TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TÔN NGỌC VI
MSSV:6075400
THÀNH NGỮ
TRONG TÁC PHẨM CỦA CHU VĂN
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành: Sư phạm Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN VĂN TƯ
Cần thơ, tháng 4/2011
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích yêu cầu
4. Phạm vi nghiên cứu
Phần nội dung
Chương I. Một số vấn đề chung về thành ngữ.
I. Một số vấn đề về khái niệm thành ngữ
1. Các quan niệm về thành ngữ
2. Khái niệm thành ngữ
I. Cuộc đời và sự nghiệp của Chu Văn
1. Cuộc đời
2. Sự nghiệp sáng tác
II. Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Chu Văn
1. Thông kê và phân loại thành ngữ trong tác phẩm của Chu Văn
1.1. Thống kê
1.2. Phân loại
2. Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Chu Văn
2.1. Sử dụng ở dạng nguyên mẫu
2.2. Sử dụng ở dạng cải biển, sáng tạo
3. Mục đích sử dụng thành ngữ của Chu Văn
3.1. Miêu tả ngoại hình nhân vật
3.2. Miểu tả hành động nhân vật
3.3. Miêu tả hoàn cảnh nhân vật
3.4. Miêu tả tính cách nhân vật
Phần kết luận:
Phần phụ lục: Bảng thống kê thành ngữ trong tác phẩm của
Chu Văn
Phần mở đầu:
1. Lí do chọn đề tài.
Việt Nam ta đã trải qua bốn ngàn năm lịch sử, đã chiến đấu, giữ gìn và phát triển
để có được một Việt Nam vững chãi như hôm nay. Một đất nước độc lậpphải là một
đất nước có tiếng nói riêng của mình trên thế giới. Đối với nước ta điều đó không hề
đơn giản. Đó là cả một quá trình sáng tạo, chiến đấu, gìn giữ và phát huy để đến ngày
hôm nay kho tàng ngôn ngữ nước ta ngày càng phong phú và đa dạng nhưng vẫn giữ
được nét văn hóa riêng của mình. Có thể kể đến là ca dao, dân ca, hò, vè, tục ngữ,
thành ngữ… Trong đó thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ rất quý báo của dân tộc góp
dụng thành ngữ và mục đích sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Chu Văn để qua
đó thấy được cái hay, cái đẹp và nét độc đáo của thành ngữ trong văn chương của ông
và phong cách của ông. Qua đó người viết sẽ học hỏi kinh nghiệm và bổ sung kiến
thức cho mình.
Và một lí do nữa đó là chính vì lòng yêu tiếng Việt, yêu giá trị văn hóa của đất
nước. Tất cả những lí do trên mà người chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của
mình.
2. Lịch sử vấn đề.
Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ quý giá trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam,
nó góp phần làm cho ngôn ngữ Việt Nam phong phú và đa dạng hơn. Thành ngữ đóng
một vai trò hết sức quan trọng trong giao tiếp hằng ngày của người Việt. Nó giúp cho
việc giao tiếp trở nên thú vị, tế nhị, sắc sảo, thanh lịch, và đậm đà tính dân tộc. Chính
vì sự quan trọng và gần gũi đó, từ lâu thành ngữ đã thu hút được sự nghiên cứu của các
nhà nghiên khoa học, các nhà ngôn ngữ học và đã đạt được một số thành tựu đáng ghi
nhận.
Năm 1921 công trình nghiên cứu đầu tiên trong tiếng Việt “Về tục ngữ và ca dao”
của Phạm Quỳnh đã tạo được một bước khởi đầu trong việc nghiên cứu Tiếng Việt
nhưng vẫn còn mờ nhạt.
Năm 1976, trong quyển “Thành ngữ tiếng Việt” do Nguyễn Lực và Lương Văn
Đang (chủ biên). Công trình này tuy còn chưa bao quát được hết tất cả các thành ngữ
tiếng Việt nhưng nó đã cung cấp cho các nhà ngôn ngữ học và những ai quan tâm đến
vấn đề này một tài liệu bổ ích, có giá trị to lớn.
Trong quyển “Kể chuyện thành ngữ và tục ngữ” do Hoàng Văn Hành chủ biên.
