Thành ngữ trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh - Pdf 28


1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
()
LÊ THỊ NHÂN THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM
HỒ BIỂU CHÁNH

Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: BÙI THỊ TÂM
Lê Thị Nhân
3
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT

PHẦN MỞ ĐẦU Số trang
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………..1
2. Lịch sử vấn đề……………………………………………………………...2
3. Mục đích yêu cầu…………………………………………………………..6
4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………………...7
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………...8
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÀNH NGỮ
1.1. Khái niệm về thành ngữ……………………………………………………9
1.2. Cấu tạo của thành ngữ……………………………………………………...11
1.2.1. So Sánh…………………………………………………………………...11
1.2.2. Phép đối…………………………………………………………………..12
1.2.3. Phép điệp………………………………………………………………….13
1.3. Đặc điểm của thành ngữ…………………………………………………….15
1.3.1. Tính biểu trưng…………………………………………………………....15
1.3.2. Tính dân tộc và tính cụ thể………………………………………………..16
1.3.3. Tính biểu thái……………………………………………………………..18

2.2.4. Thành ngữ Hán Việt……………………………………………………...39
2.2.5. Thành ngữ có tính biểu trưng…………………………………………….43
2.2.6. Thành ngữ có tính dân tộc và tính cụ thể…………………………………45
2.2.7. Thành ngữ có tính biểu thái………………………………………………49
2.2.8. Thành ngữ tính hình tượng………………………………………………50
2.2.9. Thành ngữ có tính điệp và đối………………………………………...…..51
2.3. Mục đích sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh……………...56
2.3.1. Thành ngữ miêu tả thiên nhiên trong tác phẩm…………………………...57
2.3.2. Thành ngữ miêu tả nhân vật trong tác phẩm……………………………...60
2.3.2.1. Thành ngữ miêu tả ngoại hình nhân vật………………………………...61
2.3.2.2. Thành ngữ miêu tâm lí tính cách hình nhân vật………………………...65
2.3.2.3. Thành ngữ miêu tả hàng động hoạt động nhân vật……………………..69
CHƯƠNG 3: NHỮNG SÁNG TẠO CỦA HỒ BIÊU CHÁNH TRONG VIỆC SỬ
DỤNG THÀNH NGỮ Ở MỘT SỐ TÁC PHẨM
3.1. Sử dụng thành ngữ ở dạng nguyên mẫu……………………………………76
3.2. Sử dụng thành ngữ ở dạng sáng tạo………………………………………...82
3.2.1. Thành ngữ dùng ở dạng mượn ý………………………………………….83

5
3.2.2. Thành ngữ dùng ở dạng tách đôi………………………………………….85
3.2.3.Thành ngữ dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân………….87
PHẦN KẾT LUẬN
PHẦN PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài.
Ngôn ngữ tiếng Việt vốn là phương tiện giao tiếp của con người, nó được hình
thành và tồn tại trên cơ sở vững chắc trong kho tàng văn học, nhưng trong toàn bộ hệ
thống ngôn ngữ thì thành ngữ luôn giữ vai trò quan trọng, là một kho tàng tri thức vô
cùng quý báu của nhân dân. Cũng như trong ca dao, dân ca, tục ngữ,…thì thành ngữ là

