1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
()
LÊ THỊ NHÂN THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM HỒ BIỂU CHÁNH
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: BÙI THỊ TÂM
3
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU Số trang
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………..1
2. Lịch sử vấn đề……………………………………………………………...2
3. Mục đích yêu cầu…………………………………………………………..6
4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………………...7
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………...8
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÀNH NGỮ
1.1. Khái niệm về thành ngữ……………………………………………………9
1.2. Cấu tạo của thành ngữ……………………………………………………...11
1.2.1. So Sánh…………………………………………………………………...11
1.2.2. Phép đối…………………………………………………………………..12
1.2.3. Phép điệp………………………………………………………………….13
1.3. Đặc điểm của thành ngữ…………………………………………………….15
1.3.1. Tính biểu trưng…………………………………………………………....15
1.3.2. Tính dân tộc và tính cụ thể………………………………………………..16
1.3.3. Tính biểu thái……………………………………………………………..18
1.3.4. Tính hình tượng…………………………………………………………...18
1.3.5. Tính điệp và đối…………………………………………………………...19
1.4.Phân loại thành ngữ và phân biệt thành ngữ và tục ngữ…………………….-
2.2.8. Thành ngữ tính hình tượng………………………………………………50
2.2.9. Thành ngữ có tính điệp và đối………………………………………...…..51
2.3. Mục đích sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh……………...56
2.3.1. Thành ngữ miêu tả thiên nhiên trong tác phẩm…………………………...57
2.3.2. Thành ngữ miêu tả nhân vật trong tác phẩm……………………………...60
2.3.2.1. Thành ngữ miêu tả ngoại hình nhân vật………………………………...61
2.3.2.2. Thành ngữ miêu tâm lí tính cách hình nhân vật………………………...65
2.3.2.3. Thành ngữ miêu tả hàng động hoạt động nhân vật……………………..69
CHƯƠNG 3: NHỮNG SÁNG TẠO CỦA HỒ BIÊU CHÁNH TRONG VIỆC SỬ
DỤNG THÀNH NGỮ Ở MỘT SỐ TÁC PHẨM
3.1. Sử dụng thành ngữ ở dạng nguyên mẫu……………………………………76
3.2. Sử dụng thành ngữ ở dạng sáng tạo………………………………………...82
3.2.1. Thành ngữ dùng ở dạng mượn ý………………………………………….83
5
3.2.2. Thành ngữ dùng ở dạng tách đôi………………………………………….85
3.2.3.Thành ngữ dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân………….87
PHẦN KẾT LUẬN
PHẦN PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO 7
1. Lý do chọn đề tài.
Ngôn ngữ tiếng Việt vốn là phương tiện giao tiếp của con người, nó được hình
thành và tồn tại trên cơ sở vững chắc trong kho tàng văn học, nhưng trong toàn bộ hệ
thống ngôn ngữ thì thành ngữ luôn giữ vai trò quan trọng, là một kho tàng tri thức vô
cùng quý báu của nhân dân. Cũng như trong ca dao, dân ca, tục ngữ,…thì thành ngữ là
tiếng nói quen thuộc gần gũi nhất, nó được đúc kết từ kinh nghiệm cuộc sống, từ triết
lý nhân sinh quan và thế giới quan. Với hình thức cấu tạo ngắn gọn không trau chuốt,
nhìn vào ta sẽ thấy dễ đọc dễ nhớ. Vì thế, việc sử dụng thành ngữ trong giao tiếp cũng
như trong sáng tạo nghệ thuật văn học, sẽ làm cho lời nói giàu bản sắc đậm tính dân
tộc. Với đề tài “Thành ngữ trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh” thì chúng ta sẽ thấy rõ
hơn biệt tài sử dụng lớp thành ngữ của tác giả rất Nam Bộ, lấy từ chất liệu ngôn ngữ
dân gian trong cuộc sống mà nên, đọc vào ta sẽ có cảm giác rất gần gũi đến không
Ta sinh ra quá muộn ư? Hay là vì không sáng tạo được cái đẹp? Câu triết lý này quả
rất đúng. Vì thế hệ chúng ta hôm nay chỉ là sao chép và dựa vào cái sáng tạo có sẵn,
mà từ đó có cách nhìn mới để vun bồi cho nghệ thuật sáng tạo văn học. Chính vì điều
này mà người nghiên cứu thuộc thế hệ hôm nay, với những câu nói lời văn ít nhiều
cũng có ảnh hưởng và mang dáng dấp của các bậc tiền nhân đi trước. Vì lẽ đó mà tôi
chủ động tìm đến đề tài với mục đích là phải tích lũy thêm từ cái cũ mà mở rộng được
những cái mới cho riêng mình.