Các tác giả đã đi sâu vào giới thiệu nguồn gốc thành ngữ thông qua kể lại các câu
chuyện vui. Qua quyển sách này ông đã phần nào định hướng cho người đọc sử dụng
đúng thành ngữ trong những trường hợp nhất định và mở rộng kiến thức trong những
mẫu chuyện thú vị.
chúng thành hai loại: Biểu trưng hoàn toàn và biểu trưng bộ phận. Bên cạnh đó, tác giả
còn phân tích khá sâu sắc một số hình ảnh biểu trưng trong thành ngữ.
Năm 1975, Nguyễn Thiện Giáp- Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ- Tạp chí
Ngôn ngữ số 3- Viện Ngôn ngữ- Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Tác giả đã khái
niệm thành ngữ, nhưng vẫn chưa đưa ra được một khái niệm cụ thể.
Đặng Thanh Hòa với bài viết: “Thành ngữ, tục ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương”
đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống số 4 năm 2004. Tác giả đã đánh giá việc vận
dụng thành ngữ, tục ngữ vào sáng tác của Hồ Xuân Hương qua hai hình thức là vận
dụng nguyên dạng và chỉ lấy ý. Bên cạnh đó tác giả còn làm nổi bật lên cách vận dụng
thành ngữ, tục ngữ trong thơ của Hồ Xuân Hương.
Ngoài ra khi nghiên cứu trên lĩnh vực báo chí các nhà nghiên cứu cũng đã có
những kết quả đáng ghi nhận, tiêu biểu là nghiên cứu của Bùi Thanh Lương với bài
viết “ Cách sử dụng thành ngữ mới trong một số ấn phẩm báo chí” đăng trên tạp chí
Ngôn ngữ & Đời sống số 9 năm 2006. sau khi khảo sát một số loại báo như: Đại đoàn
kết, Thể thao- Văn hóa, Sài gòn giải phóng, Hà Nội mới, tác giả đã nhận ra được ba
cách để tạo thành ngữ mới trên báo chí: Cải biến các thành ngữ quen thuộc nhưng
nghĩa không thay đổi bằng cách thế từ đồng nghĩa hoặc chen từ, cải biến bắng cách sử
dụng các mô hình đã có và xây dựng thành ngữ mới.
Hiện nay vấn đề nghiên cứu thành ngữ vẫn được quan tâm chú ý nhất là trong các
trường Đại học, để thấy được tầm quan trọng của thành ngữ trong sáng tác văn chương
cũng như trong giảng dạy và học tập.
Luận văn của Trần Thị Kim Giao, Đại học Cần Thơ năm 2004 nghiên cứu về
“Tìm hiểu cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan” Qua việc
nghiên cứu này chị đã làm nổi bật việc vận dụng thành ngữ trong sáng tác văn chương
của Nguyễn Công Hoan và chị cũng chỉ ra được nét độc đáo trong sáng tác của
Nguyễn Công Hoan đã làm tăng giá trị hiện thực trong sáng tác và sự tố cáo của ông
về hiện thực xã hội.
Luận văn tốt nghiệp của Lê Thị Mỹ Uyên, Đại học Cần Thơ nghiên cứu về
cái mới thật sự. Chẳng hạn như ngôn ngữ biểu cảm, cách dựng nhân vật, sắp xếp mạch
truyện càng đa dạng. Và một điều lạ nữa - những trang viết về tình yêu đằm thắm “tâm
trạng” và phong phú hơn hẳn những đoạn viết về tình yêu nơi Đất mặn và Bão Biển…
Sinh thời, thi sĩ Nguyễn Bính có lần bàn về ông: “Đó là một kẻ sĩ - một cây bút có
bản lĩnh”… Khó tính như Nguyễn Bính mà còn nhận xét về ông như vậy cũng đã là
điều khẳng định, đáng tin cậy… Với tư cách là người gần gũi ông ngót 40 năm, tôi vẫn
thấy lời bình về Chu Văn của nhà thơ Nguyễn Bính là vô cùng công bằng và chính
xác.”[19;Tr.753]
Với những công trình nghiên cứu về thành ngữ và những nhận xét về nhà văn
đáng kính Chu Văn người viết hy vọng có thể kết hợp những tư liệu ấy để hoàn thiện
hơn đề tài nghiên cứu “ Thành ngữ trong tác phẩm của Chu Văn”.
