TÌM HIỂU THÀNH NGỮ TRONG tác PHẨM của đoàn GIỎI - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN



BÙI THỊ THỦY

TÌM HIỂU THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM
CỦA ĐOÀN GIỎI

Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN VĂN TƯ

CẦN THƠ, THÁNG 5_2011


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mỗi dân tộc đều có niềm tự hào riêng về tiếng nói của mình, là một người
con đất Việt chúng ta có quyền tự hào về điều đó. Cùng với sự phát triển của ngôn
ngữ thì thành ngữ vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong lòng mỗi người. Trải qua
bao thăng trầm đổi thay của lịch sử, thành ngữ vẫn luôn giữ được sức sống mạnh
mẽ. Bằng chứng là thành ngữ đã đi vào lòng những người con đất Việt một cách
nhẹ nhàng và sâu lắng nhất. Nó luôn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong lời nói
của mỗi người, có thể nhờ thành ngữ mà lời nói được ngắn gọn nhưng vẫn mang
đầy đủ nội dung mà người nói cần chuyển tới người nghe. Thành ngữ cùng với ca
dao dân ca, tục ngữ… đã góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng cho văn học dân

nhân dân mà còn thể hiện ở trong tác phẩm văn chương. Có rất nhiều tác giả đã vận
dụng thành ngữ trong cách viết văn của mình và đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng
người đọc. Và đề tài nghiên cứu về thành ngữ nói chung và thành ngữ trong tác
phẩm văn chương nói riêng luôn là một đề tài hấp dẫn thu hút được sự quan tâm
của nhiều giới nghiên cứu. Có như thế mới thấy được cái hay cái đẹp của thành
ngữ, cùng sức sống mãnh liệt của nó. Sau đây là những công trình, những bài viết
và nghiên cứu về thành ngữ của một số tác giả.
Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu về thành ngữ của hai tác giả
Nguyễn Lực và Lương Văn Đang trong cuốn Thành ngữ tiếng Việt, NXB Khoa Học
Xã Hội Hà Nội, năm 1978. Trong công trình này hai tác giả đã sưu tầm, giải nghĩa
khá chi tiết các thành ngữ tiếng Việt nhờ đó mà khi tiếp cận sẽ cho người đọc có cái
nhìn rõ nét hơn về thành ngữ. Tuy nhiên, hai tác giả này chỉ dừng lại ở việc sưu tầm
và giải nghĩa các thành ngữ chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu cách sử dụng thành ngữ ở
một tác phẩm văn chương nào cụ thể.
Hoàng Văn Hành trong cuốn Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, NXB Khoa Học
Xã Hội Hà Nội, năm 2002. Ở công trình này tác giả đã đưa ra định nghĩa về thành
ngữ, cùng với đó là việc nghiên cứu về nguồn gốc của thành ngữ và cách cấu tạo
chung của nó. Ngoài ra, ông còn lựa chọn và giải thích những thành ngữ gắn liền
với những điển cố, điển tích, những phong tục tập quán, văn hóa của dân tộc. Nhờ
vậy mà người đọc được cung cấp thêm những kiến thức bổ ích xung quanh thành
ngữ mang tới.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng thành ngữ trong tác
phẩm văn chương, mỗi người nghiên cứu về vấn đề này cũng đều có cách nhìn
nhận và đánh giá riêng của mình về thành ngữ cũng như cách sử dụng thành ngữ
trong tác phẩm văn chương của các tác giả.
Đầu tiên chúng ta có thể kể đến bài viết của Lê Trí Viễn, trong cuốn Lịch sử
văn học Việt Nam, tập 3. Lê Trí Viễn đã có nhận xét về thành ngữ trong tác phẩm