2. Lịch sử vấn đề.
Hồ Biểu Chánh là nhà văn lớn ở miền Nam, ông được xem là người mở đường
cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Ông còn là một trong những người viết tiểu thuyết
thành công ở giai đoạn mở đầu cho văn học Việt Nam, vì đã phản ánh đúng hiện trạng
cuộc sống xã hội Nam Bộ vào những năm đầu thế kỉ XX. Ông có hơn năm mươi năm
làm văn, viết đến sáu mươi cuốn tiểu thuyết. Hồ Biểu Chánh còn có công đóng góp hết
sức to lớn đối với văn học nước nhà ở nhiều thể loại như: tiểu thuyết, thơ ca, báo chí,
dịch thuật…Tác phẩm đầu tay là U tình dục (1909) và khi qua đời năm (1958) còn
hàng chục cuốn chưa in, hiện nay những tài liệu nghiên cứu về ông còn rất ít, chỉ nói
chung chung và khái quát chứ không đi sâu vào một vấn đề cụ thể. Những tác phẩm
của Hồ Biểu Chánh lớp thành ngữ chiếm rất nhiều, thế mà người nghiên cứu chưa thấy
được các nhà nghiên cứu chú tâm khai thác một cách triệt để, và sâu sắc từ phương
diện nội dung tư tưởng lẫn phương diện nghệ thuật. Nếu nói về phương diện nghiên
cứu thì phải kể đến các công trình nghiên cứu đáng kể như:
9
Hoài Anh “Chân dung văn học”. Nxb. Hội nhà văn - 2001 đã có nhận định về
nhà tiểu thuyết gia Hồ Biểu Chánh như sau: “Điều kì lạ ở Hồ Biểu Chánh là ông vẫn
ung dung thích thản với phong thái của một nhà hiền triết đem những bài học luân lý
của quá khứ, để nhắc nhở hiện tại và hướng tới tương lai, khuyên con người phải biết
“Vì nghĩa vì tình” nhớ đến “Cha con nghĩa nặng”, bởi mang “Nặng gánh cang
thường” khen người “Trọn nghĩa vẹn tình” vì “Đại nghĩa diệt thân” thương kẻ “Một
đời tài sắc” mà “Chút phận linh đinh” căm ghét “Nhơn tình ấm lạnh” chạy theo
“Tiền bạc bạc tiền” để đến nỗi “Kẻ làm người chịu” thấy thân phận con người trong
viết về Hồ Biểu Chánh trong “Phê bình văn học cảo” (1993) đã nhận định về tiểu
thuyết của ông: “Cái khó là câu chuyện phải sao cho có lý, lời thuật phải sao cho gọn
gàng, cái cơ mưu phải sao cho tự nhiên, cách kết cấu phải sao cho ý vị.” [20;83].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung trong quyển “Phác thảo văn học Pháp với
văn học Việt Nam hiện đại” của giáo sư Hoàng Nhân. Nxb. Mũi Cà Mau - 1998 đã
nhận định: “Hồ Biểu Chánh đã góp phần tích cực vào việc chuyển giai đoạn cho tiểu
thuyết nói riêng cho văn học dân tộc nói chung” [19;180]. Hạn chế của tác giả là đã
lẫn tránh thực tại chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta đầu thế kỉ XX. Khi lùi lại
một thế kỷ đi tìm sự trùng hợp về thời gian với các sự kiện nội dung nguyên tác. Với
phần nhận định này thì cũng chỉ nói tóm lược về sự nghiệp sáng tác văn chương của
Hồ Biểu Chánh chứ không nghiên cứu vào cụ thể của thành ngữ.
Trong cuốn “Phê bình bình luận văn học”. Nxb. Văn nghệ - TPHCM là do
những nhà nghiên cứu về tác phẩm Hồ Biểu Chánh đều có những nhận định khá sâu
sắc như:
Giáo sư Lê Đình Kỵ cho rằng: “Chúng ta không vì những mặt tiêu cực trong
cuộc đời chính trị của Hồ Biểu Chánh mà có định kiến, đi đến coi sự nghiệp sáng tác
giàu tính nhân dân của ông. Điều này chính đáng và cần thiết đối với sáng tác của các
nhà văn sống trong xã hội cũ nói chung của Hồ Biểu Chánh nói riêng”[19;72].
Về giá trị tư tưởng tác phẩm Hồ Biểu Chánh, giáo sư Nguyễn Lộc cho rằng :
“Điều Hồ Biểu Chánh quan tâm sâu xa và thể hiện đậm nét trong tác phẩm của mình
là: làm thế nào cho xã hội có được phong hóa lành mạnh. Vốn là người bản chất nhân
hậu, ông chưa bao giờ đứng về phía cái mới để đả kích cái cũ, hay ngược lại đứng về
phía cái cũ để đả kích cái mới. Thái độ của ông là tìm cách dung hòa cái mới và cái
cũ, theo ông cái mới và cái cũ đều có những ưu điểm riêng của nó”[19;72].