sự sáng tạo độc đáo trong cách dùng từ. Tôi càng khẳng định rằng cuộc đời ông luôn
gắn liền trong các tác phẩm, mượn hình ảnh nhân vật để nói lên nỗi thống khổ của
cuộc đời mình, và xúc động thay khi phải đọc những trang cuộc đời thật quá bất công
của những con người nghèo, tôi mường tượng như chính cuộc đời mình có trong đó.
Từ tác phẩm tôi muốn tự rèn luyện bản thân mình có được bước đi vững vàng trong
cuộc đời hơn.
Với câu triết lý sâu sắc nhất của nhà văn Trung Quốc đã nói: “Thế hệ chúng ta
thật đáng buồn, đáng tội, tất cả những lời hay tiếng đẹp đã được tiền nhân sử dụng cả.
Ta sinh ra quá muộn ư? Hay là vì không sáng tạo được cái đẹp? Câu triết lý này quả
rất đúng. Vì thế hệ chúng ta hôm nay chỉ là sao chép và dựa vào cái sáng tạo có sẵn,
mà từ đó có cách nhìn mới để vun bồi cho nghệ thuật sáng tạo văn học. Chính vì điều
này mà người nghiên cứu thuộc thế hệ hôm nay, với những câu nói lời văn ít nhiều
cũng có ảnh hưởng và mang dáng dấp của các bậc tiền nhân đi trước. Vì lẽ đó mà tôi
chủ động tìm đến đề tài với mục đích là phải tích lũy thêm từ cái cũ mà mở rộng được
những cái mới cho riêng mình.
2. Lịch sử vấn đề.
Hồ Biểu Chánh là nhà văn lớn ở miền Nam, ông được xem là người mở đường
cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Ông còn là một trong những người viết tiểu thuyết
thành công ở giai đoạn mở đầu cho văn học Việt Nam, vì đã phản ánh đúng hiện trạng
cuộc sống xã hội Nam Bộ vào những năm đầu thế kỉ XX. Ông có hơn năm mươi năm
làm văn, viết đến sáu mươi cuốn tiểu thuyết. Hồ Biểu Chánh còn có công đóng góp hết
sức to lớn đối với văn học nước nhà ở nhiều thể loại như: tiểu thuyết, thơ ca, báo chí,
dịch thuật…Tác phẩm đầu tay là U tình dục (1909) và khi qua đời năm (1958) còn
hàng chục cuốn chưa in, hiện nay những tài liệu nghiên cứu về ông còn rất ít, chỉ nói
chung chung và khái quát chứ không đi sâu vào một vấn đề cụ thể. Những tác phẩm
của Hồ Biểu Chánh lớp thành ngữ chiếm rất nhiều, thế mà người nghiên cứu chưa thấy
được các nhà nghiên cứu chú tâm khai thác một cách triệt để, và sâu sắc từ phương
diện nội dung tư tưởng lẫn phương diện nghệ thuật. Nếu nói về phương diện nghiên
cứu thì phải kể đến các công trình nghiên cứu đáng kể như:


“Phương ngữ Nam Bộ”. Nxb. KHXH - Hà Nội. 1995 với bài viết: “Ngôn ngữ Hồ Biểu
Chánh những phương diện cần nghiên cứu” viết về vấn đề phương diện nghiên cứu
ngôn ngữ, và những đặc điểm ngôn ngữ của Hồ Biểu Chánh. Ở bài nghiên cứu này tác

10
giả chỉ đi sâu vào vấn đề ngôn ngữ, mà đặc biệt là phương ngữ Nam Bộ, chứ không
nói gì đến thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh. Đồng thời tác giả còn chỉ ra
được phần nào tầm quan trọng của ngôn ngữ tác phẩm Hồ Biểu Chánh đối với các nhà
nghiên cứu ngôn ngữ.
Nhà phê bình Thiếu Sơn trong cuốn “Thiếu sơn toàn tập” (tập 1) là người đã
viết về Hồ Biểu Chánh trong “Phê bình văn học cảo” (1993) đã nhận định về tiểu
thuyết của ông: “Cái khó là câu chuyện phải sao cho có lý, lời thuật phải sao cho gọn
gàng, cái cơ mưu phải sao cho tự nhiên, cách kết cấu phải sao cho ý vị.” [20;83].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung trong quyển “Phác thảo văn học Pháp với
văn học Việt Nam hiện đại” của giáo sư Hoàng Nhân. Nxb. Mũi Cà Mau - 1998 đã
nhận định: “Hồ Biểu Chánh đã góp phần tích cực vào việc chuyển giai đoạn cho tiểu
thuyết nói riêng cho văn học dân tộc nói chung” [19;180]. Hạn chế của tác giả là đã
lẫn tránh thực tại chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta đầu thế kỉ XX. Khi lùi lại
một thế kỷ đi tìm sự trùng hợp về thời gian với các sự kiện nội dung nguyên tác. Với
phần nhận định này thì cũng chỉ nói tóm lược về sự nghiệp sáng tác văn chương của
Hồ Biểu Chánh chứ không nghiên cứu vào cụ thể của thành ngữ.
Trong cuốn “Phê bình bình luận văn học”. Nxb. Văn nghệ - TPHCM là do
những nhà nghiên cứu về tác phẩm Hồ Biểu Chánh đều có những nhận định khá sâu
sắc như:
Giáo sư Lê Đình Kỵ cho rằng: “Chúng ta không vì những mặt tiêu cực trong
cuộc đời chính trị của Hồ Biểu Chánh mà có định kiến, đi đến coi sự nghiệp sáng tác
giàu tính nhân dân của ông. Điều này chính đáng và cần thiết đối với sáng tác của các
nhà văn sống trong xã hội cũ nói chung của Hồ Biểu Chánh nói riêng”[19;72].
Về giá trị tư tưởng tác phẩm Hồ Biểu Chánh, giáo sư Nguyễn Lộc cho rằng :
“Điều Hồ Biểu Chánh quan tâm sâu xa và thể hiện đậm nét trong tác phẩm của mình