3. Mục đích yêu cầu.
Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ quý báo trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam,
được cha ông ta đúc kết bằng cả một quá trình sống, lao động để truyền lại cho đời sau
và thành ngữ cũng là nét văn hóa của dân tộc. Chính vì thế mà thành ngữ cần được
nghiên cứu một cách nghiêm túc với những mục đích yêu cầu hết sức rõ ràng.
Với đề tài “Thành ngữ trong tác phẩm của Chu Văn” cần có những yêu cầu và
mục đích như sau:
Người viết phải tìm hiểu khái quát về thành ngữ, về những nghiên cứu về thành
ngữ của các nhà nghiên cứu khoa học và những nhà ngôn ngữ học để có kiến thức cơ
bản đi sâu vào nghiên cứu thành ngữ trong tác phẩm của Chu Văn.
Người viết phải khám phá cái hay cái đẹp của thành ngữ để thấy được giá trị văn
hóa tinh thần dân tộc của thành ngữ. Bên cạnh đó người viết phải đi sâu phân tích cấu
trúc hình thức, giá trị biểu đạt và giá trị sử dụng của thành ngữ.
Thêm vào đó người viết phải đi sâu vào miêu tả thành ngữ trong tác phẩm của
Chu Văn để thấy được cái hay cái đẹp và độc đáo của thành ngữ trong văn chương
của Chu Văn và hiểu thêm về phong cách của ông.
cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu là một vấn đề rất quan trọng được đặt ra trong bất kì
một công trình nghiên cứu nào dù lớn dù nhỏ. Vì khi đã xác định được vấn đề cần
nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu thì người viết phải xác định được phương pháp và
phương hướng thật đúng thì công việc nghiên cứu mới đạt được hiệu quả cao.
Vì thế khi nhận được đề tài “Thành ngữ trong tác phẩm của Chu Văn” sau khi xác
định được mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, người viết đã xác định được
một số phương pháp để nghiên cứu như sau:
Đầu tiên là người viết tìm, thu thập, sưu tầm những tài liệu có liên quan đến thành
ngữ. Bên cạnh đó, xác định tác giả và tác phẩm cần nghiên cứu.
Sau đó người viết đọc tài liệu, chọn lọc những ngữ liệu cần thiết, thống kê và
phân loại thành ngữ trong tác phẩm của Chu Văn để thực hiện đề tài.
Tiếp theo là miêu tả những thành ngữ của Chu Văn thêm vào đó là dùng những
phương pháp như phân tích, so sánh, đối chiếu để thấy được biệt tài sử dụng thành ngữ
của Chu Văn. Qua đó làm nêu bật lên cái hay cái đẹp của thành ngữ trong tác phẩm
của Chu Văn.
Phần nội dung
Chương I: Một số vấn đề chung về thành ngữ.
I.
1.
Một số vấn đề về khái niệm thành ngữ.
Các quan niệm về thành ngữ
Thành ngữ là môt đơn vị ngôn ngữ quan trọng trong nền văn học dân gian nói
riêng và ngôn ngữ dân tộc nói chung. Vì thế nó đã thu hút được sự quan tâm của các
thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc có thể không có. Nghĩa của chúng cũng
khác nghĩa của từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng những từ nguyên học”
[26;Tr.187]. Trong quan niệm này, ông đã đồng ý thành ngữ là một cụm từ cố định và
nghĩa của nó là nghĩa của một chỉnh thể.
Nguyễn Thiện Giáp: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, vừa có tính hoàn
chỉnh về ý nghĩa vừa có tính gợi cảm. Bên cạnh nội dung trí tuệ, thành ngữ bao giờ
cũng kèm sắc thái, bình giá, cảm xúc nhất định, hoặc là kính trọng tán thành hoặc là
chê bai khinh rẻ, hoặc là ái ngại, xót thương”[5;Tr.80]. Đây là một quan niệm khá chi
tiết về thành ngữ. Bên cạnh đó ông còn cho rằng thành ngữ không chỉ hoàn chỉnh về ý
nghĩa mà còn mang tính gợi cảm, sắc thái bình giá và cảm xúc.