Tiến sĩ Lê Ngọc Trà lại cho rằng: Cái độc đáo nhất và giá trị nhất của tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh nhằm chủ yếu không phải ở chổ nó mô tả phong tục hay tuyên
truyền đạo lý mà ở chỗ thông qua mô tả phong tục, kết hợp tư tưởng là chủ nghĩa hiện
11
thực. “Cái mới và cái hay của Hồ Biểu Chánh là ông nói đạo lý đi kèm với nói chuyện
đời kể lại những cảnh đời khác nhau, có thể là không gắn gì với các biến động chính
12
người chất phác, trung thực hiền lương đã đổ mồ hôi và máu trên các miệt đồng các
kênh rạch đồng bằng sông Cửu Long.”[19;22]
Nhìn chung những công trình của các nhà nghiên cứu đã tập trung khai thác cụ
thể một cách tòan diện về cuộc đời, và quá trình sáng tác của Hồ Biểu Chánh. Qua đó
đã làm nổi bật được một con người hiền lương trung hậu sống trong xã hội kim tiền
nhưng vẫn giữ được thanh cao chánh trực. Cũng bởi một con người sống ở vùng đất
Nam Bộ, biết tận hưởng không khí trong lành của đồng quê man mác đã hun đúc nên
một tâm hồn văn sĩ. Do thế hệ Hồ Biểu Chánh còn thấm nhuần quan niệm “văn sĩ tải
đạo” trước thư lập ngôn, cho nên tác phẩm của ông dùng chứa trong không gian nghệ
thuật cụ thể. Ở mỗi tác phẩm là nhịp sống hối hả, chung đụng, bon chen trên con
đường tư sản hóa tâm lí con người luôn bị biến thiên bởi đồng tiền, quyền lực,… Bằng
ngòi bút đạo lý ông hướng con người vươn đến điều thiện lánh xa điều ác. Đó chính là
lý do những tác phẩm của ông luôn kết thúc có hậu “thiện giả thiện lai, ác giả ác
báo”. Vì lẽ đó mà về phương diện nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật ông điều có
đóng góp đáng kể và cũng có phần hạn chế. Về lớp thành ngữ chiếm rất nhiều trong
tác phẩm, mà vẫn chưa thấy công trình nghiên cứu nào sâu sắc, chỉ khai thác khái quát
chung chung về cuộc đời và nội dung tác phẩm mà thôi. Có thể mượn lời của Nguyễn
Quyết Thắng để kết luận về nhà văn Hồ Biểu Chánh: “Các nhà phê bình đa số điều
phiền trách cuộc đời chính trị của đốc phủ Hồ Văn Trung nhưng không ai phủ nhận
công sức đóng góp văn học của nhà văn Hồ Biểu Chánh”. [19;325]
3. Mục đích yêu cầu.
Trong kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt thì thành ngữ là phương tiện giao tiếp,
cũng như trong sáng tác nghệ thuật văn chương là tất yếu. Vì thành ngữ là tiếng nói là
hơi thở của văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam, không những vậy mà thành ngữ
còn tạo lập mối quan hệ giao tiếp giúp con người đến gần nhau hơn.
Đến với đề tài “Thành ngữ trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh” giúp người viết có
tư tưởng suy ngẫm về một vùng quê hẻo lánh ở Nam Bộ trước đây. Hồ Biểu Chánh đã
phán ánh cụ thể một xã hội đã xảy ra trước đó, từ thành ngữ có thể khái quát toàn bộ
nội dung tác phẩm biểu đạt được giá trị nghệ thuật sâu sắc của nhà văn, giúp tôi thấy
nên việc nghiên cứu thành ngữ còn ở dạng khảo sát chưa đi sâu một cách cụ thể, cho
nên người viết chỉ tập trung tìm hiểu thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh.
Bên cạnh đó, đòi hỏi phải chỉ ra các thành ngữ đã được sử dụng trong từng văn cảnh,
và phải nêu được tác dụng của thành ngữ, để thấy rõ được biệt tài sử dụng thành ngữ
của tác giả một cách công phu đã trọn đời đóng góp cho nền văn học nước nhà.
14
Đó là tất cả những vấn đề nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài mà người
viết muốn trình bày trong luận văn này.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Để đạt được hiệu quả trong quá trình tìm hiểu và việc nghiên cứu đề tài này,
điều quan trọng là người nghiên cứu phải xác định rõ phương pháp một cách cụ thể và
sử dụng nhiều phương pháp kết hợp lại với nhau.
Với đề tài “Thành ngữ trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh” là một đề tài mang tính
đặc trưng của chuyên môn ngôn ngữ, nên người viết tiến hành làm việc. Trước tiên là
tìm đọc tất cả những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Sau đó tổng hợp lại và
lần lượt đọc các tác phẩm cần nghiên cứu, và rút ra những nhận định ý kiến của các
nhà nghiên cứu để phục vụ cho việc làm sáng tỏ đề tài, từ đó tìm ra các thành ngữ đã
được vận dụng trong đó, kế đến là lập thành bảng thống kê và phân loại thành ngữ.