Hồng Dân, Trịnh Hoàng Mai đều nhất trí ở chổ: “ Hồ Biểu Chánh đã vận dụng khẩu
ngữ hàng ngày nâng lên thành ngôn ngữ văn chương trong tác phẩm, khác với lối văn
ước lệ, biền ngẫu trước đó”[19;75]. Tác giả chỉ đi sâu vào vấn đề ngôn ngữ đặc biệt là
phương ngữ Nam Bộ, chứ không nói về thành ngữ của Hồ Biểu Chánh.
Phạm Thế Ngũ cũng có viết: “Câu văn Hồ Biểu Chánh nói chung giản dị ngắn
gọn nhất là ở chổ thuật việc và đối thoại giọng thường suông đuột in hệt cách nói của
cửa miệng bình dân nên dễ đọc dễ hiểu”[19;371]. Hay Trần Hữu Tá với bài viết: “Một
cảm nghĩ nhân đọc lại tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh ” đã nói “Hồ Biểu Chánh đã việt
hóa tác phẩm nước ngoài như: “Cay đắng mùi đời, Chúa tàu Kim Qui, Ngọn cỏ gió
đùa, …nhưng vẫn có sắc thái riêng, giá trị riêng, người đọc vẫn cứ ngỡ là gặp ở đây
những vùng đất Nam Bộ, sống lại không khí một thời của vùng đất này với những

12
người chất phác, trung thực hiền lương đã đổ mồ hôi và máu trên các miệt đồng các
kênh rạch đồng bằng sông Cửu Long.”[19;22]
Nhìn chung những công trình của các nhà nghiên cứu đã tập trung khai thác cụ
thể một cách tòan diện về cuộc đời, và quá trình sáng tác của Hồ Biểu Chánh. Qua đó
đã làm nổi bật được một con người hiền lương trung hậu sống trong xã hội kim tiền
nhưng vẫn giữ được thanh cao chánh trực. Cũng bởi một con người sống ở vùng đất
Nam Bộ, biết tận hưởng không khí trong lành của đồng quê man mác đã hun đúc nên
một tâm hồn văn sĩ. Do thế hệ Hồ Biểu Chánh còn thấm nhuần quan niệm “văn sĩ tải
đạo” trước thư lập ngôn, cho nên tác phẩm của ông dùng chứa trong không gian nghệ
thuật cụ thể. Ở mỗi tác phẩm là nhịp sống hối hả, chung đụng, bon chen trên con
đường tư sản hóa tâm lí con người luôn bị biến thiên bởi đồng tiền, quyền lực,… Bằng
ngòi bút đạo lý ông hướng con người vươn đến điều thiện lánh xa điều ác. Đó chính là
lý do những tác phẩm của ông luôn kết thúc có hậu “thiện giả thiện lai, ác giả ác
báo”. Vì lẽ đó mà về phương diện nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật ông điều có
đóng góp đáng kể và cũng có phần hạn chế. Về lớp thành ngữ chiếm rất nhiều trong
tác phẩm, mà vẫn chưa thấy công trình nghiên cứu nào sâu sắc, chỉ khai thác khái quát
chung chung về cuộc đời và nội dung tác phẩm mà thôi. Có thể mượn lời của Nguyễn

