, cải thiện cung cấp thức ăn cho người
và gia súc, tăng cung cấp củi, đất đai được cải thiện khả năng sản xuất, cung cấp nước
cải thiện môi trường sống…. Các thành phần đa dạng được cung cấp, cho thu hoạch
nhiều vào các thời điểm khác nhau trong năm, qua đó đảm bảo thu nhập và giảm nguy
cơ mất mùa.Tính chất đa chức năng của NLKH cung cấp hàng loạt cơ hội, lợi ích cho
các thành phần trên và dưới mặt đất, ví dụ tạo ra hàng rào sống, gỗ và môi trường sống
của động vật hoang dã, cải thiện môi trường cho hoạt động của sinh vật đất. Với những
lợi ích này nông lâm kết hợp có vai trò cải thiện cuộc sống của người nông dân, giúp
xóa đói giảm nghèo, duy trì sự ổn định sinh thái [8].
Vai trò cung cấp lương thực và thực phẩm: Nhiều mô hình NLKH được
hình thành và phát triển nhằm vào mục đích sản xuất nhiều loại lương thực, thực
phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình. Điển hình là hệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

7
thống VAC được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn nước ta. Ưu điểm của
các hệ thống NLKH là có khả năng tạo ra sản phẩm lương thực và thực phẩm đa
dạng trên một diện tích đất mà không yêu cầu đầu vào lớn [29].
Vai trò tạo việc làm: NLKH gồm nhiều thành phần canh tác đa dạng có tác
dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân.
Vai trò tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít đòi
hỏi về đầu vào, các hệ thống NLKH dễ có khả năng đem lại thu nhập cao cho nông hộ.
Vai trò giảm rủi ro trong sản xuất và tăng mức an toàn lương thực: Nhờ có
cấu trúc phức tạp, đa dang được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương hỗ (có
lợi) giữa các thành phần trong hệ thống, các hệ thống NLKH thường có tính ổn định
cao trước các biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên (như dịch sâu bệnh, hạn hán,
v.v ). Sự đa dạng về loại sản phẩm đầu ra cũng góp phần giảm rủi ro về thị trường

“Trong vòng hai thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX, dưới sự bảo trợ của
nhóm nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (CGIAR) nhiều trung tâm nghiên cứu nông
nghiệp quốc tế được thành lập ở nhiều khu vực trên thế giới nhằm nghiên cứu nâng
cao năng suất của các loại cây trồng và vật nuôi chủ yếu ở các vùng nhiệt đới. Tuy
nhiên các nhà quản lý đã sớm nhận thấy rằng các kỹ thuật thâm canh mới đã làm
tăng nhu cầu phân bón và các chi phí đầu vào khác trong khi đó vẫn còn một bộ
phận lớn nông dân nghèo nằm ngoài tầm ảnh hưởng tích cực của cuộc cách mạng
trên. Phần lớn các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế và các chương trình
phát triển nông nghiệp quốc gia trong thời gian này mới chỉ tập trung nghiên cứu
các loại cây trồng riêng rẽ trong khi nông dân lại canh tác một cách tổng hợp: Trồng
xen các loại cây nông nghiệp khác nhau, cây ngắn ngày với cây gỗ dài ngày.
Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nông nghiệp trên cùng một diện tích là
một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân nhiều nước trên thế giới. Theo King (1987)
[45], cho đến thời trung cổ ở châu Âu vẫn tồn tại một tập quán phổ biến là “chặt và
đốt” rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp hoặc sau khi thu
hoạch nông nghiệp. Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ
19, và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận những năm 1920. Nhiều phương thức
canh tác truyền thống ở châu Á, châu Phi và khu vực nhiệt đới châu Mỹ đã có sự phối
hợp cây thân gỗ với cây nông nghiệp để nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ cho sản xuất
nông nghiệp và tạo ra các sản phẩm phụ khác: gỗ, củi, đồ gia dụng
Du canh được đánh giá là phương thức canh tác cổ xưa nhất, lúc này con người
đã tích lũy được ít nhiều những kiến thức sơ đảng về tự nhiên. Loài người đã vượt qua
thời kỳ này bằng cuộc cách mạng về kỹ thuật, chăn nuôi và trồng trọt. Song không phải
tất cả các nước, có không ít các nước vận động rất chậm sau cuộc cách mạng này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

