Các tác phẩm hồ chí minh và văn kiện ĐCS việt nam về CNXHKH - Pdf 34

Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

MỞ ĐẦU
Kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết của dân tộc ta.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã chủ trương
đoàn kết mọi lực lượng dân tộc và dân chủ trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất
để cùng nhau chống kẻ thù chung vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên do Đảng lãnh đạo mà đỉnh cao là
phong trào Xô viết Nghệ tĩnh đang diễn ra sôi nổi và rầm rộ trong cả nước,
ngày 18.11.1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông dương ra
chỉ thị về vấn đề thành lập Hội phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên của
Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam.
Từ đó tới nay, ở mỗi thời kỳ khác nhau có những hình thức và tên gọi
tổ chức cụ thể khác nhau phù hợp với nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng
nhưng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam nơi tập hợp các giai tầng trong
xã hội vì những mục tiêu lớn của dân tộc luôn tồn tại và phát triển, Đảng
Cộng sản Việt Nam - người chủ xướng việc hình thành Mặt trận Dân tộc
thống nhất trong thời hiện đại - vừa là thành viên tích cực của Mặt trận vừa
bằng sự sáng tạo, đúng dắn trong đường lối, chính sách, sự gương mẫu phấn
đấu vì lợi ích chung của dân tộc đã được các thành viên của Mặt trận thừa
nhận vai trò lãnh đạo.
Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hình thức tổ chức của Mặt trận
Dân tộc Thống nhất Việt nam với mục tiêu tập hợp và phát huy sức mạnh của
khối Đại đoàn kết toàn dân phấn đấu cho một nước Việt Nam độc lập, tự do,
hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

1


Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

đưa ra được những nhận xét đánh giá sâu sắc nhất. Qua tất cả những cơ sở
ban đầu đó tác giả nhận thấy đây là một vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết
không thể không nghiên cứu trong công cuộc xây dựng nước ta hiện nay. Là
một sinh viên chuyên ngành CNXHKH thì việc nghiên cứu lý luận về Mặt
trận Tổ Quốc là phù hợp với ngành học và cần thiết cho việc bổ sung kiến
thức cho bản thân và công việc sau này. Chính vì thế mà tác giả chọn đề tài:
3


Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

“Về Mặt trận trong tác phẩm “Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ hai của Đảng” của Hồ Chí Minh và trong “Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IV”, “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX” của
Đảng ta – đối chiếu và so sánh.” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần môn:
“Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện Đảng cộng sản Việt Nam về
CNXHKH”
2. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện
của Đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam, mà trọng tâm đề tài nghiên cứu là
làm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam về Mặt trận
Tổ Quốc.
Khách thể nghiên cứu của đề tài: quá trình sáng tạo, bảo vệ và phát
triển lý luận về Mặt trận có những vấn đề liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến
những quan điểm tư tưởng cụ thể đó.
Đối tượng nghiên cứu: hệ thống các quan điểm cơ bản của Hồ Chí
Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam về Mặt trận.
Đối tượng khảo sát: Lý luận về các quan điểm về Mặt trận của Hồ Chí
Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam được trình bày trong rất nhiều các tác
phẩm kinh điển. Ở mỗi tác phẩm đều đi sâu vào một hoặc một số quan điểm

nhân dân trong phường dưới điều kiện kinh tế thị trường và phương hướng,
mục tiêu, giải pháp đổi mới mối quan hệ đó.
- Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân cấp xã ở
nước ta hiện nay / Dương Xuân Ngọc (ch.b), Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Chí
Dũng... - H. : Chính trị quốc gia, 1998.
Tóm tắt nội dung: Khái lược lịch sử hình thành cấp xã, hệ thống chính
trị xã. Cơ sở lý luận của việc xác định và giải quyết mối quan hệ giữa Đảng,
chính quyền và các đoàn thể nhân dân cấp xã: quan điểm của Đảng, nội dung,
phương thức thực hiện và vấn đề đổi mới hiện nay
- Các đoàn thể nhân dân trong kinh tế thị trường / Chủ nhiệm đề tài:
Nguyễn Viết Vượng. - H. : Chính trị quốc gia, 1994.
Tóm tắt nội dung: Những thay đổi của nền kinh tế thị trường và hoạt
động của các tổ chức xã hội (các đoàn thể nhân dân) trong điều kiện mới.
Hướng thay đổi hoạt động của các tổ chức này cho phù hợp với nền kinh tế
thị trường.