Truyện Kiều của Nguyễn Du: “Nguyễn Du có nhiều cách dùng thành ngữ trong thơ

ngữ dân gian, lấy đề tài từ thành ngữ, tục ngữ dân gian chiếm một số lượng lớn nhất
trong phạm vi thơ Quốc âm của Phan Châu Trinh. Tác giả đã đưa ra số lần sử dụng


thành ngữ trong sáng tác của Phan Châu Trinh: “Khảo sát 62 đơn vị tác phẩm thơ
Quốc âm đường luật trong tuyển tập Phan Châu Trinh do NXB Đà Nẵng ấn hành
năm 1995, thì Phan Châu Trinh đã sử dụng 46 thành ngữ” [14, 471]. Phan Châu
Trinh đã rất tài hoa trong việc biến những thành ngữ của dân gian thành những câu
thơ của mình, những câu vừa có tính chất tài triết lí vừa đậm chất trữ tình. Phan
Châu Trinh đã quản lí được một khối lượng thành ngữ rất lớn vào trong sáng tạo
thơ ca của mình. Nhắc tới Phan Châu Trinh người đọc thường nhắc tới một nhà
hoạt động cách mạng hơn là một nhà thơ. Khi sáng tác thơ Phan Châu Trinh cũng vì
cách mạng, đọc thơ của ông ta thấy rõ được tấm lòng yêu nước tha thiết. Trong thơ
Phan vận dụng tối đa các thành ngữ. Việc sử dụng nguồn văn học dân gian trong đó
có tục ngữ và thành ngữ là một trong những công cụ ngôn ngữ đắc lực phục vụ cho
việc phản ánh, miêu tả chính xác những hình ảnh đem lại nhận thức mới cho người
đọc.
Cũng trong Ngữ học trẻ, năm 2002 thì Bùi Duy Dương lại có bài viết về
“Nguyễn Trãi và việc sử dụng thành ngữ gốc Hán trong Quốc âm thi tập”. Bùi Duy
Dương đã đưa ra thống kê thành ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Trãi: “Xét trong
toàn bộ 1908 câu thơ trong Quốc âm thi tập, chúng ta có thể thống kê được khoảng
40 thành ngữ gốc Hán ít nhất là được sử dụng một lần, nhiều đến vài ba lần. Nếu
tính phần trăm số câu thơ sử dụng thành ngữ gốc Hán chiếm khoảng 3% tổng số
câu thơ. Dù rằng tỉ lệ này còn tương đối thấp nhưng cũng cho ta thấy được âm vang
của thành ngữ gốc Hán trong Quốc âm thi tập” [14, 487]. Nguyễn Trãi là một đại
thi hào dân tộc, ông luôn có ý thức làm giàu cho ngôn ngữ văn học tiếng Việt và
việc việt hóa ngữ liệu Hán học trong đó có thành ngữ cũng là một trong những cách
để Nguyễn Trãi xây dựng ngôn ngữ văn học dân tộc. Qua thơ Quốc âm ta thấy rõ
công lao của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt văn học. Trong những tác phẩm của
Nguyễn Trãi việc sử dụng thành ngữ gốc Hán có nhiều dạng: sử dụng nguyên văn

đã được truyền tụng qua nhiều thế hệ. Đồng thời cũng với mong muốn góp một
phần nhỏ của mình vào việc nghiên cứu thành ngữ. Song song với đó là mục đích
muốn làm rõ hơn được giá trị sử dụng cùng ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ trong
tác phẩm văn chương nói chung và trong tác phẩm của Đoàn Giỏi nói riêng để từ đó
tìm ra được những nét độc đáo, đặc sắc của Đoàn Giỏi trong việc vận dụng thành
ngữ.

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ đề tài này là Tìm hiểu thành ngữ trong tác phẩm của Đoàn Giỏi
nên quá trình nghiên cứu sẽ được chúng tôi tập trung vào nội dung của đề tài. Để
hoàn thành tốt đề tài ngoài việc khảo sát những tác phẩm của Đoàn Giỏi đòi hỏi
người viết phải nắm được rõ kiến thức về thành ngữ, nên người viết sẽ tập trung
nghiên cứu về thành ngữ nói chung và thành ngữ trong tác phẩm của Đoàn Giỏi nói