năng, một phong cách rất riêng đậm chất Nam Bộ.
Khi thực hiện đề tài người nghiên cứu chỉ ở góc độ ngôn ngữ và tìm hiểu thành
ngữ để làm nổi bật được nội dung lẫn giá trị biểu đạt và tác dụng của “Thành ngữ
trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh”.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Về mặt phạm vi của đề tài nghiên cứu “Thành ngữ trong tác phẩm Hồ Biểu
Chánh” thì có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều bình diện khác nhau, nhưng nhìn
chung nhiều công trình nghiên cứu này chỉ nhận xét khái quát chung chung chưa rõ
ràng kể cả nội dung lẫn nghệ thuật trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh. Đặc biệt là lớp
thành ngữ không có công trình nào khai thác toàn diện về những đóng góp của ông, dù
biết rằng đề tài này đã gây không ít khó khăn trong quá trình nghiên cứu, nhưng nó
cũng có sự lôi cuốn hấp dẫn làm cho người viết được tìm hiểu và học hỏi nhiều hơn.
Cùng với số lượng tác phẩm tài liệu nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh còn hạn chế,
nên việc nghiên cứu thành ngữ còn ở dạng khảo sát chưa đi sâu một cách cụ thể, cho
nên người viết chỉ tập trung tìm hiểu thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh.
Bên cạnh đó, đòi hỏi phải chỉ ra các thành ngữ đã được sử dụng trong từng văn cảnh,
và phải nêu được tác dụng của thành ngữ, để thấy rõ được biệt tài sử dụng thành ngữ
của tác giả một cách công phu đã trọn đời đóng góp cho nền văn học nước nhà.

14
Đó là tất cả những vấn đề nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài mà người
viết muốn trình bày trong luận văn này.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Để đạt được hiệu quả trong quá trình tìm hiểu và việc nghiên cứu đề tài này,
điều quan trọng là người nghiên cứu phải xác định rõ phương pháp một cách cụ thể và
sử dụng nhiều phương pháp kết hợp lại với nhau.
Với đề tài “Thành ngữ trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh” là một đề tài mang tính
đặc trưng của chuyên môn ngôn ngữ, nên người viết tiến hành làm việc. Trước tiên là
tìm đọc tất cả những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Sau đó tổng hợp lại và
lần lượt đọc các tác phẩm cần nghiên cứu, và rút ra những nhận định ý kiến của các

PHẦN NỘI DUNG 16
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÀNH NGỮ
1.1. Khái niệm về thành ngữ.

Vũ Ngọc Phan trong quyển 2 “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam tập 3” cho
rằng: “Thành ngữ là một phần câu sẳn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người
đã quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn” [18;48]
Hoàng Văn Hành trong quyển “Kể chuyển thành ngữ, tục ngữ” thì: “Thành ngữ
là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái, cấu trúc hòan chỉnh, bóng bẩy về ý
nghĩa được sử dụng rộng rải trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là khẩu ngữ” [5;21].
Đái Xuân Ninh trong “Họat động của từ tiếng Việt” đã khẳng định rằng:“Thành
ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất tính độc lập ở cái mức độ
nào đó và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh” [9;212].
Theo quan niệm của Nguyễn Hữu Huỳnh trong quyển “Tiếng Việt hiện đại”
như sau: “Thành ngữ là một cụm từ cố định có tính hoàn chỉnh về nghĩa, có sắc thái