9
Sau du canh sự ra đời của phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới được xem


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

10
+ Sầu riêng - cây gỗ - Quế - Cà phê.
+ Cà phê - 2 hoặc 3 tầng cây gỗ hoặc xen cây ăn quả.
+ Cây lấy gỗ - Nhục đậu khẩu - Quế.
+ Cây ăn quả - cây gỗ - cây lâm nghiệp.
* Philipin: Philippin được nhiều người biết đến với các mô hình canh tác
trên đất dốc (SALT). Đây là hệ canh tác theo hướng bảo vệ đất được phát triển từ
những năm 1970 do trung tâm đời sống nông thôn (RLC) ở Baptist của Mindanao
thực hiện kỹ thuật NLKH này dựa trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu sản xuất ngô vùng
đồi núi phía nam Philippin. SALT đã đạt được mong muốn ở phần lớn các nước
châu Á và được đánh giá là một khuynh hướng canh tác phù hợp về sinh thái học,
hiệu quả kinh tế là công cụ nhạy bén.
* Thái Lan: Những vườn hộ đa tầng trên đất thổ cư thường được áp dụng
trong các cộng đồng định cư bao gồm cây lâm nghiệp lâu năm (cây gỗ lớn ) cây gỗ
vừa, cây gỗ nhỏ và củi phục vụ sinh hoạt gia đình. Cây ăn quả, cây lương thực, cây
cải tạo đất trồng xen trên những khu đất bằng.
Ngoài ra NLKH phát triển ở một số nước như: Ấn Độ nổi tiếng thế giới về
cuộc “cách mạng xanh” về canh tác NLKH trong đó hệ canh tác trong các vườn gia
đình, vườn rừng được áp dụng phổ biến. Nhờ cuộc cách mạng này mà Ấn Độ từ một
nước đông dân chẳng những không bị thiếu mà còn xuất khẩu lương thực. Trong các
cây trồng của Ấn Độ, dừa là cây đáng chú ý, người ta gọi đây là cây “chúa trời” (Tree
of heaven) hoặc cây bách dụng (Tree of hundred uses). Ngoài dừa, hồ tiêu cũng là loài
cây được chú ý, nó được trồng kết hợp trong các gia đình. Cacao là cây trồng xen với
dừa trong điều kiện nước tưới thuận lợi. Cà phê và cao su được trồng kết hợp với cây
hồ tiêu, mít và cây ăn quả khác. Tếch, mít rừng và phi lao thường được trồng kết hợp
với tre tạo thành các đai bảo vệ cũng là một hình thức phổ biến. Các mô hình
thường gặp là:

đồng mức (SALT) ở một số khu vực miền núi. Theo đó, cho đến nay các mô hình
nông lâm kết hợp bao gồm:
- Trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày với cây rừng trong giai đoạn rừng
trồng chưa khép tán
- Trồng xen cây lương thực, thực phẩm, dược liệu dưới tán rừng
- Trồng xen cây nông nghiệp ở cả 2 giai đoạn của rừng trồng: Khi rừng chưa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

12
khép tán: trồng xen lúa nương, sắn, lạc Khi rừng trồng đã khép tán: trồng xen sa
nhân dưới tán rừng
- Trồng và kinh doanh các cây công nghiệp lâu năm với cây rừng (cà phê, ca
cao, cao su.)
- Trồng và kinh doanh “rừng lương thực, thực phẩm” (rừng dẻ, rừng sến mật,
rừng dừa, rừng điều.)
- Vườn quả, vườn rừng và rừng vườn (Táo + lạc + đậu tương; Vải thiều +
dong riềng; Mít + chè, dứa;.)
- Chăn nuôi trâu bò, chăn thả luân phiên dưới tán rừng trồng (bạch đàn + keo
lá tràm + cỏ Panggola)
Từ xa xưa, nhiều dân tộc sống ở vùng núi đã sáng tạo ra rất nhiều phương
thức canh tác rừng-rẫy [26].
- Người Giarai, Êđê ở Tây Nguyên làm rẫy trên đất Bazan màu mỡ, dốc thoải,
rừng che phủ có tác dụng phục hồi độ phì sau nương rẫy. Mật độ dân cư thưa thớt, thời
gian bỏ hóa kéo dài trên 10 năm, cả đất và rừng đều không bị suy thoái, đất và rừng đủ
nuôi người và người không tàn phá rừng và đất. Mật độ dân số tăng lên, thời gian bỏ
hóa ngày một co ngắn lại. Rừng tái sinh sau nương rẫy chưa đủ thời gian phục hồi màu
mỡ cho đất đã lại bị chặt và đốt. Đất thoái hóa dần, năng suất cây trồng giảm dần, rừng
tái sinh biến mất nhường chỗ cho những trảng cỏ hoặc cây bụi. Môi trường bị đảo lộn,