riêng. Việc tìm hiểu thành ngữ trong tác phẩm của Đoàn Giỏi không thể không gắn
với việc tìm hiểu nội dung trong tác phẩm mà tác giả muốn gửi tới người đọc. Vì
vậy, khi nghiên cứu không thể bỏ qua nội dung của tác phẩm được chọn tìm hiểu.
Không những thế thành ngữ cũng là một trong những điểm quan trọng góp phần
làm nên nét nghệ thuật độc đáo cho phong cách của Đoàn Giỏi.
Những tác phẩm được chọn để phục vụ cho đề tài này bao gồm: tiểu thuyết
Cá bống mú; truyện Đất rừng phương Nam; Cây đước Cà Mau; Rừng đêm xào xạc;
Chuyến xe thổ mộ ngày giáp tết; Tiếng gọi ngàn.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được đề tài này đòi hỏi người nghiên cứu phải kết hợp nhiều
phương pháp khác nhau. Trước hết chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống nhằm
tìm ra các tài liệu có liên quan tới đề tài mà chúng tôi thực hiện và tổng hợp nó cho
phù hợp với mục đích sử dụng của mình.
Tiếp đến chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích để phân tích ngữ liệu đã

Sau đây là một số ý kiến khác nhau của những nhà nghiên cứu văn học và những
nhà nghiên cứu ngôn ngữ.

1.1 Quan niệm về thành ngữ của các nhà nghiên cứu văn học
Thành ngữ đã đi vào trong cuộc sống một cách nhẹ nhàng, nếu để ý chắc
chắn sẽ cho chúng ta một kết quả bất ngờ, không chỉ dừng lại ở lời nói hàng ngày
mà nó đã trở thành công cụ ngôn từ đắc lực cho các nhà văn, nhà thơ vận dụng
trong quá trình sáng tác. Cũng đứng dưới góc độ là những người nghiên cứu văn
học thì các nhà nghiên cứu văn học đã có nhiều quan niệm khác nhau về thành ngữ.
Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu Dương Quảng Hàm đã đưa ra quan
niệm của mình về thành ngữ. Theo ông thì thành ngữ là “Những lời nói do nhiều
tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta có thể mượn để diễn đạt một ý tưởng của ta khi
nói chuyện hoặc viết văn” [6, 9]. Quan niệm về thành ngữ của Dương Quảng Hàm
cho thấy thành ngữ có thể vận dụng trong giao tiếp hàng ngày và trong viết văn,


điều này càng chứng tỏ được vai trò của thành ngữ là rất lớn. Về ngữ pháp thì ông
lại cho rằng thành ngữ là do nhiều tiếng ghép lại, nói như vậy thì vẫn chưa đầy đủ
về thành ngữ.
Khái niệm về thành ngữ theo quan niệm của Vũ Ngọc Phan: “Thành ngữ là
một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng
nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn” [11, 30]. Thành ngữ là một
phần câu có sẵn, là bộ phận của câu nhưng tự nó không thể diễn đạt được một ý
trọn vẹn.
Trương Xuân Tiếu thì cho rằng: “Thành ngữ là những đoạn câu, cụm từ
tương đối ổn định, bền vững nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh
động, hấp dẫn, có tác dụng tô điểm và nhấn mạnh ý nghĩa nghệ thuật cần diễn đạt”
[12, 564]. Ở đây, Trương Xuân Tiếu đã nêu lên được tác dụng của thành ngữ,
nhưng vẫn xem thành ngữ là một đoạn câu, một cụm từ.
Nhìn chung các nhà nghiên cứu văn học chủ yếu dựa vào nội dung mà thành

cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh bóng bẩy về ý nghĩa được sử
dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày” [8, 25]. Quan niệm này đã công nhận
thành ngữ là một cụm từ cố định và bản thân thành ngữ đã mang đầy đủ ý nghĩa, nó
còn được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống.
Hữu Đạt lại có suy nghĩ khác về thành ngữ: “Các từ khi kết hợp với nhau thì
tạo thành thành ngữ” [4, 103]. Nói như vậy thì vẫn chưa thuyết phục lắm vì nếu từ
nào khi kết hợp lại cũng tạo thành thành ngữ thì sẽ có rất là nhiều thành ngữ và vấn
đề về thành ngữ không còn là một vấn đề riêng nữa vì nó không có một điểm gì đặc
biệt.
Trong Cơ sở ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp đã nêu khái niệm về thành
ngữ: “Một tổ hợp từ được coi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ
khi dịch toàn bộ tổ hợp người ta phải dịch từ ấy bằng một yếu tố mà yếu tố đó chỉ
tương đương với từ ấy khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của
tổ hợp từ (trong trật tự nhất định). Thêm vào đó từ này có thể gặp cả khi không có
các yếu tố còn lại và khi ấy nó được dịch bằng một yếu tố khác” [5, 152].
Nhóm nghiên cứu Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Hiếu, Hoàng Trọng Phiến trong
Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt thì cho rằng: “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn
chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm” [2, 157].
Quan niệm này xem thành ngữ là một cụm từ cố định và điều này đã có chung ý
kiến với một số nhà nghiên cứu. Về ngữ nghĩa thì chúng cũng có tính hình tượng và
mang giá trị biểu cảm cao.
Đó là một số quan niệm khác nhau về thành ngữ và tổng kết lại thì thấy hầu
như các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều chấp nhận thành ngữ là một cụm từ cố định
và hoàn chỉnh về nội dung lẫn hình thức. Qua những quan niệm này còn nêu lên
tính hình tượng và tính biểu cảm trong thành ngữ.