17
biểu cảm, có tính hình tượng và tính cụ thể. Phần lớn thành ngữ đồng nghĩa hoặc
tương đương với một từ (danh từ, động từ, tính từ)” [4;212].
Nguyễn Văn Mệnh “Ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ” thì: “Thành ngữ giới
thiệu một hình ảnh, một hiện tượng,một trạng thái, một tính cách, một mức độ” [8;13].
Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ và nhận diện từ tiếng Việt” đã nói rằng:
“Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có giá trị
gợi tả tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ. Thành ngữ biểu thị khái
niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể. Tính hình tượng của
thành ngữ được xây dựng dựa trên cơ sở của hiện tượng so sánh và ẩn dụ” [3;181].
Cù Đình Tú trong “Phong cách học tiếng Việt” ông quan niệm thế này: “Thành
ngữ là những tổ hợp từ có sẳn (cụm từ cố định) trong ngôn ngữ có chức năng định
danh như: từ dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hoạt động” [12;274]. Ông đã khái quát
về thành ngữ khá hoàn chỉnh về hình thức lẫn nội dung.
Tác giả Nguyễn Văn Tu với công trình nghiên cứu “Từ và vốn từ tiếng Việt
hiện đại” đã nhận định :“Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các từ trong đó, đã mất
tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối hoàn chỉnh
vững chắc. Nghĩa của nó không phải do nghĩa của từng thành tố tạo ra. Những thành

Đen như mực
Trắng như ngà
Nhanh như cắt
Chậm như rùa
Khóc như mưa
Lạnh như tiền…
Thành ngữ so sánh được cấu tạo theo các dạng tổng quát sau:
Dạng đầy đủ: A như B
Dạng tỉnh lượt A: như B
Trong đó: A là sự vật được so sánh “như” là được so sánh và B là sự vật so
sánh.
Thành ngữ so sánh thành phần biểu thị quan hệ so sánh, ở đây cái so sánh là bộ
phận bắt buộc và ổn định trên cấu trúc bề mặt cũng như cấu trúc sâu. Nếu ta phá vỡ
cấu trúc so sánh thì sẽ không còn là thành ngữ so sánh nữa.
Trong tiếng Việt ta thấy có xuất hiện nhiều từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh
(như, như là, tựa là, mà là,…). Tuy nhiên ở thành ngữ so sánh thì đôi khi từ so sánh lại
mất đi những nó vẫn ngầm ý là so sánh. Ở cấu trúc so sánh, điều đáng chú ý là vế so

19
sánh (vế B). Bởi lẽ qua vế B của thành ngữ so sánh thường gợi tả những hình tượng
điển hình đậm đà màu sắc dân tộc.
Ví dụ: Hiền như bụt
Vắng như chùa bà đanh
Lừ khừ như ông từ vào đền
Lanh chanh như hành không muối
Nợ như chúa chốm
Xanh như tàu lá…
Điều này có thể giải thích vì sao có sự tương đồng hoàn toàn giữa các thành
ngữ so sánh của hai ngôn ngữ khác nhau. Việc xác định cấu trúc và đặc điểm hình thái
của thành ngữ so sánh, điều quan trọng là chúng ta phải xác định được tính chất so

Xanh vỏ đỏ lòng
Con nhà lính tính nhà quan…
1.2.2.2. Đối lời:
Đây cũng là một dạng thành ngữ đối, nhưng điều cần chú ý là quan hệ đối ứng
về ý có được, và thể hiện ra là nhờ các quan hệ đối ứng giữa các yếu tố trong hai vế
của thành ngữ. Quan hệ này gọi là quan hệ đối lời. Nghĩa là thành ngữ đối lời là cơ sở
cấu tạo cho thành ngữ đối ý.
Ví dụ: Thành ngữ “Mẹ tròn con vuông ” chỉ việc sinh đẻ được thuận lợi may
mắn, cả mẹ lẫn con điều được khỏe mạnh, được bình an. Với thành ngữ vừa nêu trên
rõ ràng là “mẹ” đối với “con”, “tròn” đối với “vuông” trên cơ sở đối lời ấy vấn đề chủ
yếu là vấn đề đối ý: “mẹ tròn” thì đối với “con vuông”, ta thấy có sự kết hợp hài hòa
theo mạch cảm xúc “Mẹ tròn con vuông”.
1.2.3. Phép điệp.
Tính điệp trong thành ngữ là sự giống nhau ở hình thức ngữ âm (phụ âm đầu và
vần) và đặt chúng ở vị trí khác nhau. Thành ngữ điệp còn là loại thành ngữ đối, đặc
biệt ở quan hệ đối ứng đồng nghĩa, có một trường hợp là các từ đối ứng ở vế đầu và vế
sau trùng nhau hoàn toàn về âm và về nghĩa. Quan hệ đối ứng kiểu này gọi là quan hệ
điệp (tức lặp). Từ đó ta có thành ngữ điệp (đối điệp).
Ví dụ: Từ “nói” được lặp lại trong thành ngữ “Nói trăng nói cuội”, “Nói ngon
nói ngọt”, từ “mắt” trong thành ngữ “Mắt trước mắt sau”, từ hứa trong thành ngữ
“Hứa trước hứa sau”,…
Đặc điểm cấu tạo cơ bản nhất của thành ngữ loại này là yếu tố được lặp lại,
thường là động từ và số từ, và bao giờ cũng đặt ở đầu mỗi vế tức là ở đầu thành ngữ.
Ví dụ: Ngủ gà ngủ gật
Đi đông đi tây

