ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỞNG ĐẠI HỌC KHOA MỌC XÃ H ội VÀ NHẢN VÀN
+>Ỏ TIIỊ Tllll
X€AA X€T CÓCH DI€N ĐỌĨ
cnu TlếNG VlệT
củn NGƯỜÍ NƯỚC NGO m
KH! HỌC TlếNG Vlệĩ
( 'hint'll njjimli : 1 Ị luận Ii”ôn ngũ
Mil SŨ : 5.04.(If;
I.IIẬN ẦM THẠ/. ’ KH' >A 11' X' Nc:í? VĂN
N< Il'U l HU'ỚNCi_l)ẰN ỉ ;M( >A l-IOC’ :
I’CN.I-TS. NCUif-N C'-V • DÂM
HÀ NỘI - 1997
MỞ ĐẦU
1. Đã từ lâu, Việl Nam có quan hệ nhiéu mặt với nhiều nước trén
thế giới. Đặc biệt, trong thời kỳ mở cửa hiện nay, mối quan hệ, giao
lưu ấy càng dược tăng cưòng, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu. Cùng với sự mở rộng về quan hệ chính trị và kinh tế, sự giao lưu
về văn hoá, xã hội cũng được quan tâm đặc biệt. Để góp phần phá vỡ
sự ngăn cách giữa các nền ván hoá, giũa các dân tộc, thì ngôn ngữ là
chiếc cầu nối vô cùng quan trọng. Chính vì vậy nhu cầu học ngoại
ngữ của người Việt Nam và ngược lại nhu cầu học tiếng Việt của
người nước ngoài cũng ngày càng tăng.
Ở Việt Nam, ngành dậy tiếngViệt cho người nước ngoài đã có
lịch sử 40 năm. Riéng khoa tiếng Việt -cơ sở duy nhất dạy tiếng Việt
cho người nước ngoài có tính pháp nhân -cũng đã có lịch sử gần 30
năm (Theo quyết dinh thành lập khoa ft én g Việt thuộc Irường dại học
*Iong hợp Hà Nội cùa Bó trưởng Bó dại học và trung học chuyén
nghiệp, tháng 12 năm 1968).
Trong quá trình giảng đậy tiếng Việt cho người nước ngoài,
cùngvóiviéctìm ra một hệ phương pháp dạy tiếng Việt nhàm đạt hiệu
1. Về hư từ: dùng thừa quan hệ từ “để”.
2. Về trật tự từ : động từ “bắt chước” cần phải dứng sau chù ngữ
của cảu là “người Nhật” .
3. Về nghĩa của từ : cán thay từ “tốt” bằng từ “giỏi”.
Qua ví dụ trén, chứng ta có thể thấy các lỗi của người nước ngoài khi
diễn đạt câu tiếng Việt rất phong phú, da dang nhưng cũng khá phức
tạp, rối rắm. Chính vì vậy, luận án của chúng tói khóng thể đề cặp
đến tất cả các loại lỗi thuộc các lĩnh vực khác nhau như ngữ ám, từ
vựng, ngữ pháp. Luận án chỉ tập trung nghiên cứu những lỗi về hu từ
và trát tư từ. Bởi vì phương thức hư từ và phương thức trật tự từ là hai
phương thức ngữ pháp quan trọng cùa tiếng Việt . Và trong thực tế,
chúng tôi thấy người nước ngoài dùng sai hư từ và trật tự từ rất nhiều
3.Để viếl luận án này, từ nhiéu năm nay, trong quá trình giảng
dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, chúng tôi đã tiến hành ghi
chép,thu thập những câu nói sai của sinh vién khi trực tiếp aạv họ và
những câu viết sai trong các bài viết của sinh vién . Số lượng cáu sai
dược dùng để khảo sát trong luận án là 500 cảu của các sinh vién
thuộc 17 quốc tịch khác nhau : Nga, Trung Quốc, Nhặt, Scotland, Hàn
Quốc, Thái Lan, Anh, Mỹ, Lào, úc, Thụy Điển, Scotland, Canada,
Rumani, CuBa, Mông cổ, Hà Lan.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụnc khi khảo sát các lỗi về
hư từ và trật tự từ là phương pháp miêu tả, phương pháp thốnc. kê và
phương pháp so sánh đối chiếu. Khi tiến hành chữa các cáu sai ,
chúng tôi sử dụng cấc thao tác như thay thế , chêm xen, lược bỏ và
chuyển đổi vị trí các thành tố ncữ pháp trong cáu .