5


Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

- Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay /
B.s: Phan Xuân Sơn (ch.b), Lưu Văn Sùng, Vũ Hoàng Công... - Tái bản có
sửa chữa. - H. : Chính trị Quốc gia, 2003.
Tóm tắt nội dung: Trình bày các vấn đề trong đời sống chính trị - xã hội
ở cơ sở hiện nay của nước ta như vấn đề dân chủ, các đoàn thể nhân dân trong
đời sống xã hội, những vấn đề đặt ra cho việc đổi mới, các giải pháp phát huy
vài trò của đoàn thể nhân dân...
- Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay : LA TS Chính trị học: 62.31.20.10 /

đề đối với việc học tập và nghiên cứu bộ môn CNXHKH nói chung và môn
Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện Đảng cộng sản Việt Nam nói riêng.
Tiểu luận thực hiện những nhiện vụ sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu Cơ sở lý luận về Mặt trận và hoàn cảnh ra đời các
tác phẩm.
Thứ hai: Đối chiếu và so sánh những nội dung cơ bản về Mặt trận trong
tác phẩm “Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của
Đảng”, “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV” và “Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.
Thứ ba: Ý nghĩa các quan điểm về Mặt trận của Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng Sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
5. Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu
Để tiện cho việc phục vụ nghiên cứu, học tập tác giả tôn trọng những
vấn đề theo các thời kỳ lịch sử, bám sát các tư tưởng có trong các tác phẩm
của các nhà kinh điển và văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên,
vì khối tư liệu lớn, khuôn khổ của đề tài có hạn, nhiều chỗ tác giả cũng chỉ có
thể tóm tắt những tư tưởng cơ bản. Tác giả đã sử dụng:
Phương pháp luận: để nghiên cứu được đề tài này tác giả tuân thủ các
nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử để đánh giá xem xét vấn đề. Đặc biệt
tác giả sử dụng những nguyên lý, phạm trù cơ bản như: bản chất và hiện
tượng, nguyên nhân và kết quả; quy luật lượng-chất, quy luật thống nhất và
đấu tranh giữa các mặt đối lập, mỗi quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan
hệ sản xuất, giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng… để tiến hành
nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu chung: phân tích-tổng hợp-so sánh, logic-lịch
sử, trừu tượng hóa, khái quát hóa để nghiên cứu.

7



NÔI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận về Mặt trận và hoàn cảnh ra đời các tác phẩm
1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về Mặt trận
Là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền dân chủ XHCN, Mặt trận
có chức năng: tích cực tham gia vào quá trình xây dựng, hoàn thiện nền dân
chủ XHCN và quá trình giám sát, kiểm tra, phản biện xã hội trong khuôn khổ
pháp luật xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của đảng cộng cản nhằm thỏa
mãn lợi ích công dân chính đáng của hội viên nói chung và lợi ích đặc thù của
hội viên đoàn thể mình nói riêng.
Trong quá trình xây dựng và phát triển CNXHKH, dù còn rất ít thực
tiễn của nhà nước vô sản (chỉ mới có thực tiễn Công xã Pa-ri 72 ngày đêm)
nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen luôn luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của
các tổ chức chính trị - xã hội của GCCN và nhân dân lao động khác trong
cuộc đấu tranh cách mạng của GCCN nói chung. Vấn đề tổ chức giai cấp
công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản đã đặt ra trước các nhà
sang lập ra chủ nghĩa Mác như một vấn đề lịch sử quan trọng nhất. Hai ông
nhấn mạnh ý nghĩa quyết định trong cách mạng của các mặt thuộc nhân tố
chủ quan như sự tổ chức và sự nhất trí trong những vấn đề chính trị. Khi phân
tích cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Pari (năm 1848) Ph.Ăngghen viết: “Nếu
như 40000 công nhân Pari đã có thể đạt được những kết quả to lớn như thế
trong cuộc đấu tranh với kẻ thù trội hơn họ bốn lần về số lượng thì toàn thể
công nhân Pari sẽ có thể làm được gì nếu họ hành động một cách nhất trí và
có phối hợp với nhau”. [2, 116]. Các ông luôn luôn chú ý xây dựng các tổ
chức của công nhân để giác ngộ và tổ chức công nhân nhằm đưa công nhân
trở thành giai cấp tự giác trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp và xã hội.
Chính các ông đã chủ động tham gia và cảm hóa các tổ chức chính trị của
công nhân để đưa họ đến với tư tưởng CNCS.
Trong những năm 1847-1848, xuất phát từ những điều kiện thực tế
khách quan chỉ rõ giai cấp công nhân Đức hãy còn yếu, chưa trưởng thành về