Từ các quan niệm trên ta có thể đưa ra kết luận về thành ngữ là: Thành ngữ
là một cụm từ cố định, mang tính khái quát cao nó có chức năng định danh và kèm
theo đó là thái độ của người nói đối với từng thành ngữ mà mình sử dụng.

mặc.
Ví dụ: Thành ngữ “khỏe như voi” thông thường khi nhắc tới voi thì ai cũng
biết voi rất khỏe, và khi nhân dân ta đã dùng thành ngữ này mà ví sức khỏe của một
người nào đó giống như voi thì chắc người này đã sở hữu một sức khỏe cường
tráng. Lúc đó người nói không cần phải dài dòng diễn đạt mà để người nghe tự liên
tưởng.
- Thành ngữ có tính biểu trưng cao: Là dạng thành ngữ mà nghĩa của nó
không hiện ra ngay trên bề mặt ngôn từ mà đòi hỏi chúng ta phải có sự liên tưởng
mới có thể hiểu đúng về thành ngữ. Sự liên tưởng này được cấu tạo theo hai
phương thức là ẩn dụ và hoán dụ.
Tính biểu trưng theo phương thức ẩn dụ là: Lấy sự vật, sự việc này để nêu
lên sự vật, sự việc kia dựa trên cơ sở liên tưởng tương đồng.
Ví dụ: Thành ngữ “đục nước béo cò” ngoài nghĩa thực của thành ngữ này là
chỉ những con cò có cơ hội ăn uống khi gặp điều kiện thuận lợi, thì nghĩa chính của
thành ngữ sẽ không dừng lại ở một vấn đề trên, cái mà thành ngữ muốn nói là sự
liên tưởng tới trường nghĩa thứ hai. Đó là dùng hình ảnh những con cò để ám chỉ
những kẻ cơ hội chuyên lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người khác mà thu lợi
cho mình.
Tính biểu trưng theo phương thức hoán dụ: Là dùng một đặc điểm hay một
nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó, dựa vào mối
quan hệ giống nhau giữa các đối tượng.
Ví dụ: Thành ngữ “đủ lông đủ cánh” con chim khi đã đủ lông đủ cánh thì
theo mẹ tập bay, và sau đó là sống tự lập. Con người cũng vậy, khi đủ tuổi khôn lớn
thì ai cũng tự lo tập làm ăn, dần dần sống tự lập, tự mình phải lo cho mình.
Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ góp phần làm cho thành ngữ mang chức
năng định danh, biểu cảm, dễ dàng trong giao tiếp vì thế trong lời nói hàng ngày ta
thường bắt gặp thành ngữ là vì lẽ đó.

2.2 Tính hình tượng
Thành ngữ có tính hình tượng và hình ảnh cụ thể là do nó được khái quát từ

mọi người trong cộng đồng. Ở mỗi dạng đều toát lên được những hình ảnh cụ thể
về đất nước, con người.
Khi chúng ta nói về thiên nhiên thì có những thành ngữ như: “rừng vàng bể
bạc”; “non xanh nước biếc”…
Nước ta vốn gắn liền với nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu nên thành ngữ
thể hiện về điều này rất nhiều như: “đồng chua nước mặn”, “cày sâu cuốc bẫm”…
nói về nền nông nghiệp thì chúng ta không thể không nhắc tới hình ảnh những
người nông dân chịu thương chịu khó, không quản vất vả, nắng mưa để có cái ăn