4. Nghiên cứu cách diễn đạt cảu tiếng Việt của người nước
ngoài vói các lỗi dùng hư từ và trật tự từ, luận án sẽ góp phần làm nổi
rõ đặc trung đơn lập, không biến đổi hình thái của tiếng Việt cũng
như vai trò đặc biệt quan trọng của các phương thức ngữ pháp như hư
từ và trật tự từ trong tiếng Vỉệt. Mặt khác ,những kết quả nghiên cứu
Nhờ các hư từ, các ngôn ngữ này có thể biểu thị và phản biệt các ý
nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp khác nhau .
Xem xét các câu sau đáy trong tiếng Việí :
1) Tôi hỏi cô ấy.
2) Tôi hôi cho cô ấy.
Câu (1) không dùng hư từ . Từ “cô ấy” di liền sau từ “hỏi biểu
thị đối tương trực tiếp của hành động “hỏi”. Vì vậv “có ấy” đóng vai
trò bổ ngữ true tiếp -Còn ở cáu (2) có dùng hư từ “cho “.Từ “cô ấy”
biểu thị đối tượng phục vụ của hành đống "hỏi” nén “cô ấy” đóng vai
trò bổ ngữ gián tiếp
Đối với các ngôn ngữ có biến dổi hình thái (tức là các ngôn ngữ
có dùng phụ tố) thì phương thức hư từ cũng không kém phần quan
trọng, ở các ngôn ngữ này, hu từ được dùng cả trong chức năng biểu
thị các ý nghĩa ngữ pháp đi kèm các thực từ và cả tron 2, chức năng
biểu thị các quan hệ ngữ pháp giữa các từ.
Xét các ví dụ sau đảy trong tiếng Nga :
1) X ó 'yfy U ư rtxí (tôi sẽ đọc)
2) KmaAsỷUSL y ’izHHKa-(sách cho học sinh)
Ở ví dụ (1) có Sygy là hình thái của từ ểbìib- biểu thi thời tương
lai.Còn ở ví dụ (2) thì^XẨ(cho) là hư từ biểu thị quan hệ ngữ pháp
giữaKHKU(sách) vàífte«WM.(học sinh).
Một vấn đề khác cấn chú ý là cùng một nội dung ngữ nchĩa
nhưng việc có dùng hay không dùng hư từ cũng khác nhau trong các
ngôn ngữ khác nhau. Chảng hạn về mặt ngữ nghĩa, trong cấu trúc vận
động có hưóng “Tôi đi Hà Nội” không có sự khác nhau giữa tiếng
Việt và một số tiếng khác.Nhưng việc có dùng hay không dùng hư từ
lại khác nhau giữa các thứ tiếng.
Xét các ví dụ sau:
Tiêng Việt : Tôi đi Hà Nội (không có hư từ).
Tiêhg Anh : I go to HaNoi (phải có hư từ ).
thành từng nhóm ,từng cặp , căn cứ vào ý nghĩa ngũ pháp mà chúng
biểu thị.Theo chúng tôi ,đây là một vấn đề hết sức quan tronc mà
người học phải nắm được. Bed vì, trên cơ sở những hiểu biết(dù là
khái quát nhất) về ý nghĩa ngữ pháp của một số hư từ tiếng Việt ,
ngưòi học sẽ biết cách dùng các hư từ tiếng Việt một cách chính xốc
và thuẩn thục hơn ,thông qua các kỹ năng lựa chọn thay thế và lược
bỏ hư từ khi không thật cán thiết.