vật theo phương thức NLKH; Che phủ bằng vật không sống như rơm rạ, các tấm
nhựa, ni lon; Các biện pháp công trình làm thềm bậc thang, rãnh sườn dốc
- Ở độ dốc trên 25
0
dùng các biện pháp lâm nghiệp [9], [12].
Tuy nhiên trong thực tế do sức ép về dân số của nước ta, tỷ lệ diện tích đất
canh tác/đầu người thấp nên nhiều nơi nông dân đã trồng độc canh cây nông nghiệp
ngay trên cả đất có độ dốc trên 25
0
. Vì vậy, việc canh tác NLKH là giải pháp tốt
nhất để canh tác đất dốc lâu bền trong giai đoạn hiện nay ở nước ta [31].
Ở Việt Nam trên cơ sở kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học NLKH, một
số tác giả như Hoàng Hòe, Nguyễn Đình Hường, Nguyễn Ngọc Bình đã phân hệ
canh tác NLKH ở nước ta thành 8 hệ thống chính gọi là “hệ canh tác” là đơn vị cao
nhất, dưới hệ canh tác là các “phương thức” hay “kiểu” canh tác và cuối cùng là các
“mô hình” NLKH ở các nông hộ [25]. Theo nguyên tắc phân loại này hệ canh tác
NLKH ở Việt Nam được chia thành 8 hệ sau:
1: Hệ canh tác nông - lâm; 2: Hệ canh tác lâm - súc; 3: Hệ canh tác nông -
lâm - súc; 4: Hệ cây gỗ đa tác dụng; 5: Hệ lâm - ngư; 6: Hệ nông - lâm - ngư; 7: Hệ
ong - cây lấy gỗ; 8: Hệ nông - lâm - ngư - súc [25, 35, 33].Các hệ này được chia
thành 27 kiểu canh tác/hệ thống khác nhau theo thành phần chính trong hệ thống ở
từng vùng sinh thái, các hộ gia đình sản xuất NLKH gọi là các mô hình NLKH. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

14
Các tác giả trên đã tập hợp các mô hình NLKH điển hình và phân chia các
vùng sản xuất NLKH chính, trên cơ sở phân vùng địa lý tự nhiên để xác định khả
năng thực hiện ở mỗi vùng.

Đặng Kim Vui và Cs, 2005 [33] khi nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật cải
tiến một số mô hình NLKH trên địa bàn huyện Võ Nhai - Thái Nguyên đã chỉ ra: để
làm tăng năng suất cây trồng và đảm bảo canh tác lâu bền trên đất dốc ngoài việc
lựa chọn hệ thống cây trồng phù hợp thì cần phải trồng xen các loài cây cải tạo đất
như Cốt khí, Muồng đen, Keo dậu.
Như vậy NLKH được tiến hành không chỉ nhằm nâng cao năng suất cho sản
xuất nông - lâm nghiệp mà còn tạo ra môi trường ổn định sinh thái cho mỗi vùng.
Tóm lại, NLKH có lịch sử phát triển ở Việt Nam từ rất lâu, các dạng mô hình
rất phong phú thể hiện sự phù hợp của mình trong mọi thời kỳ phát triển của đất nước.
Không chỉ từ xa xưa mà cho đến tận ngày nay, NLKH luôn được người dân, nhà nước
quan tâm và luôn ưu tiên hàng đầu trong sự phát triển của nông lâm nghiệp.
1.1.5. Sự phát triển NLKH ở Điện Biên
Ở Điện Biên, Nông lâm kết hợp được bà con các dân tộc như Mông, Thái,
Kháng đã áp dụng từ xa xưa. Nông lâm kết hợp được bà con thể hiện qua sự kết hợp
giữa làm nương, chăn nuôi và ao thả cá chứ bà con không hình dung ra Nông lâm kết
hợp thực chất là như thế nào?. Các dạng mô hình NLKH bà con áp dụng nhiều nhất trải
qua từ nhiều đời nay, được truyền từ đời này qua đời khác với mục đích tăng lượng sản
phẩm, tăng nguồn thu nhập cho hộ gia đình. Hiện nay, bà con các dân tộc trong tỉnh
vẫn còn giữ những dạng và kiểu canh tác truyền thống như trồng lúa nương, ruộng
nước ruộng bậc thang trên đất dốc dưới diện tích rừng tái sinh tự nhiên hoặc kết hợp
giữa các loại cây trồng ngắn ngày như ngô, đậu tương và cây ăn quả. Với sự thay đổi
của thời tiết, khí hậu và thiên tai ngày càng phức tạp thì bà con đã nhận thức rõ vai trò
của cây lâu năm đối với việc giữ nước và bảo tồn đất. Cùng với các chính sách hỗ trợ
giống cây dài ngày, giao đất giao rừng thì bà con ngày càng trú trọng phát triển cây
dài ngày trong hệ thống cây trồng canh tác của hộ gia đình.
Năm 2012, từ nguồn vốn Sự nghiệp Khoa học, cuối năm 2012, xã Mường
Phăng (huyện Điện Biên) triển khai dự án: "Ứng dụng các tiến bộ KHKT xây dựng
các mô hình Nông - lâm kết hợp tại xã Mường Phăng, huyện Điện Biên”. Sở Khoa
học và công nghệ là đơn vị quản lý dự án, giám sát thực tế triển khai dự án là Ban


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status