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng diễn ra trong một bối
cảnh trong nước và quốc tế có nhiều chuyển biến lớn. Từ năm 1950, phong
trào cách mạng trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Hệ thống xã hội chủ nghĩa
đã được củng cố và tăng cường về mọi mặt. Phong trào giải phóng dân tộc
vẫn tiếp tục phát triển làm rung chuyển hậu phương của chủ nghĩa đế quốc.
Phong trào bảo vệ hoà bình thế giới trở thành phong trào quần chúng rộng rãi.

10


Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

Về phía chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ. Cho tới lúc này, Mỹ đã
căn bản hoàn thành việc chia lại thị trường thế giới tư bản dưới sự khống chế
của Mỹ. Mỹ còn ra sức tiếp tay cho các đế quốc khác trong cuộc chiến tranh
xâm lược thuộc địa, chuẩn bị điều kiện hất cẳng bọn thực dân cũ, thay bằng
chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đế quốc
ngày càng sâu sắc. Trong quan hệ với Đông Dương, để cứu nguy cho Pháp
đang sa lầy trong cuộc chiến tranh và thực hiện ý đò can thiệp sâu vào Đông
Dương, Mỹ đã quyết định tăng cường viện trợ cho Pháp và quân đội bù nhìn.
Tình hình quốc tế trên đây có tác động vào Đông Dương về hai mặt. Sự
ủng hộ về tinh thần và giúp đỡ về vật chất củu các nước XHCN cho cuộc
kháng chiến của ba nước Đông Dương là một nhân tố tích cực. Song song với
những nhân tố mới tích cực, việc Mỹ cấu kết với Pháp, tăng cường can thiệp
vào Đông Dương… cũng gây cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhiều
phức tạp. Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải có những chủ trương, chính sách phù
hợp với tình hình mới.
Ở trong nước, sau 16 năm kể từ Đại hội lần thứ I của Đảng, tình hình
có những chuyển biến căn bản. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã đưa
nhân dân ta từ người mất nước lên người làm chủ đất nước. Nhưng do dã tâm

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Đảng đánh dấu một mốc quan
trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do Đại
hội vạch ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu lâu dài
của cách mạng, và thực sự là những đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận
cách mạng nước ta.
1.2.2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng cộng sản Việt
Nam
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chế độ phát xít sụp đổ, cuộc tổng
khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản thêm trầm trọng, Liên Xô ngày càng cường
thịnh, phong trào dân chủ lên cao. Thế giới chia làm hai phe: phe dân chủ
chống đế quốc do Liên Xô lãnh đạo, phe đế quốc phản dân chủ do Mỹ cầm
đầu. Phe dân chủ ngày một mạnh, phe đế quốc ngày một suy. Cán cân lực
lượng giữa hai phe đã nghiêng hẳn về phe dân chủ. Muốn thoát khỏi nạn
khủng hoảng, đế quốc Mỹ và các đế quốc khác đang ra sức chuẩn bị chiến
tranh thứ ba và mở rộng các cuộc chiến tranh xâm lược. Nguy cơ chiến tranh
đã rõ rệt. Nhiệm vụ trung tâm của giai cấp công nhân và nhân dân thế giới lúc
này là đấu tranh bảo vệ hoà bình. Dưới sự lãnh đạo của Liên Xô đứng đầu là
thống chế Xtalin, phe dân chủ mở rộng thành mặt trận hoà bình thế giới, kiên