Cù Đình Tú- Tạp chí Ngôn ngữ số 1- 1973 có bài “Góp ý kiến về phân biệt thành
ngữ với tục ngữ”. Ông đã quan niệm về thành ngữ như sau: “Thành ngữ là những quan
niệm có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi là dùng để gọi tên sự vật, tính
chất, hành động.[28;Tr.40] Và ông cũng cho rằng thành ngữ có kết cấu một trung tâm.
Với Hồ Lê trong quyển “Vấn đề cấu tạo của từ tiếng Việt hiện đại” ông quan
niệm: “Thành ngữ là tổ hợp từ có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý
nghĩa dùng để miêu tả một tính cách hay một trạng thái nào đó. Ví dụ: Bới lông tìm
vết, cao chạy xa bay, da bọc lấy xương, ếch ngồi đáy giếng…”.[14;Tr.97]
Nguyễn Văn Tu: “Từ và vốn từ hiện đại”. Ông đã cụ thể thành ngữ hơn với quan
niệm: “Thành ngữ là những cụm từ cố định mà các tư trong đó đã mất đi tính độc lập
đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh”
[25;Tr.187,188]
Đái Xuân Ninh trong quyển “Hoạt động của từ” cũng cho rằng: Thành ngữ là
những cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất tính độc lập ở mức độ nào đó.
Và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh. Ví dụ “mẹ tròn con
vuông”không thể đổi thành “mẹ cũng tròn, con cũng vuông” hay “mẹ tròn lắm, con
vuông lắm”[20;Tr.212]
Vũ Ngọc Phan lại có quan niệm khác: “Thành ngữ là một phần câu có sẵn có, nó
Vế A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc trưng hoặc trạng thái hành
động… nào đó.
Từ so sánh ta gọi là SS: Hầu hết là từ “như”, nhưng trong tiếng Việt cũng có
những từ so sánh khác là: tựa như, dường như, bao nhiêu, bấy nhiêu, là, tựa, hệt,
bằng… nhưng tần số sử dụng rất ít
Vế so sánh ta gọi là B. Vế B luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh, làm rõ
hơn về tính chất cho vế A, nhưng cũng có khi nó lại chỉ bộ lộ ý nghĩa của mình trong
khi kết hợp với vế A, thông qua vế A.
Ví dụ: Ý nghĩa “lạnh” của tiền chỉ bộ lộ trong “Lạnh như tiền” mà thôi. Các
thành ngữ “Nợ như chúa Chổm”, “Rách như tổ đỉa”, “Say như điếu đổ”, “Say khướt
cò bợ”… cũng tương tự như vậy. Ngoài ra, những sự vật, sự việc, hiện tượng được
nêu trong vế B cũng mang màu sắc dân tộc. “ Qua vế B của thành ngữ so sánh, chúng
ta có thể thấy được bóng dáng của cách nhìn, cách nghĩ, thấy được một phần cái dấu
ấn của cảnh sắc thiên nhiên, đời sống văn hóa, vật chất tinh thần của dân tộc được
phản ánh trong ngôn ngữ”[9;Tr.42]
Ví dụ:
Hiền như bụt
Nợ như chúa Chổm
Dối như cuội.
Thế nhưng do sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng,
không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ. Chúng có thể có các
kiểu so sánh như sau:
A ss B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh.
Ví dụ: Đắt như tôm tươi, Nhẹ tựa
at hồng, Lạnh như tiền, Dai như đỉa đói,
Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông, Cười như nắc nẻ, Yếu như sên…
2. Phép đối.
Thành ngữ được hình thành bằng cả một quá trình sống của dân tộc, vì thế nó rất
đa dạng và phong phú. Ngoài thành ngữ so sánh còn rất nhiều loại nữa, tất cả tạo nên
sự đa dạng cho thành ngữ. Đó là thành ngữ đối.
Trong quyển “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ”, Hoàng Văn Hành khẳng định:
“Thành ngữ đối là loại thành ngữ phổ biến nhất trong tiếng Việt. Chúng chiếm tới 56%
tổng số thành ngữ có trong thực tế” [10;Tr.32]
Để tìm hiểu về thành ngữ xin nói một chút về đối ngữ:
“Đối ngữ là biện pháp tu từ dùng hình thức sóng đôi cú pháp và ngữ nghĩa tạo
nên một cấu trúc đối nhằm làm nổi bậc nội dung cần biểu đạt và tăng cường sức biểu
cảm cho thơ văn.”