1. Phổ từ ( còn gọi là trạnc từ,phụ từ,từ kèm) là những từ luỏn di
kèm vói các từ khác (danh từ, động từ ,tính từ) để biểu thị những ý
nghĩa ngữ pháp khác nhau cho các từ dó .
Về ý nghĩa , phó từ khác danh từ ,động từ , tính từ ,số từ ,đại từ
ở chỗ chúng không có ý nghĩa từ vựng , ý nghĩa thực tế biểu thị tên
gọi ,hoạt động hay trạng thái hay tính chất,số lượng của sự vật . Phó
từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp nào đó tuỳ theo từng loại mà chúng đi
kèm.
Về đặc điểm ngữ pháp , phó từ không thể làm thành tố chính
của cụm từ mà chỉ làm thành tố phụ ; và không thể dùng làm thành
phần chủ ngữ hay vị ngữ trong cáu .
Các phó từ trong tiéhg Việt rất phong phú và đa dạng . Căn cứ
vào ý nghĩa ngữ pháp ,ta có thể qui phó từ thành các nhóm như sau :
1.1. Nhóm phổ từ đi kèm danh từ :
Đảy là nhóm phó từ biểu thị số lượng không cụ thể: "những, các,
mọi, mỗi, từng,một ”
Ví dụ : -Chào các bạn !
-Ngày mai, nhũng sinh viên nào đi tham quan sẽ tập trung
tại khoa.
-Moi công dán đều phải sống và làm việc theo hiến pháp
♦
và pháp luật.
-Người mẹ đang theo dõi từng bước đi của dứa con.
-Tròi mói sáng đã nóng .
1.2.2.Nhóm phó từ biểu thị ý nghĩa kết thúc cùa hành động :”xong,
roi,
Ví dụ: -Ản xong có gì tráng miệng không ?
-Anh ấy đi rổL
Từ “xong “ có thể kết hợp vói từ “rói” thành “xong rồi” để nhấn
manh vào ý nghĩa hoàn thành.
Ví dụ: _Tôi làm xong bài tập rổị
-Cô giáo dạy xong bài 12 rồị
1.2.3.Nhóm phó từ biểu thị ý nghĩa khích lệ, khuyên ngăn hoặc cầu
khiến :MHãy, đi, dừng, chớ”.
Ví dụ: - Anh hãy đọc bài này.
- Bà mua đi!
- Đừng sơ!
- Nhà có chó dữ . Chở vàơì
Hai từ “ hãy n và “ đi” có thể dùng kết hơp theo kết cấu : “ hãy
đi.”.
Ví dụ : -Anh hâv dọc bài này đ i
1.2.4. Nhóm phó từ biểu thị ý nghĩa đổng n h ất:
“ cũng, cùng, đều.”
Ví dụ : - Jack là sinh viên. Helen cũng là sinh viên.
- Ồng bà Humphri cùng làm việc ờ Việnổữ.
- Họ đều là người Anh.
Trong tiếng Việt, từ “ cũng a có thể di kèm vói danh từ.
Ví dụ: Cũng cờ cũng biển cũng cân đai
Cũng goi ông nghè có kém ai.
( Nguvễn Khuyên)
Về thực chất, từ “ cũng” vẫn thuộc nhóm từ đi kèm với động từ:
cũng có cờ, cũng có biển Tuy nhiên cách dùng những trường hợp
phó từ đi kèm danh từ như trên không phổ biến, nén chúng tôi không
__
V
_
V
càng càng
Ví dụ:- Chúng tôi càng học càng tháý khó.
- Càng ở Việt Nam láu chị ấy càng hiểu nhiều vé Việt Nam.
Ngoài ra, để biểu thị ý nghĩa tăng tiến của hành động, trạng
thái, trong tiếng Việt còn sử dung kết cấu “ngày càng” hoăc “càng
ngày càng”.
Ví dụ: - Xe chay ngàv càng nhanh.
- Lớp học của chúng ìỏi càng ngàv càng đòng vui.
-Anh ấy càng ngày càng học giỏi.