21
Một mất một còn
Một trời một vực…
Nội dung của thành ngữ điệp có sắc thái biểu cảm cao, nhấn mạnh được mức độ

22
Qua cách cấu tạo của thành ngữ tiếng Việt ta thấy đó chỉ là xét trên bề nổi của
cấu trúc, của sự liên kết ngôn từ, chữ nghĩa, từ cách thể hiện cấu tạo đó ta dễ dàng
nhận thấy và hiểu được một cách thấu đáo hơn về thành ngữ.
1.3. Đặc điểm của thành ngữ.
1.3.1. Tính biểu trưng.
Tính biểu trưng của thành ngữ thể hiện ở chổ hình ảnh hoặc sự việc, sự vật cụ
thể miêu tả trong thành ngữ, là nhằm nói về những ý niệm khái quát hoá. Do tính hoàn
chỉnh và bóng bẩy về nghĩa đã tạo nên tính biểu trưng của thành ngữ, và tính biểu
trưng đã trở thành đặc điểm nổi bật của thành ngữ. Tính biểu trưng có ý nghĩa quyết
định giá trị của thành ngữ. Nói về tính biểu trưng của thành ngữ ta thấy cũng có nhiều
quan niệm khác nhau:
Theo quan niệm của Đỗ Hữu Châu thì tính biểu trưng như sau: “Biểu trưng là
lấy những vật thực, việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hành động,
tình thế,… phổ biến, khái quát” [2;70]
Ví dụ: “Chó chui gầm chạn” không phải là việc miêu tả con chó chui gầm chạn
mà còn nói đến thái độ, hành động hèn hạ của một kẻ sống dựa vào bên nhà vợ. “Cá
nằm trên thớt”. Ở đây không đơn giản là việc miêu tả hình ảnh con cá nằm trên thớt,
mà thông qua hình ảnh cụ thể của sự vật vừa nêu, ta thấy ý muốn nói đến tình thế rất
nguy kịch đối với tính nạng không sao tránh khỏi, tánh mạng đang bị đe dọa, cái chết
đang gần kề. Hay thành ngữ “Chuột chạy cùng sào” cũng mang ý nghĩa biểu trưng,
cho hành động gặp phải tình thế khốn đốn, bị dồn vào bước đường cùng không lối
thoát, mặc dù đã dùng nhiều phương cách, đã xoay sở mà hết cách.
Nếu không có tính biểu trưng của thành ngữ, mà ta lại dùng một cụm từ để giải
thích nghĩa của nó, thì không thể nói lên hết nghĩa và đầy đủ ý … Ngược lại còn làm
cho nghĩa của thành ngữ trở nên lệch lạc, rườm rà.
Theo sự phân tích của Cù Đình Tú thì tính biểu trưng phải “Dựa vào quy luật
hài hòa âm thanh, dựa vào quy tắc ngữ pháp, dựa vào quy tắc chuyển nghĩa ẩn dụ và
hoán dụ, người ta chọn lấy những tổ hợp từ ngữ miêu tả những hiện tượng sinh động
và quen thuộc trong cuộc sống, dùng chúng làm dấu hiệu gọi tên những đối tượng, lối

tính dân tộc. Tính dân tộc của thành ngữ được thể hiện ở cả hai mặt nội dung và hình
thức.
Theo nhận định của Cù Đình Tú thì:“Dân tộc nào cũng có kho tàng thành ngữ
của mình.Vốn thành ngữ này gồm những thành ngữ do bản thân dân tộc đó tạo nên,và
những thành ngữ mượn tiếng nước ngoài.Những thành ngữ do bản thân dân tộc tạo