12


Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

quyết chống bọn gây chiến. Phong trào hoà bình sâu rộng, mạnh mẽ chưa
từng có trong lịch sử. Đế quốc gây ra chiến tranh thứ ba tức là tự sát.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV diễn ra trong bối cảnh cuộc
Kháng chiến chống Mỹ đã đạt được thắng lợi. Sau đại thắng mùa xuân 1975,
đất nước ta bắt đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình thống nhất độc
lập và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Hai miền Nam Bắc thống nhất sau hơn

thành viên thứ 149 của Liên hiệp quốc. Với những hậu quả nặng nề của chiến
tranh, những khó khăn thử thách mới phát sinh, nhất là nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc rất nặng nề, cùng với những sai lầm khuyết điểm chủ quan nóng vội
trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, chậm chuyển đổi cơ chế quản lý, đã làm cho
đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội vào cuối những năm
70 của thế kỷ XX.
Hội nghị lần VI (9-1979) Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chủ
trương “Phải sửa đổi và cải tiến các chính sách hiện hành, nhất là chính sách
về lưu thông, phân phối, nhằm làm cho sản xuất bung ra”. Có thể coi đây là
chủ trương khởi đầu của quá trình tìm tòi con đường đổi mới ở Việt Nam.
1.2.3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt
Nam
Đại hội diễn ra trong bối cảnh kết thúc thế kỷ 20 và bước sang thế kỷ
21, dân tộc ta đứng trước những thời cơ và nhiều thách thức lớn. Toàn cầu
hóa diễn ra mạnh mẽ. Đây là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm
hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tùy
thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Quan hệ song phương, đa phương giữa
các quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hóa, bảo vệ môi trường,
phòng chống tội phạm, thiên tai và đại dịch...
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp vào thời điểm có ý
nghĩa trọng đại. Thế kỷ XX đã kết thúc. Thế kỷ XXI vừa bắt đầu. Toàn Đảng,
toàn dân ta đã trải qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của
Đảng, 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
1991 - 2000 và 15 năm đổi mới.
Đại hội IX có nhiệm vụ kiểm điểm và đánh giá những thành tựu và
khuyết điểm thời gian qua, đề ra những quyết sách cho thời kỳ tới. Chủ đề của
Đại hội là: phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới

pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo chuyển biến mạnh mẽ xây dựng
nền văn hóa đồng bộ với sự phát triển kinh tế - xã hội.

15


Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

Chương 2: Đối chiếu và so sánh những nội dung cơ bản về Mặt trận
trong tác phẩm “Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
hai của Đảng”, “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV” và “Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX”
2.1 Vị trí vai trò và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ Quốc trong hệ thống
chính trị và đời sống xã hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị
của nước ta hiện nay. Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp
cách mạng, là xuất phát tư thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi
quyền lực thuộc về nhân dân. Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống. Vai
trò của Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính
lịch sử thừa nhận.
Từ khi có Đảng là có Mặt trận, ngay sau khi nhân dân giành được chính
quyền, Mặt trận đã trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị.
Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động của từng bộ phận cấu
thành trong hệ thống chính trị có khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấn
đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và
giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Hiến pháp năm 1992 đã
xác định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân..." điều đó càng khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt nam là một bộ
phận không thể thiếu được của hệ thống chính trị nước ta.

Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đoàn
kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi trong
công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc”. [9, 604 ]
Đối với mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (từ 1960), Người đã
khẳng định: “Một Mặt trận của nhân dân đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi là một
lực lượng tất thắng. Hiện nay đồng bào ta ở Miền Nam cũng có “Mặt trận dân
tộc giải phóng” với chương trình hành động thiết thực và phù hợp với nguyện
vọng chính đáng của nhân dân. Do đó, có thể đoán rằng đồng bào miền Nam
nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định sẽ thống nhất, Nam Bắc nhất định sẽ
sum họp một nhà”. [9, 349]
Trong suốt quá trình hành động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã
dày công xây dựng, vun đắp cho sự lớn mạnh và sự phát triển của Mặt trận
dân tộc thống nhất, tăng cường sự ảnh hưởng của Mặt trận đối với cách mạng
Việt Nam. Đánh giá vai trò của Mặt trận không phải chỉ trong CMDTDCND,
mà còn trong CMXHCN, Người nêu rõ: “Trong cách mạng dân tộc dân chủ
17


Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

nhân dân cũng như trong các mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống
nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam”. [9,
605]
Nǎm 1936, trong cuộc Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng đã lập
Mặt trận Dân chủ Đông Dương.Phong trào Mặt trận Dân chủ lúc đó khá mạnh
mẽ, rộng khắp; nhân dân đấu tranh công khai. v.v.. Tháng 5-1941, Trung
ương họp Hội nghị lần thứ Tám. Vấn đề chính là nhận định cuộc cách mạng
trước mắt của Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; lập Mặt
trận Việt Minh. ” Trong công việc to tát kháng chiến kiến quốc, Mặt trận Liên

thể lao động và thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị, chỗ dựa vựng
chắc của Nhà nước. Nhà nước tôn trọng quyền đại diện cho lợi ích chính
đáng, hợp pháp của các đoàn thể và tạo mọi điều kiện để các đoàn thể tham
gia xây dựng, quản lý, giám sát và bảo vệ Nhà nước…
“Cuộc kháng chiến chống Mỹ là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện
và lâu dài. Đi đôi với việc tổ chức lực lượng chiến đấu trong cả nước, Đảng
hết sức coi trọng việc xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng ở miền
Nam. Đó là các đảng bộ miền Nam được củng cố, tôi luyện thành những bộ
tham mưu dày dạn trên tiền tuyến lớn; là khối liên minh công nông mà Đảng
ta đã dày công xây đắp trong cách mạng dân tộc dân chủ; là đội quân chính trị
quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, hai lực lượng chiến đấu cơ bản
trong chiến tranh cách mạng; là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam do Đảng ta lãnh đạo, mặt trận yêu nước bao gồm các đoàn thể của công
nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, học sinh, trí thức, các tổ chức tôn giáo và
đại biểu các dân tộc; là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam
Việt Nam, đã cùng với Mặt trận Dân tộc giải phóng động viên và tập hợp
đông đảo các tầng lớp nhân dân miền Nam kháng chiến cứu nước, và tranh
thủ ngày càng rộng rãi sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân và chính phủ
nhiều nước trên thế giới.” [6,129]
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IV (Do đồng chí Lê Duẩn trình bày, ngày 14 tháng 12
năm 1976): Nhân dân ta, dân tộc ta có truyền thống đoàn kết rất đáng tự hào.
Từ khi có Đảng, truyền thống ấy ngày càng phát huy mạnh mẽ trong Mặt trận
dân tộc thống nhất.
Trong thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là động viên
và tập hợp các tầng lớp nhân dân, các dân tộc anh em, các lực lượng cách
19


các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết
toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy quyền và trách nhiệm làm chủ
của nhân dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước,
thực hiện giám sát của nhân dân đối với công tác, đạo đức, lối sống của cán
20


Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và cơ quan nhà nước, giải quyết
những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.” [7, 222]
2.2 Phương thức hoạt động Mặt trận
Trong quá trình hoạt động, Mặt trận có thể sử dụng những phương thức
khác nhau:
Tuyên truyền giáo dục đường lối chính sách của ĐCS và pháp luật của
nhà nước đối với hội viên và quần chúng của mình
Hoạt động theo quy định của hiến pháp trong việc tham gia tổ chức,
xây dựng, quản lý nhà nước
Xây dựng các chương trình hành động và tổ chức cho quần chúng hội
viên thực hiện chương trình đó
Tham gia các hoạt động phối kết hợp với các tổ chức khác trong nền
dân chủ dưới sự lãnh đạo của ĐCS
Thực hiện một cách có hiệu quả vai trò kiểm tra nhân dân và phản biện
xã hội đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống dân chủ XHCN
Tự hoàn thiện mình để nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng nhu
cầu hoàn thiện dân chủ chủ XHCN.
2.2.1 Trong “Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
hai của Đảng”
Theo Hồ Chí Minh, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trước hết
phải coi trọng giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng lập trường, quan

Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, các tổ chức chính trị - xã
hội tham gia tích cực vào công tác xây dựng đảng, nhất là việc góp ý kiến,
phê bình cho cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.
“Đồng bào Kinh, hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xê đăng
hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh
em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp
nhau” [10, 379]
“... Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay
cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay.
Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác đều dòng dõi của tổ
tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con lạc
cháu hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào
lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ. Có như thế mới
thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn vẻ vang...” [10, 139]
22


Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

“Để phát triển những thuận lợi và khắc phục những khó khăn, điều cần
thiết nhất cho chúng ta là đoàn kết. Ai cũng biết hiện nay chúng ta có hai lớp
cán bộ kháng chiến và kháng bộ khác. Nhưng chúng ta phải biết rằng nay hai
lớp ấy đều là cán bộ của chính quyền nhân dân, tức là như anh em một nhà.
Cho nên chúng ta cần phải xoá bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết
với nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân. Đoàn
kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ thì chúng ta nhất định có thể
khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi mà làm tròn nhiệm vụ nhân
dân giao phó cho chúng ta.” [13,75]
Mặt trận Việt Minh với “khẩu hiệu chính là: đoàn kết toàn dân, chống
Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng ruộng đất.

công của ba dòng thác cách mạng, kết hợp những yêu cầu cơ bản của nhân
dân ta với những mục tiêu cách mạng của nhân dân thế giới là hoà bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Nhờ kết hợp sức mạnh của nhân dân
ta với sức mạnh của thời đại, nhờ đường lối quốc tế đúng đắn của Đảng,
chúng ta đã tranh thủ được sự ủng hộ rất to lớn về tinh thần và vật chất của
các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của tất cả các lực lượng cách mạng và tiến
bộ trên thế giới, tạo thành một mặt trận quốc tế rộng lớn chưa từng có ủng hộ
Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Thắng lợi của cách mạng miền Nam và của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước là thắng lợi của chiến lược tiến công. Từ cao trào "đồng khởi"
chuyển thành chiến tranh cách mạng đánh thắng chiến tranh xâm lược của đế
quốc Mỹ, cách mạng miền Nam và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một
quá trình liên tục giữ vững thế tiến công, liên tục thực hành chiến lược tiến
công. Song, trong điều kiện lấy nhỏ đánh lớn, phải biết thắng từng bước nhằm
đánh bại những âm mưu chính trị, quân sự của địch trong từng thời kỳ, đẩy lùi
địch từng bước, không ngừng củng cố trận địa cách mạng, tạo thế và lực hơn
hẳn địch để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Trong quá trình ấy, Đảng luôn
luôn coi trọng việc củng cố và bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc, nhân tố
thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh cứu nước. Do đó, đi đôi
với đẩy mạnh tiến công, Đảng chủ trương kiềm chế và đánh thắng bộ binh
địch ở miền Nam; và khi Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh, Đảng chủ trương
kiên quyết đánh thắng bất kỳ loại chiến tranh nào của Mỹ, đồng thời tìm cách
kéo Mỹ xuống thang từng bước, để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
“Nhân dân ta, dân tộc ta có truyền thống đoàn kết rất đáng tự hào. Từ
khi có Đảng, truyền thống ấy ngày càng phát huy mạnh mẽ trong Mặt trận
dân tộc thống nhất. Trong thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt
24


Tiểu luận học phần Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện ĐCS Việt Nam về CNXHKH

chúng. Có phong trào cách mạng mới làm chuyển biến được tư tưởng của
quần chúng; và chính qua phong trào, bản thân quần chúng tự đánh giá mình
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status