1.2.8. Cuối cùng,cần nói đến cặp phó từ “chĩ thói’- dùnc để biểu thị
tính don nhất của hành động,sự vật hoặc dể biểu thị một khoảng ngán
về không gian và thời gian.
Ví dụ : -Suốt neày anh ấy chỉ ch cá thỏi ■
-Tôi chỉ đi mộl tiếng thói ■
1.3. Nhổm phổ từ di kèm tính từ :
1.3.1. Nhóm phó từ biểu thị ý nghĩa mức độ : “rất, quá, lắm, hơi, khí,
khá, cực kỳ, vô cùng .
Ví dụ: -Cô ấy rất_ đẹp.
-Trời nóng quá ■
-Phim này hay lấm.
-Bài học hod khó .
-Giá cả hiện nay khá đắt.
V V
1.3.2. Ngoài những phó từ thường di kèm với tính từ như trên, trong
tiếng Việt còn có những phó tù vừa đi kèm với động từ vừa đi kèm
với tính từ.
mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp. Quan hệ tù khône bao giò' làm chức năng
chủ ngữ và vị ngữ trong câu. Số iưạng auan hệ tù không nhiều nhưng
sự xuất hiện của các quan hệ từ trong ỉời nói, vàn bân thì rất nhiều.
Quan hệ từ có thể dùng riénc hay từng cập. Cărì cứ vào ý nghĩs ngữ
pháp mà chúng biểu thị, có thể chia quan hệ từ như sau:
2.1. Nhóm quan hệ từ biểu thị ý nghĩa liên kết, hòa hợp: “ và, với,
cùng, cùng với”.
Ví dụ: -Chị và các cháu có khoẻ không ?
- Quân vói dán như cá với nước.
- Bà Humphri sang Việt Nam cùng chổng.
2.2. Nhóm quan hệ từ biểu thị ý nghĩa lựa chọn: “ hay, hoặc ( hay là,
hoặc là )”.
Tuy cùng biểu thị ý nghĩa lựa chọn nhưng trong cách dùng có sự
khác nhau giữa “ hay * và “ hoặc” .
+ Hay: Có thể dùng cà trong cáu nghi vấn lẫn cáu trần thuật.
Ví dụ: -Anh di haỵ tôi đi ? (+)
-Anh đi hay tỏi di cũng được (+)
+ Hoặc: Chỉ dùng trong câu trần thuật.
Ví dụ: - Ngày mai ,anh đi hoăc tôi đi. (+)
<
- Ngày mai, anh đi hoăc tôi đi ? (-)
#
2.3. Nhóm quan hệ từ dùng trong câu có vị ngữ là động từ cảm nghĩ,
nói năng ( nói, nghĩ, biết, tưởng, cho ) và thành phần bổ ngữ là một
kết cấu chủ -vị: “là, rằng”.
Ví dự: - Chi ẩy nói ]à sáng mai anh đến gặp chị ấy.
- Anh ấy nghĩ rằng tỏi sẽ không đến.
- Ai cũng cho rằng kết quả rất tốt đẹp.
2.4. Nhóm quan hệ từ biểu thị ý nghĩa đối lập, trái ngược nhau:
“ nhưng, mà, song”.
Ví dụ:- Ký túc xá của trường đại học ở kia.
- Lớp học cùa chúng tôi ở tầng 4.
+ Quan hệ từ “ mà dùng để nối một mệnh đề với danh từ dứng
trước để xác định đặc trưng của sự vật do danh từ đứns trước biểu thị.
Menh đề này làm chức năng định ngữ cho danh tù tron a níiữ danh từ.
Ví dụ: - Điều mà tối quan tâm nhất là sự yên tĩnh.
- Người mà anh gặp hòm qua là bạn tôi.
+ Quan hệ từ “ do u: biểu thị ý nghĩa vể nguyên nhán, nguồn gốc. Nó
dùng để kêít hợp một mệnh đề biểu thị ý nghiã “ tác nhàn ( tức là sự
việc do ai làm ra, do ai gảy nén )với danh từ đứng trước.
Ví dụ:- Lồi lám do tôi gây nên thật đáng trách.