24
nên, đã ghi lại cuộc sống đất nước mình bằng những hình ảnh riêng của đất nước,và
bằng những cách diễn đạt riêng của dân tộc mình” [12;238 ].
Trong thành ngữ chúng ta có thể thấy được nét văn hóa dân tộc Việt Nam được
biểu hiện rất đậm nét. Không những có thành ngữ mà ở tục ngữ ca dao, dân ca,… nó
luôn mang một nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc. Từ đó giúp ta thấy được
quan niệm, cách nghĩ, lối sống, của con người và hình ảnh thiên nhiên làm cho chúng
ta có cảm giác quen thuộc gần gũi với đời sống của dân tộc. Thành ngữ thể hiện đậm
nét văn hóa dân tộc gắn với con người và quê hương Việt Nam.
Ví dụ: thành ngữ “Cày sâu cuốc bẩm”,“Chân lấm tay bùn”,“Đầu tắt mặt
tối”,“Dầm mưa dãi nắng”,…thể hiện sự vất vả và cần lao trong công việc. Từ đó ta
mới thấy được những sản phẩm do bàn tay bé nhỏ của những người lao động nghèo
khó làm nên, cho nên cần phải trân trọng những giá trị của người lao động phải đánh
đổ bằng sức lao động mà có.
Hay hình ảnh những con vật, đồ vật quen thuộc luôn tồn tại trong đời sống con
người hằng ngày cũng được nói đến như: Thành ngữ “Ăn như mèo”,“Làm như mèo
mửa”,“Chó chê mèo lắm lông”,“Đầu voi đuôi chuột”,“Nồi nào vung nấy”,“Ăn cháo
đá bát”…
Ngoài ra còn có thành ngữ thể hiện đậm nét lịch sử, truyền thống dân tộc như:
“Con rồng cháu tiên”, “Vắng như chùa bà đanh”, “Áo gấm về làng”,… và cũng có
thành ngữ ra đời trong một thời kì lịch sử nhất định như: “Tam tòng tứ đức”, “Công
dung ngôn hạnh”, “Đa nghi như Tào Tháo”,…
Đây là những thành ngữ mang đậm nét lịch sử, quê hương, đất nước, mỗi dân
tộc hay đất nước điều có một thành ngữ riêng, ý nghĩa khác nhau giúp ta tránh được sự

có giá trị và thể hiện được ý định của người sử dụng. Ngược lại nếu ta không chú ý
đến sắc thái biểu cảm khác nhau của thành ngữ, thì khi sử dụng sẽ không phù hợp và
không diễn đạt được ý định của mình.
1.3.4. Tính hình tượng.
Tính hình tượng là kết quả tất yếu của tính biểu trưng. Do hình thức và nội
dung của thành ngữ được tạo thành từ lời ăn tiếng nói, qua những sinh hoạt hằng ngày
của nhân dân. Nghĩa là lấy những hình tượng vật thực, việc thực cảm nhận được quan
sát được. Vì vậy, điều trước tiên ta bắt gặp trong thành ngữ có sự tái hiện những hình
tượng vật thực việc thực. Nhờ có tính hình tượng nên thành ngữ có tính cụ thể. Do ý
nghĩa của thành ngữ thường vượt khỏi ý nghĩa trực tiếp của các sự vật hiện tượng.
Theo nhận định của Nguyễn Thiện Giáp thì tính hình tượng là: “Những hình
ảnh trong thành ngữ đều tồn tại độc lập, song song với ý nghĩa của thành ngữ. Vì thế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status