cái mặc. Ta có thể dễ dàng tìm những thành ngữ để chỉ về họ trong từ điển thành
ngữ tiếng Việt như: “một nắng hai sương”; “chân lấm tay bùn”…
Con người Việt Nam từ xưa đến nay có truyền thống yêu thương, đùm bọc
giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Chính sự yêu thương, đùm bọc đó đã góp phần làm
nên những nét đẹp trong tâm hồn con người đất Việt và cũng từ đây thành ngữ được
hình thành để ca ngợi những tình cảm tốt đẹp này. Ta có thể đơn cử một số thành
ngữ sau: “đồng tâm nhất trí”; “chia ngọt sẻ bùi”…
Thành ngữ đi cùng với sự phát triển của lịch sử dân tộc nên bản thân thành
ngữ đã mang trong mình tính dân tộc. Tính dân tộc đã làm nên những nét riêng biệt
và tô điểm thêm cho thành ngữ Việt Nam. Và thành ngữ sẽ luôn đi sâu vào trong
tiềm thức của mỗi người chúng ta.
- Tính cụ thể
Tính cụ thể của thành ngữ cũng được thể hiện rõ, vì thành ngữ được khái
quát từ những hình ảnh cụ thể, luôn gắn liền với nó là sự biểu lộ thái độ đánh giá
của người nói đối với sự vật, hiện tượng được nói tới và phạm vi được sử dụng của
từng thành ngữ. Tính cụ thể còn làm cho thành ngữ giới hạn được phạm vi nội dung
cần đề cập, giúp cho mọi người khi sử dụng có thể linh hoạt hơn.
Ví dụ:
Nhanh như sóc
Sắc như dao

mình đối với người nhận được lời khen, để cho người nhận lời khen thấy được sự
chân thành của người khen đối với mình.
Ví dụ: Trước một người có sắc đẹp hiếm thấy thì có thành ngữ “đẹp như
tranh”. Khi ta dùng thành ngữ trên khen ngợi một người có sắc đẹp như vậy thì ta
đã tỏ thái độ mến mộ, và sắc đẹp của người được khen là rất đẹp, khi đó người nghe
sẽ cảm nhận được sự chân thành của người nói dành cho mình.
Thái độ dương tính của người nói còn được thể hiện ở sự tôn trọng hay kính
nể.
Ví dụ: Khi nói về một người vừa có tài vừa có đức thì ta không thể dùng
những lời lẽ khó nghe để khen được và khi ấy thành ngữ “tài cao đức trọng” sẽ
được thể hiện.
Đối với những thành ngữ mang sắc thái biểu cảm âm tính thì phần lớn thuộc
thành ngữ dạng khẩu ngữ. Ở dạng này thường thể hiện thái độ của người nói là
không đồng tình, chê bai hay sự khinh bỉ.
Ví dụ: Những thành ngữ dạng này như “đen như cột nhà cháy”; “hôi như
cú”; “lắm mối tối nằm không”…


Mỗi thành ngữ dù ở dạng nào đi nữa thì chúng đều có sắc thái biểu cảm
riêng, nên khi người nói vận dụng trong cách nói năng của mình đã làm tăng thêm
hiệu quả cho lời nói hơn.

2.5 Tính điệp và tính đối
- Tính điệp
Được thể hiện ở mặt ngữ âm, thường sử dụng những hình thức ngữ âm giống
nhau (phụ âm đầu và phần vần) và được đặt ở những vị trí khác nhau. Về mặt ngữ
nghĩa sử dụng những từ có quan hệ gần nghĩa, đồng nghĩa.
Ví dụ:
Một thân một mình
Đâm lao phải theo lao

Cũng như quan niệm về thành ngữ thì trong cách phân loại thành ngữ ta
cũng có nhiều cách khác nhau. Cho tới nay, các công trình nghiên cứu về thành ngữ
vẫn tồn tại nhiều cách phân loại khác nhau. Những cách phân loại đó là cơ sở để ta
tiếp tục tìm hiểu về thành ngữ và có cái nhìn toàn diện hơn. Điều này cho thấy
thành ngữ rất phức tạp và nó luôn chiếm lĩnh được sự quan tâm, ưu ái của mọi
người.