Trên cơ sở đó người viết vận dụng trong văn cảnh và cuối cùng là sử dụng phương
pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để làm nổi bật trọng tâm đề tài nghiên cứu và khẳng
định được biệt tài sử dụng thành ngữ của Hồ Biểu Chánh.
16
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÀNH NGỮ
1.1. Khái niệm về thành ngữ.
Khi nghiên cứu về thành ngữ điều trước tiên là chúng ta phải xác định được
thành ngữ, và nắm được khái niệm của thành ngữ, thì ta mới hiểu được nội dung ý
nghĩa mà thành ngữ muốn thể hiện.
Từ xưa đến nay thành ngữ luôn được xem là loại hình ngôn ngữ đặc sắc, thành
ngữ vốn gắn liền với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân, ngôn ngữ của nó rất
bình dân, gần gũi với mọi tầng lớp xã hội cho nên thành ngữ đã xuất hiện trong các
câu thơ, câu văn để làm tăng thêm tính cô đọng, hàm súc, dễ hiểu, dễ đọc. Chính vì
thế, mà việc sử dụng thành ngữ đã trở thành phương tiện phổ biến giàu tính thuyết
phục, và trở thành đối tượng thu hút được sự chú ý quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Cũng từ nhiều khía cạnh nghiên cứu khác nhau, nên có sự xuất hiện nhiều quan niệm
khác nhau, trong cách dùng nhiều từ thành ngữ khác nhau. Sau đây là một số quan
niệm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ về thành ngữ:
Tác giả Đỗ Hữu Châu với công trình nghiên “Cách bình diện của từ và từ tiếng
Việt” thì ông không dùng khái niệm để định nghĩa về thành ngữ mà ông chỉ nói đến
tính chặt chẽ về ý nghĩa thường đồng nhất với tính thành ngữ như sau:
“Cho một tổ hợp có một ý nghĩa S do các đơn vị A, B, C …mang ý nghĩa lần
vững chắc. Nghĩa của nó không phải do nghĩa của từng thành tố tạo ra. Những thành
ngữ này có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của chúng đã khác
nghĩa của những từ nhưng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [13;181].
Tác giả Hồ Lê ở cuốn “Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại” có nói: “Thành
ngữ là những tổ hợp từ (bao gồm nhiều từ hợp lại có tính chất vững chắc về cấu tạ, và
bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách hay
một trạng thái nào đó” [6;97].
Quan niệm Dương Quảng Hàm trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” có ý
kiến cho rằng: “Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn.
Ta có thể mượn để diển đạt một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn” [16;9].
Nhìn chung các tác giả có nhiều quan niệm khác nhau về thành ngữ nhưng
khách quan mà nói thì đa số các tác giả điều thống nhất với nhau rằng: “Thành ngữ là
những cụm từ cố định hoặc những tổ hợp từ mang tính chất vững chắc về cấu tạo, đặc
biệt là hình thức và nội dung hoàn chỉnh. Không những vậy mà các quan niệm còn nêu
được tính hình tượng, tính biểu cảm và tính gọt giũa bóng bẩy của thành ngữ”.
18
Trên cơ sở tổng hợp các quan niệm và cách lập luận khác nhau về thành ngữ
của các tác giả, ta có thể khái niệm thành ngữ như sau: Thành ngữ là những cụm từ cố
định được dùng để định danh cho các sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động. Thành
ngữ có nội dung và hình thức khá hoàn chỉnh. Nghĩa của thành ngữ có tính hình tượng,
tính gợi cảm và hình thức diển đạt có tính bóng bẩy, trau chuốt, giàu tính biểu cảm.
1.2. Cấu tạo của thành ngữ.
Thành ngữ là một cấu tạo gọt giũa (có tính nghệ thuật dân gian về ngôn từ).
Thành ngữ được cấu tạo theo nhiều kiểu khác nhau:
1.2.1. So sánh.
Thành ngữ so sánh còn là thành ngữ tỷ dụ hóa bắt nguồn bằng phép so sánh.
Thành ngữ so sánh là do nhiều nguyên nhân phức tạp trong đó thực tế xã hội, đặc điểm
tâm lý, truyền thống văn hóa - lịch sử đóng vai trò quan trọng. Kết cấu của thành ngữ
so sánh gồm hai vế được nối kết với nhau bằng từ có nghĩa tương đồng hay đồng nhất.
Ví dụ: Dữ như hùm
hiện cách nói cô đọng, bóng bẩy.
Tuy nhiên trong thành ngữ so sánh đôi khi còn có hình thức so sánh không có
từ so sánh “như ” mà vẫn bao hàm ý nghĩa so sánh.
Ví dụ: Cá chậu chim lồng
Đầu chày đít thớt…
Trên cơ sở đó ta chỉ đưa ra những kiểu ý nghĩa khác nhau của thành ngữ so sánh.