Một thành ngữ đối bao giờ cũng có hai vế. Thường thì hai vế này có sự tương
đồng về cú pháp, cân bằng về số lượng âm tiết, đối nhau về nội dung.
Hoặc có thể nói rằng: Thành ngữ đối là thành ngữ có tính chất đối xứng giữa các
bộ phận tạo nên thành ngữ.
Ví dụ:
Mẹ tròn con vuông
Chim sa cá lặn
Xanh vỏ đỏ lòng
Ðặc điểm của loại thành ngữ này là bốn từ đều là từ đơn, đứng độc lập, có nghĩa
riêng; chia thành hai cặp đối xứng nhau.
Ví dụ: Như câu “Xấu người đẹp nết” thì xấu, người, đẹp, nết; bốn từ đơn mang
hàm nghĩa riêng, độc lập, không cần liên kết hoặc phụ thuộc vào từ khác; chia thành
hai cặp đối xứng là xấu người đối với đẹp nết; đối cả ý lẫn lời; xấu đối với đẹp, người
đối với nết. Toàn bộ câu thành ngữ đại ý nói: Người ta không được trời phú cho cái
nhan sắc bề ngoài, thậm chí bề ngoài không vừa mắt ai song cái người “xấu người” ấy
hoá ra lại mang vẻ đẹp bên trong, giàu có về đạo đức, về đường ăn nết ở mà người
Việt gộp chung vào khái niệm “nết” nhấn mạnh phần hơn hẳn, phần ưu việt của nết so
ngữ “Xanh vỏ đỏ lòng”, dùng để chỉ sự không tương hợp giữa bên ngoài và bên trong,
giữa hình thức và nội dung mà xa hơn là giữa hiện tượng và bản chất.
Hiểu là thế nhưng vấn đề là cách dùng trong dân gian lại đi theo 2 hướng trái
chiều nhau. Một bên hiểu theo sắc thái dương tính, một bên hiểu theo sắc thái âm tính.
Hai quyển sách “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” và “Thành ngữ tiếng
Việt” cũng có hai cách hiểu khác nhau về thành ngữ này.
Tác giả Nguyễn Lân trong quyển Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB
Văn học 2003) giải thích thành ngữ này dùng chỉ “những kẻ giả dối, bề ngoài thì tử tế
nhưng ngấm ngầm làm hại người ta”
Ví dụ:
Rõ quân xanh vỏ đỏ lòng
Nói thì thơn thớt làm không ra gì.
Nhưng Nguyễn Lực và Lương Văn Đang (Thành ngữ tiếng Việt, NXB Khoa học
xã hội 1979) lại cắt nghĩa thành ngữ này là “ngoài mặt thì giả xấu, nhưng trong lòng
thì tốt”
Ví dụ:
Em đây xanh vỏ đỏ lòng
Đói no vẫn cứ chờ chồng nuôi con.
Từ điển thành ngữ Việt Nam (Viện Ngôn ngữ học, NXB Văn hoá Thông tin
1993, 2005) đã hợp nhất hai cách hiểu này, coi như chấp nhận sự tồn tại của hai biến
thể khác biệt về cách dùng một thành ngữ: “Bản chất tốt đẹp, tiến bộ ẩn giấu đằng sau
vẻ dáng xấu kém… Giả dối, tráo trở, bề ngoài thì tỏ ra tử tế nhưng trong lòng thì thâm
hiểm, ngấm ngầm hại người”
Như vậy là cách sử dụng thành ngữ này đã đi theo hai chiều trái ngược, một đằng
ví chuyện “xấu người đẹp nết” (nghĩa tích cực), một đằng ví chuyện “gỗ không tốt chỉ
tốt nước sơn” (nghĩa tiêu cực).
Ngoài ra ta có thể kể ra các thành ngữ đối sau:
Trên đe dưới búa
Tương tự:
Lên voi xuống chó
Màn trời chiếu đất
Rừng vàng biển bạc
• Trắc trắc – Bằng bằng: Vế sau bằng, vế trước trắc.