- Đoàn dại biểu do_ ngài Bộ trưởng dản dấu đã đến Việt
Nam.
2.10. Nhóm quan hệ từ “ ở, tại “ biểu thị ý nghĩa “ nơi chốn, địa điểm”
mà hành động, trạng thái xảy ra.
Quan hệ từ thuộc nhóm này thường kết hợp với danh từ, ngữ
danh từ hoặc mệnh đề với nhiều chức năng ngữ pháp trong cáu.
Ví dụ:- Anh ấy ảuỊuê ra chơi.
-Bạn tôi sống ởthành phố Hồ Chí Minh.
-Ở Hà nội có nhiều di tích lịch sử.
Trong nhóm này, quan hệ từ “ tại ” dược dùng khi nói đến một
địa điểm cụ thể, chính xác hơn.
Ví dụ: - Anh ấy dạy học tai nhà.
Khác với “ tại ”, quan hệ từ “ ở ** còn dược dùng để chỉ một quá trình
•Trong tường hơp này “ở” giống như “từ “
Ví dụ: -Cô gái ở trong nhà bước ra .
Ngoài ra “ở” còn dược dùng theo nghĩa nơi chốn- đối tượng:
Ví dụ:- Cha mẹ hy vọng nhiều ở_con cái.
-Mọi người hy vọng ở anh rất.nhiều.
2.11. Quan hệ từ “ vào w: có nhiều ý nghĩa và chức năng khác nhau:
Ví dụ:-Vì anh mà tối bị phê binh.
- Vì lý do gì mà anh không đến ?
+ Cặp quan hệ từ “ do nên ”:
Ví du: -Do lũ lụt kéo dài nén đồng ruộng bị ngập úng.
- Do sâu bệnh nhiều nên nâng xuất thấp.
v.v
Trong tiếng Việt, để biểu thị mối quan hệ nguyên nhán - kết
quả, còn sử dụng cặp quan hệ từ “ sở đĩ (là ) vì ”. Tuy nhiên, diều
đáng chú ý ià nếu ở các cặp quan hệ từ “ vì nên ”, “ do nén ”
mệnh đề chỉ nguyên nhân ( có các quan hệ từ “ vì ‘\ “ do w ) có thể
đứng b phía trước hoặc sau mệnh để chỉ kết quả, thì ở các cặp neuvén
luôn luôn đứng sau mệnh đề chỉ kết quả.
Ví dụ: - Sở dĩ tôi đi học muộn là vì xe của tôi bị hỏng.
- Sở dĩ anh ấy vắng là vì anh ấy bị ốm.
2.13. Nhóm quan hệ từ “ nếu, hễ, giá, ngộ ” biểu thị ý nghĩa điều
kiện - kết quả.
Ví dụ: -Nếu mưa lúa sẽ tốt.
- He buồn anh ấy lại uống rượu.
- Giá không bị nsã ông ấy đã đến rồi.
Các quan hệ từ trong nhóm có thể kết hợp với từ “ thì ( là ) >v để
tạo thành các cặp quan hệ từ. Chẳng hạn:
+ Cặp quan hệ từ “ nếu Thì ”:
Ví dụ: Nếu trời không mưa thì tỏi không đi.
-Nếu cỏ ấy viết thư cho tôi thì tỏi sẽ trả lời.
+Căp quan hệ từ “hễ thì ”:
Ví dụ: -Hễ có dù tiền thì tôi làm nhà mới .
-Hễ trời tanh mưa thì chúng ta về
+ Cập quan hệ từ “ diá thì ”:
Ví du: Giẩ tòi biết trước diẻu đó thì tòi đã khóne làm như thế.
Giấ biết cô ấy ốm thì_tôi đã đến thãm.
-Họ đi Cnùa Hương bằng ô lô .
+ Quan hệ từ “với” biểu thị ý nghĩa cách thức của hành động.
Ví dụ: - Anh ấy làm việc vói niém say mê đặc biệt.
-Với nghị lực và sức mạnh phi thường, họ đã chiến thấng
nghèo nàn và iac hậu.