1.2.2. Phép đối.
Thành ngữ đối được thiết lập gồm hai vế đối nhau, từng cặp của vế này đối với
từng cặp của vế kia, tạo nên tính cân đối hài hòa làm cho thành ngữ thêm âm điệu nhịp
nhàng, dễ thuộc, dễ nhớ. Quan hệ đối ứng của hai vế được hình thành bởi thuộc tính
tương đồng về ngữ nghĩa, ngữ pháp giữa các yếu tố được đưa vào hai vế của thành
ngữ.
Ví dụ : Chim sa / cá lặn
Chân cứng / đá mền
Tai vách / mạch dừng
Tốt danh / lành áo
Chén to / kho mặn…
Bên cạnh những thành ngữ đối thì phép đối được xây dựng qua hai bậc: đối ý
và đối lời.
1.2.2.1. Đối ý:
20
Thành ngữ đối ý là bậc đối ứng giữa hai vế của thành ngữ với nhau về ý.
Ví dụ: sự đối xứng giữa “Đầu trâu” và “mặt ngựa” có quan hệ với nhau về ý
giữa hai vế của thành ngữ. Hay thành ngữ “Đời cha ăn mặn”,“đời con khác nước”
cũng là quan hệ đối ý giữa hai vế trong thành ngữ và một số thành ngữ khác.
Cá lớn nuốt cá bé
Quỷ tha ma bắt
Lên voi xuống chó
Xanh vỏ đỏ lòng
Con nhà lính tính nhà quan…
cho phép lặp (điệp) đem lại.
Nhìn chung thành ngữ cho dù được cấu tạo theo quan hệ gì đi nữa, thì nó phải
đảm bảo những đặc trưng cơ bản sau:
Các yếu tố đối ứng phải cùng phạm trù từ loại, tức cùng một thuộc tính ngữ
pháp. Nghĩa là nếu trong một thành ngữ hai yếu tố A và B đối nhau, thì bên cạnh tính
đồng nhất về mặt phạm trù ngữ nghĩa, nó còn phải đồng nhất về thuộc tính ngữ pháp là
phải cùng từ loại: cả hai là danh từ hoặc cả hai cùng là đồng từ.
Ví dụ: “Vào luồn ra cúi”, ở đây “vào” đối với “ra”, “luồn” đối với “cúi” và
chúng là những động từ.
Các yếu tố đối ứng với trong hai vế phải phản ánh những đặc trưng cùng thuộc
phạm trù. Tính cùng thuộc một phạm trù của các đặc trưng thể hiện ở chổ chúng điều
là những sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quá trình thuộc tính cùng một tiểu nhóm hay
tiểu phạm trù, cùng một bậc quan hệ, lời giống nhau.
Ví dụ: “Mình” và “đầu” trong thành ngữ “Đầu Ngô mình Sở ”, “đầu” và “tay”
trong thành ngữ “Đầu cua tai nheo”, “đầu” và “mặt” trong thành ngữ “Đầu trâu mặt
ngựa”, “đầu” và “đuôi” trong thành ngữ “Đầu voi đuôi chuột”,… đều là những từ chỉ
các bộ phận trên cơ thể con người hay sự vật.Hoặc “con”, “cháu”, “ông”, “cha”
trong thành ngữ “Con ông cháu cha” đều là những từ chỉ quan hệ biểu thị, quan hệ
thân thuộc trong gia đình, thân tộc họ hàng,…
Ngoài ra, còn có loại thành ngữ được cấu tạo rất đơn giản, không đối cũng
không phải là so sánh, thường nó được cố định hóa bằng những cụm từ hay những
mệnh đề bình thường.
Ví dụ: Châu chấu đá xe
Trứng chọi với đá
Đi guốc trong bụng
Lấy thúng úp xôi…
22
Qua cách cấu tạo của thành ngữ tiếng Việt ta thấy đó chỉ là xét trên bề nổi của
cấu trúc, của sự liên kết ngôn từ, chữ nghĩa, từ cách thể hiện cấu tạo đó ta dễ dàng
nhận thấy và hiểu được một cách thấu đáo hơn về thành ngữ.
“Khẩu phật tâm xà”,“Ba que xỏ lá” chỉ những kẻ lừa bịp, xảo trá, điểu giả,…
“Nhà dột cột xiêu ” là nhà cửa đã bị hư hỏng, không được trông nom, sửa sang,
cũng có thể đã bị bỏ hoang, nghĩa biểu trưng là chỉ sự nghèo khó.
Nghĩa của thành ngữ được cấu tạo bằng các phương pháp chuyển nghĩa như: ẩn
dụ, hoán dụ, so sánh, khoa trương,…Vì vậy, biểu trưng là lấy cái cụ thể để chỉ cái trừu
tượng dựa trên cơ sở sự tương đồng.
Ví dụ: Tre già măng mộc
Gừng càng già càng cay
Rừng vàng biển bạc… Biểu trưng theo phương thức ẩn dụ.
Ếch ngồi đáy giếng Biểu trưng cho sự thiển cận.
Thấy trăng quên đèn
Thấy lê bỏ lựu… Biểu trưng theo phương thức hoán dụ.