3.1 Dựa vào tiêu chí cấu tạo
Dựa theo tiêu chí cấu tạo thì ta chia thành ngữ ra làm hai loại nhỏ là thành
ngữ có kết cấu là cụm từ và thành ngữ có kết cấu là cụm chủ vị.

3.1.1 Thành ngữ có kết cấu cụm từ
Dựa vào thành phần trung tâm của cụm từ, ta có thể chia thành ngữ loại này
ra những loại nhỏ như sau:
Thành ngữ có kết cấu là cụm danh từ:
Ví dụ:
Cá mè một lứa
Mắt bồ câu
Thành ngữ có kết cấu là cụm tính từ
Ví dụ:
Thẳng như ruột ngựa
Ngọt như mía lùi
Thành ngữ có kết cấu là cụm động từ
Ví dụ:
Lạy như tế sao


Vuốt mặt không kịp
Thành ngữ không có từ trung tâm.
Ví dụ:

3.2.3 Thành ngữ có tính biểu trưng cao
Những thành ngữ có cấu tạo dạng này thì nghĩa của nó hiện đằng sau cấu
trúc bề mặt ngôn từ. Để có thể hiểu được nghĩa của thành ngữ thì đòi hỏi chúng ta


phải có sự liên tưởng phong phú và kiến thức sâu rộng. Đối với những thành ngữ
dạng này thì thường nó xuất hiện trong cách nói năng của những người biết chữ và
trong những tác phẩm văn chương nhiều hơn.
Thành ngữ có tính biểu trưng cao thường được sử dụng theo hai phương
thức: ẩn dụ và hoán dụ.
Phương thức ẩn dụ: Là lấy sự vật, sự việc này để nêu lên sự vật, sự việc khác
dựa vào sự liên tưởng về mối quan hệ giống nhau giữa các sự vật, cấu trúc bề mặt
ngôn từ.
Ví dụ:
Mẹ tròn con vuông
Mình đồng da sắt
Phương thức hoán dụ: Là dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó
của sự vật, hiện tượng để gọi tên chính đối tượng đó dựa vào mối liên hệ liên tưởng
lôgic khách quan giữa hai đối tượng.

Ví dụ:
Ăn chay niệm phật
Đầu trộm đuôi cướp

3.3 Dựa vào tiêu chí nguồn gốc
3.3.1 Thành ngữ thuần Việt
Một bộ phận chủ yếu của hệ thống thành ngữ tiếng Việt là những đơn vị
được cấu tạo từ chất liệu Việt ngữ qua hai con đường:
- Định danh hóa các tổ hợp từ tự do: Như đã nói thành ngữ là để diễn giải
những khái niệm nên thành ngữ có chức năng định danh. Do vậy việc sáng tạo

Nhất mẹ nhì con
Đã xuất hiện các tổ hợp thành ngữ như:
Nhất thân nhì quen
Nhất cự li nhì cường độ
Việc tìm ra nguồn gốc của cách hình thành thành ngữ xem ra đây là một đề
tài lí thú và khi nghiên cứu về thành ngữ thì chúng ta không thể không quan tâm tới
được. Cũng chính vì vậy mà chúng ta biết được nguồn gốc chủ yếu của những
thành ngữ.

3.3.2 Thành ngữ vay mượn
Nước ta do chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc, cộng với ách
thống trị của họ trong một thời gian dài vì thế thành ngữ gốc Hán chiếm tỉ lệ khá
cao trong lớp thành ngữ vay mượn từ nước ngoài. Có nhiều cách vay mượn thành
ngữ khác nhau, sau đây là một số cách tiêu biểu.


Khi mượn thành ngữ gốc Hán ta có thể mượn theo cách giữ nguyên cả từ
ngữ lẫn ngữ nghĩa. Và vay mượn thành ngữ theo kiểu này chiếm tỉ lệ cao nhất trong
thành ngữ gốc Hán.
Ví dụ:
Hữu danh vô thực
Giả nhân giả nghĩa
Cách vay mượn thứ hai là khi vay mượn thì dùng hình thức là dịch ra từng
chữ hoặc dịch nghĩa của thành ngữ gốc, và khi dịch ta có thể thay đổi trật tự các yếu
tố cấu tạo sao cho phù hợp với tiếng Việt.
Ví dụ: “Đồng tâm hiệp lực” dịch là “chung lòng chung sức”
“Hữu thủy hữu trung” dịch là “có trước có sau”
Trong cách vay mượn thành ngữ ta còn thấy xuất hiện cách mượn nữa là khi
mượn ta chỉ mượn nghĩa còn lại là dịch hoàn toàn ra tiếng Việt cho phù hợp với
cách nói năng của người Việt.