Ví dụ: Nghĩa nặng tình sâu
TT
BB
Tương tự:
Khẩu phật tâm xà
Lá ngọc cành vàng
• Trắc bằng – bằng trắc: Vế trước trắc – bằng, vế sau bằng – bằng trắc.
Ví dụ: Mẹ gà con vịt
T B B T
Tương tự:
Khẩu xà tâm phật
Miệng hùm gan thỏ
• Bằng trắc – trắc bằng: Vế trước bằng – trắc, vế sau trắc bằng
Ví dụ: Lên thác xuống ghềnh
B T
T
B
Tương tự: Buôn ngược bán xuôi
+ Đối về mặt ngữ pháp:
Ví du:
Mắt trước mắt sau
Nói trăng nói cuội
Đi đông đi tây
Một trời một vực
Từng li từng tí.
Đặc điểm cấu tạo cơ bản nhất của thành ngữ loại này là yếu tố được lặp lại
thường là động từ và số từ và bao giờ cũng đặt ở đầu mỗi vế tức là ở đầu thành ngữ.
Nội dung ngữ nghĩa của các thành ngữ điệp luôn luôn gắn liền với một phạm trù
quá trình trong sắc thái, nhấn mạnh mức độ của hành động (là những thành ngữ có yếu
tố được lặp lại là động từ). Còn số từ (thường người Việt hay dùng số một) trong thành
ngữ điệp dường như không biểu thị về số lượng mà biểu thị sắc thái ý nghĩa về tính
mức độ, tính khẳng định, tính cương quyết cho phép lặp đem lại.
Nhìn chung thành ngữ cho dù được cấu tạo theo quan hệ gì đi nữa thì nó cũng
phải đảm bảo những đặc trưng cơ bản sau:
Nội dung ngữ nghĩa của các yếu tố đối ứng với nhau trong hai vế phải phản ánh
những đặc trưng cùng thuộc một phạm trù. Tính thuộc cùng một phạm trù của các đặc
trưng thể hiện ở chổ chúng đều là những sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quá trình thuộc
cùng một tiểu nhóm hay tiểu phạm trù, cùng một bậc quan hệ, lời giống nhau.
Ví dụ:
Đầu, tay – Đầu Ngô mình Sở- cơ thể người
Đầu, tay- Đầu cua tay nheo – cơ thể vật
Con ông cháu cha- quan hệ họ hàng
Quỷ tha ma bắt – ma, quỷ là hai từ gần nghĩa cùng chỉ một nhóm đối tượng.
“Ăn ngon mặc đẹp” – Ăn, mặc
Các yếu tố đối ứng, phải cùng phạm trù từ loại, tức cùng một thuộc tính ngữ
pháp. Nghĩa là nếu trong một thành ngữ hai yếu tố A,B đối nhau thì bên cạnh tính
đồng nhất về mặt phạm trù ngữ nghĩa, còn phải đồng nhất về thuộc tính ngữ pháp là
việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động tình thế… phổ biến
khái quát” [2;Tr.70]
Bùi Khắc Việt cũng có ý kiến về tính biểu trưng như sau: “Quan niệm biểu trưng
là ký hiệu (Signe) và quan hệ với qui chiếu (Rejaren) là có nguyên do” [34;Tr.15].
Theo cách hiểu của ông như vậy thì tính biểu trưng được thể hiện là: Từ những sự vật,
sự việc hiện tượng cụ thể của hiện thực cuộc sống được miêu tả trong thành ngữ người
ta nâng lên để nói về những ý niệm khái quát.
Còn theo ý kiến của Cù Đình Tú thì: “Dựa vào quy luật hài hòa âm thanh, dựa
vào quy tắc ngữ pháp, dựa vào quy tắc chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ, người ta chọn
lấy những tổ hợp từ miêu tả nhữn ghiện tượng sinh động và quen thuộc trong cuộc
sống, dùng chúng làm dấu hiệu gọi tên những đối tượng, lối gọi tên này tính chất biểu
trưng, nghĩa là qua hình ảnh, dấu hiệu này, thành ngữ gợi ra một cái gì ở đằng sau,
biểu trưng một cái gì đó” [29;Tr.234]
Từ những ý kiến trên người viết hiểu về tính biểu trưng của thành ngữ như sau:
Do thành ngữ có tính đa nghĩa, trong đó nghĩa bóng mang những hình ảnh biểu
trưng có tầm quan trọng hơn cả. Nghĩa này không chỉ có tính khái quát mà còn tượng
trưng cho toàn bộ tổ hợp, nhưng lại không phải là nghĩa của các thành tố cộng lại.