Chân lấm tay bùn Biểu trưng cho sự vất vả cực khổ.
Chậm như rùa Biểu trưng cho sự chậm chạp nhưng đồng thời
cũng biểu trưng cho sự tỉ mĩ, có chọn lọc.
Yếu như sên Biểu trưng cho sự yếu đuối .
Thông qua các định nghĩa về tính biểu trưng đều lấy một vật thực, việc thực
làm biểu trưng để nêu lên vấn đề cần nói đến. Và từ những ví dụ trên, đã thể hiện rõ
tính biểu trưng cụ thể của từng vấn đề. Vì vậy, từ tính biểu trưng mà nội dung của
thành ngữ không đơn thuần là những vấn đề được nói đến trong các từ ngữ tạo nên, mà
nó còn là vấn đề ẩn đằng sau các từ ngữ đó (tức nghĩa bóng của nó).
1.3.2. Tính dân tộc và tính cụ thể.
Thành ngữ giống như các từ, cùng là đơn vị ngôn ngữ nhưng thành ngữ lại
mang chức danh định danh, nhằm biểu thị khái niệm hoặc biểu trưng về thuộc tính quá
trình của sự vật. Do thành ngữ nó mang tính biểu trưng nên đồng thời nó cũng mang
tính dân tộc. Tính dân tộc của thành ngữ được thể hiện ở cả hai mặt nội dung và hình
thức.
Theo nhận định của Cù Đình Tú thì:“Dân tộc nào cũng có kho tàng thành ngữ
của mình.Vốn thành ngữ này gồm những thành ngữ do bản thân dân tộc đó tạo nên,và
những thành ngữ mượn tiếng nước ngoài.Những thành ngữ do bản thân dân tộc tạo
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì “Tính cụ thể ở đây thể hiện tính bị quy định về
phạm vi sử dụng” [2;72].
25
Ví dụ: “Chuột chạy cùng sào” đối tượng được đề cập không phải là sử dụng cho
riêng một cá nhân nào đó, mà nó chỉ dùng cho đối tượng bị coi thường, đồ rẻ mạt; với
hình ảnh con chuột là con vật bé nhỏ sống trong bóng tối, chui rút trong vực sâu ẩm
uớt, hôi thúi mà người đời luôn ghét bỏ. Vì nó chuyên đục khoét, gặm nhấm phá phách
cho nên con chuột được xem là con vật mang tính xấu xa, đáng ghét.
Nguyễn Thiện Giáp nói về tính cụ thể thì ông cho rằng: “Do có hình tượng nên
ý nghĩa của thành ngữ luôn có tính cụ thể” [3;183].
Ví dụ: thành ngữ “Chạy lông tóc gáy” thể hiện một thái độ trạng thái chạy bận
rộn, khẩn cấp khác với “Chạy như cờ lông công ”.
Qua các ý kiến phân tích về thành ngữ có tính dân tộc và tính cụ thể thì ta có
thể hình dung và dễ dàng tiếp cận đến thành ngữ. Thông thường khi quan sát người thợ
vụng may vội bị mất kim và người ham ăn vì nuốt vội mà phải chết vì nghẹn.
1.3.3. Tính biểu thái.
Tác giả Đỗ Hữu Châu đã nói về tính biểu thái:“Kèm theo sắc thái, cảm xúc sự
đánh giá có thể nói lên hoặc lòng kính trọng hoặc sự ái ngại, hoặc sự xót thương, hoặc
sự không tán thành, lòng khinh bỉ, thái độ chê bai, sự phủ định,… của chúng ta đối với
người, vật hay việc được nói đó” [2;73].
Khi sử dụng thành ngữ thì tính biểu thái bộc lộ ở thái độ khen, chê, xót
thương… về người hay vật việc được nói đến. Vì thế khi sử dụng thành ngữ cần phải
có sự chọn lựa thành ngữ cho phù hợp với đối tượng để ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ
có giá trị và thể hiện được ý định của người sử dụng. Ngược lại nếu ta không chú ý
đến sắc thái biểu cảm khác nhau của thành ngữ, thì khi sử dụng sẽ không phù hợp và
không diễn đạt được ý định của mình.
1.3.4. Tính hình tượng.
Tính hình tượng là kết quả tất yếu của tính biểu trưng. Do hình thức và nội
dung của thành ngữ được tạo thành từ lời ăn tiếng nói, qua những sinh hoạt hằng ngày
của nhân dân. Nghĩa là lấy những hình tượng vật thực, việc thực cảm nhận được quan