2.16. Nhóm auan hệ từ “từ, đến, tới” biểu thị khoảng cách trong
không gian hoặc thời gian.
+Quan hệ từ “từ biểu thị điểm xuất phát trong khôn" gian hoặc thời
gian hoạt động .
Ví dụ: -Hàng ngày tôi ỉàm việc tù_ 8h sáng.
-Ánh ây từ nước ngoài về.
+ Quan hệ từ “đến” biểu thị cuối curie trong không gian hoặc thời
gian của hoạt động.
Vi dụ: -Anh ấy thức đến 12h đêm.
-Cnuyen xe này đến Gia Lảm thì đỗ.
•/ ■
+Các từ “ từ” và “đêh” có thể kết hợp với nhau thành cặp quan hệ từ
“từ dến ”để hạn định một khoảng không gian hoặc thời gian nhất
định.
Vi dụ: -Từ nhà tôi đến trường xa 10km.
-Từ nay đến năm 2000 nền kinh tế Việt Nam sẽ có những
bước phát triển mới.
2.17. Nhóm quan hệ từ “với, đến, tói, về “ biểu thị sự hướng tới đối
tượng hoặc nội dung nêu ra ờ yếu tố chính, yếu tố trung tâm.
Ví dụ: -Chúng tô i nói với anh ấy.
-Họ luôn luôn nghĩ đến nhau.
-Chúng tôi trao đổi về chuyên môn.
-Anh ấy có năng khiếu về ngoai ngữ.
2.18. Nhóm quan hệ từ “dù, dầu, dảu,mặc dù, thà * biểu thị V ndiĩa
nhượng bộ.
- Ông ấy không chỉ biết tiếng Anh mà còn biết tiếnc Pháp
nữa.
+ Cặp quan hệ từ " đáu c h ỉ mà còn "
Ví dụ: - Cuốn sách này dáu chỉ dắt mà còn dò nữa.
-Tài nghệ cô ấy dâu chì chinh phục đươc nírười xem mà
còn chinh phục dược các bạn nghề.
2.20.Quan hệ từ “như” biểu thị sự so sánh .
(1) Dản theo: Đỏ Thanh [113, 28],
Các yếu tố phụ đứng sau “nhữ” có thể là một từ, một nhómyhay
một mệnh đề. ^
Ví dụ: Cô ấy dẹp như tiên.
Trời mưa như trút nước .
Anh ta làm như mèo mửa.
Trên đáy chúng tói dã tiến hành sấp xếp, phản loai một số hư từ
tiếng Việt (phó từ và quan hệ từ) trên cơ sở ý nghĩa ngữ pháp mà
chúng biểu thị. Sy sắp xếp, phán loại này mới dựa trên những đặc
điểm, tính chất khái quát nhất của các nhóm hư từ các hư từ hoặc cặp
hư từ. Ở phần sau, khi nói về lỗi cùa người nước ngoài khi sử dụng hư
từ tiêng Việt để tạo câu, chúng tôi sẽ tiếp tục phán tích, chứng minh
nhằm làm nổi bật từng khía canh ngữ nghĩa cũng như cách sử dụng
của các hư từ. Đó là một trong những nội dung quan trọng mà đề tài
của chúng tôi đặt ra và sẽ tập trung giải quvết.
G CÁC L ỗĩ VẾ SỬ DỤNG HƯ TỪ TENG VỆT
ở phần B, căn cứ vào ý nghĩa ngữ pháp^chiúi^ôiaaoitVcáeM từ
tiêng Việt thành từng nhóm, ở phần này, luận án sẽ dưa vào phán tích
và đưa ra cách sửa những lỗi của người nước ngoài khi sử dụng các
hư từ đó. Để đảm bảo tính hệ thống và tiện cho việc theo dõi, iuận
án sẽ trình bầy theo thứ tự của các nhóm hư từ, hư từ và cặp hư từ như
đã trình bầy ở phần A. Tuy nhiên, qua phán tư liệu mà chúng tôi thu