Biểu trưng hóa dựa vào quan hệ tương đồng và tương cận trong quá trình liên hội
ngữ nghĩa gọi là giá trị biểu trưng hóa ngữ nghĩa. Hình thái liên hội ngữ nghĩa theo
quan hệ tương đồng là so sánh. Và nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thường là kết quả
hai hình thái biểu trưng hóa: hình thái tỷ dụ (so sánh), hình thái ẩn dụ (so sánh ngắn).
Ví dụ: “Cõng rắn cắn gà nhà”.
Trong thành ngữ này, “rắn” biểu trưng cho kẻ xấu, độc ác hại người, và hiểu rộng
ra là kẻ thù, là bọn giặc. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi trong ý thức của nhân dân ta, rắn
bao giờ cũng được liên hệ với cái độc ác, nham hiểm. Còn gà là vật nuôi quen thuộc,
là đối tượng cần được chăm sóc, bảo vệ chu đáo. Trong nhận thức dân gian, gà hay
được biểu trưng cho tình anh em ruột thịt: “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” (Ca
dao). Khi từ “gà” kết họp với từ nhà, tạo thành tổ hợp “gà nhà”, thì ý nghĩa đó càng thể
khác bên trong của thành ngữ bị lu mờ hoặc bị lãng quên” [6;Tr.183]
Qua hai ý kiến trên về tính hình tượng chính là những hình ảnh, của sự vật sự
việc, hiện tượng gây ấn tượng mạnh trong sự quan sát và cảm nhận của con người
trong cuộc sống trong quá trình tạo nên thành ngữ tạo nên.
Do có tính hình tượng nên thành ngữ có tính cụ thế là tất yếu. Bởi lẽ, các hình
tượng khác nhau trong mỗi thành ngữ là đã là cụ thể. Nói về tính cụ thể cũng có các ý
kiến tham khảo sau:
Theo Đỗ Hữu Châu thì tính cụ thể là: “tính cụ thể ở đây thể hiện tính bị quy định
về phạm vi sử dụng” [1;Tr.72]
Với quan niệm này của ông thì ta có thể hiểu rằng do tính cụ thể ở mỗi vật là khác
nhau nên việc vận dụng rất hạn chế ở mỗi ngữ cảnh khác nhau.
VD: Hình ảnh trong thành ngữ “Nước mắt cá sấu”. Cá sấu là động vật sống ở
dưới nước, rất to khỏe có thể tấn công được nhữ động vật lớn và cả con người. Khi cá
sấu ăn mồi thì ở khóe mắt nhỏ ra vài giọt nước mắt (Thật ra, đó không phải là những
giọt nước mắt mà chỉ là lượng muối thừa được thải ra ngoài qua một tuyến thông ra ở
khóe mắt của cá sấu). Cá sấu ăn mồi và những giọt nước mắt đó đã được người đời
quan sát thấy và lấy làm cơ sở cho sự liên tưởng tới tính giả dối, đã gây đau khổ cho
ngườ khác rồi lại vờ vịt xót thương, tỏ ra thông cảm trước hoạn nạn của người bị hại
để che mắt người khác.
Nguyễn Thiện Giáp có ý kiến về tính cụ thể của thành ngữ: “Do có tính hình
tượng nên ý nghĩa của thành ngữ luôn có tính cụ thể” [6;Tr.183]. Và ông đã chúng
minh bằng thành ngữ sau: “Chạy long tóc gáy” thể hiện một trạng thái chạy bận rộn,
tíu tít, khẩn cấp khác với “Chạy bở hơi tai”, “Chạy như cờ lông công”.
Qua khảo sát hai ý kiến trên, ta thấy thành ngữ có tính hình tượng và cụ thể, đã
giúp cho người người sử dụng thành ngữ và cả người tiếp nhận đẽ hình dung ra những
sự vật, sự việc, hiện tượng được thành ngữ đề cập đến.
3. Tính biểu thái.
Khi nói về một vấn đề nào đó con người luôn thể hiện cảm xúc và thái độ của