Ví dụ: Đầu voi đuôi chuột
Đầu trâu mặt ngựa
Vào luồn ra cúi
Gần đất xa trời…
1.4.1.1.2. Thành ngữ có kết cấu là một cụm chủ vị:
Ví dụ: Châu chấu đá xe
Gà trống nuôi con
Cá nằm trên thớt
27
Chó chê mèo lắm lông, …
1.4.1.2. Dựa vào nguồn gốc của thành ngữ, ta có hai loại:
1.4.1.2.1. Thành ngữ Thuần Việt.
Ví dụ: Nước đỗ lá môn
Đầu đường xó chợ
Nước đỗ đầu vịt
Miệng ăn núi lở…
1.4.1.2.2. Thành ngữ Hán Việt.
Ví dụ : Đồng cam cộng khổ
Chí công vô tư
Xuất đầu lộ diện
Giả nhân giả nghĩa…
1.4.1.3. Dựa và tính biểu trưng của thành ngữ, ta có hai loại:
1.4.1.3.1.Thành ngữ có tính biểu trưng thấp: là loại thành ngữ có cấu trúc là một
cấu trúc so sánh và ý nghĩa của nó được thực hiện ở cấu trúc bề mặt và thường chỉ có
một yếu tố mang tính biểu tượng mà thôi.
Ví dụ : Đẹp như tiên
Nhanh như điện…
1.4.1.3.2.Thành ngữ có tính biểu trưng cao: là loại thành ngữ có ý nghĩa ẩn dụ
sau về mặt cấu trúc đó là nghĩa bóng. Có hai hình thức để thể hiện nghĩa của thành ngữ
biểu trưng cao. Đó là ẩn dụ và hoán dụ:
Đục nước kéo cò
Lá lành đùm lá rách…
Có một số ý kiến cho rằng vấn đề vừa nêu trên là thành ngữ nhưng cũng có ý
kiến cho là tục ngữ. Cho nên việc xác định ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ là rất
cần thiết. Bởi vì thành ngữ và tục ngữ được hình thành và có sự đúc kết kinh nghiệm
sống thực tế, từ sự kết tinh trí tuệ, tinh thần của quần chúng nhân dân trong cuộc sống
hằng ngày. Vì thế thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ có sẵn, giàu hình ảnh, giàu sắc
thái biểu cảm, còn tục ngữ thì là một kết luận chính xác về kinh nghiệm sống, về quy
luật khách quan.
Theo quan niệm của Nguyễn Văn Mệnh “Trong tạp chí ngôn ngữ số 3/1972”
nhận định rằng: “Quả là thành ngữ và tục ngữ có một đường biên giới rõ ràng, nhưng
đó không phải là một bức thành ngăn tuyệt đối. Xen kẻ giữa những cột mốc biên giới,
ta vẫn thấy có những miền đất thâm canh, những lùm cây mà gốc ở phương Nam cành
lá xòe sang phương Bắc”[8;37].
29
1.4.2.1 Những nét giống nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ.
Nhìn chung ta thấy thành ngữ và tục ngữ có những nét giống nhau về cơ bản,
nhưng đồng thời ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ được phân định rõ ràng. Song
chúng đều là những từ ngữ được đúc kết từ thực tế cuộc sống, từ sự khái quát hóa hiện
thực để rút ra bản chất, quy luật mà có. Cho nên thành ngữ và tục ngữ được sử dụng
rộng rãi, tự nhiên và rất phổ biến trong xã hội.
Ví dụ: Thành ngữ: Gầy như que củi
Cơm hẩm cháo khê…
Tục ngữ: Được làm vua thua làm giặc
Hết nạc vạc đến xương…
Đó là những nét giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ. Tuy vậy, giữa thành
ngữ và tục ngữ còn có những đặc tính, đặc trưng riêng cần xác định rõ. Vì thế, việc
tiếp theo ta sẽ đi tìm hiểu những nét khác nhau giữa chúng như thế nào.
1.4.2.2.Những nét khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ.
Phân biệt ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ không phải là một đường biên
Ví dụ: Đánh rắn giữa khúc (ngữ động từ)
Nước đổ đầu vịt (ngữ động từ)
Mèo mả gà đồng (ngữ danh)
Dốt đặc cán mai (ngữ tính từ)…
Chỉ trừ một số trường hợp thành ngữ có cấu trúc là một câu đơn. Chẳng hạn
Ếch ngồi đáy giếng
Chuột chạy cùng sào…
Trong khi đó tất cả tục ngữ đều có cấu trúc ngữ pháp của đơn vị câu (câu đầy
đủ hoặc câu rút gọn).
Ví dụ: Bụt không thèm ăn mày ma (câu đơn đầy đủ)
Căn nhà má vợ (câu phức rút gọn)…
Với đặc điểm ngữ pháp khác nhau như vậy, ta thấy thành ngữ và tục ngữ là hai
loại đơn vị thuộc hai cấp độ khác nhau. Thành ngữ thì nằm ở cấp độ cụm từ (cấp độ
dưới), tục ngữ nằm ở cấp độ câu (cấp độ trên).
Điều này đã giải thích tại sao trong thành phần cấu tạo của một số tục ngữ, có
sự hiện diện của thành ngữ với chức năng là một thành phần của câu, chẳng hạn là:
Ví dụ : Cơm hàng áo chợ, ai lỡ thì ăn
Chết sông chết suối không ai chết đuối đội đèn…
1.4.2.2.3. Về mặt chức năng.
31
Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh cho các sự vật
hiện tượng, thực tế khách quan một cách hình ảnh.
Ví dụ: Dãi nắng dầm mưa
Nhà rách vách nát…
Thành ngữ làm nhiệm vụ định danh nhưng lại là đơn vị định danh bậc hai của
ngôn ngữ. Nghĩa là nội dung của thành ngữ không hướng lên, đều được nhắc đến trong
nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ mà ngụ ý điều gì đó lại suy ra từ chúng,
cho nên nghĩa của nó có tính bóng bẩy hay còn gọi là nghĩa biểu trưng.
Thành ngữ “Nhà dột cột xiêu” nghĩa đen là “nhà cửa” đã hư hỏng không được
chăm nom sửa sang, còn nghĩa bóng là nói về cảnh sinh sống khó khăn, cực khổ túng
Áo rách quần manh
Nghèo rớt mồng tơi
Cơm sung cháo giền…
Để nói về một quy luật. Chẳng hạn như: nói về một quy luật xã hội chất chứa
nhiều căm hờn người ta sẽ vùng lên đấu tranh, thì ta có câu tục ngữ “Tức nước vỡ bờ”
hay nói về một quy luật cuộc sống tốt đẹp không làm tổn hại đến ai, sống hiền hòa
chân thật thì cuối cùng ta sẽ nhận được một cuộc sống tốt đẹp “Ở hiền gặp lành” làm
ác gặp dữ, “Ác giả ác báo” đó là quy luật nhân quả nhằm cảnh tỉnh những con người
hôm nay.
Một thành ngữ không dùng độc lập tạo thành câu, còn tục ngữ thì trái lại được
dùng độc lập để tạo thành câu. Trong tác phẩm “Một chặng đường” nhà văn Nguyễn
Khải viết: “Được lòng vải mất lòng sư. Đeo cái thập gia vào cổ nay mai họ kéo về lại
khó nói” hay trong tiểu thuyết Sống nhờ Mạnh Phú Tư viết: “Bà chỉ khéo lo toan
không đâu. Rồi có được mãi mà lo liệu với không, trời sinh voi sinh cỏ”.
Từ những ví dụ trên ta thấy giữa thành ngữ và tục ngữ có sự khác nhau, có một
đường biên giới thật sự rõ ràng. Tuy nhiên đó không phải là sự ngăn cách tuyệt đối, mà
giữa chúng còn có những nét cơ bản giống nhau, để tạo điều kiện cho việc chuyển hóa
của một số tục ngữ sang thành ngữ và ngược lại.
1.5. Ý nghĩa của thành ngữ.
Cùng với những đặc điểm về hình thức và nội dung đã trình bày ở phần trên đã
giúp ta thấy được khả năng bao quát các sự vật, sự việc, hiện tượng của thành ngữ.
Bên cạnh đó, còn giúp cho người sử dụng thể hiện một cách chính xác rõ ràng ý định,
đồng thời còn bày tỏ được tình cảm của mình một cách tinh tế, cụ thể.
Cũng như trong giao tiếp hay trong sáng tác văn chương, thì thành ngữ đã trở
thành một công cụ đắc lực giúp cho người sử dụng thấy được ý nghĩa của nó. Để khi
33
sử dụng có thể rút ngắn được câu chữ và thời gian, tạo nên sự diễn đạt có tính hàm
xúc, giàu ý nghĩa thì trong lời nói lời văn sẽ giàu hình ảnh biểu cảm, nhịp điệu, hài hòa
dễ đi vào lòng người. Chẳng hạn như khi nói về sự may mắn của thành ngữ thì:
Ví dụ: Chết đuối vớ được cọc
PHẦN NỘI DUNG 35
CHƯƠNG 2: THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM HỒ BIỂU
CHÁNH
2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh.
Hồ Biểu Chánh là một tác gia văn học rất quen thuộc với giới văn chương
ở quận Càng Long (Vĩnh Bình). Năm 1932 ông làm chủ quận Ô Môn (Cần Thơ).
1934 do bất đồng ý kiến với viên chủ tỉnh nên ông đổi đi quận Phụng Hiệp.
Năm 1935 ông đổi về Sài Gòn, 1936 ông được thăng Đốc Phủ Sứ và sau đó xin
về hưu trí năm 1937. Tuy nhiên chính phủ Pháp viện cớ không có người thay thế lưu
dụng ông cho đến cuối tháng 6/1941.
Tháng 8/1941 ông được cử làm Nghị Viên hội đồng Liên Bang Đông Dương,
sau đó ông lại được làm Nghị Viên hội đồng Thành Phố Sài Gòn kiêm chức Đốc Lý.
Năm 1942 - 1944 ông làm Nghị Viên Hội Đồng Quảng Trị Sài Gòn Chợ Lớn.
Năm 1946 bác sĩ Nguyễn Văn Thính mời ông lãnh Bộ Nội Vụ trong chính phủ