ta phải công nhận sự đóng góp của Nguyễn Du trong việc sáng tạo ra thành ngữ, tục
ngữ qua tác phẩm Truyện Kiều. Hàng loạt các thành ngữ, tục ngữ Nguyễn Du đã
sáng tạo mà ngày nay nhân dân ta vẫn sử dụng và nó đã được bổ sung vào kho ngôn
ngữ của dân tộc như: “Chữ tài liền với chữ tai một phần”; “chữ tài chữ mệnh khéo
là ghét nhau”.
Không chỉ do nhân dân sáng tác mà thành ngữ và tục ngữ còn là kết quả của
quá trình vay mượn từ tiếng nước ngoài (chủ yếu là tiếng Hán). Nước ta do chịu
ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc nên thành ngữ, tục ngữ chủ yếu vay mượn
từ đây. Và khi vay mượn thì người dân ta đã rất linh hoạt, uyển chuyển. Vì thế, khi
tiếp cận thành ngữ và tục ngữ ta thấy có nhiều cách vay mượn khác nhau. Áp dụng
nhiều cách vay mượn như vậy cũng chỉ với những mục đích là làm cho kho thành
ngữ và tục ngữ của chúng ta thêm phong phú, đa dạng và phù hợp hơn với nền văn
hóa, thói quen nói năng của người Việt.
Thành ngữ, tục ngữ khi vay mượn được giữ nguyên cả về từ ngữ lẫn ngữ
nghĩa và loại này chiếm tỉ lệ cao nhất trong toàn bộ thành ngữ, tục ngữ tiếng Hán
trong tiếng Việt.
Ví dụ: Thành ngữ “giả nhân giả nghĩa”; “hữu danh vô thực”.
Tục ngữ: “Hổ phụ sinh hổ tử”; “an thâm vị lạc”
Thành ngữ, tục ngữ được dịch từ một bộ phận gốc Hán bộ phận còn lại vẫn
giữ nguyên và khi dịch nghĩa không thay đổi.
Ví dụ: Thành ngữ “hữu thủy hữu trung” dịch là “có trước có sau”.
Thành ngữ, tục ngữ khi vay mượn được dịch toàn bộ.
Ví dụ: Thành ngữ “ra sống vào chết” được dịch từ “xuất sinh nhập tử”;
“trăm trận trăm thắng” được dịch từ “bách chiến bách thắng”.


Tục ngữ: “Một chữ cũng là thầy nữa chữ cũng là thầy” được dịch ra từ “nhất
tự vi sư bán tự vi sư”.

4.1.2 Về tính biểu trưng



dung biểu đạt với những hình ảnh sinh động, nghĩa biểu trưng thâm thúy, âm điệu
hài hòa, tính dân tộc đậm đà và có sức thuyết phục cao. Vì thế nó được sử dụng
rộng rãi, không chỉ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày để thể hiện nghệ thuật giao tiếp
của mỗi người, mà chúng ta cũng có thể tìm thấy thành ngữ và tục ngữ ở trong các
sáng tác văn chương, hay trên báo chí.

4.2 Những nét dị biệt giữa thành ngữ với tục ngữ
Bên cạnh những nét giống nhau thì thành ngữ và tục ngữ cũng có những nét
khác nhau. Điều khác biệt này là những dấu hiệu cơ bản nhất để ta có thể phân biệt
được thành ngữ và tục ngữ một cách chính xác mà không bị lầm lẫn. Sau đây là một
số tiêu chí để phân biệt thành ngữ và tục ngữ.

4.2.1 Về chức năng
Thành ngữ có chức năng định danh là chủ yếu. Như chúng ta đã biết thành
ngữ là sự khái quát hàng loạt các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan. Cho
nên nội dung của thành ngữ phần lớn là cái hình chiếu của những yếu tố tạo thành.
Muốn hiểu được nó một cách đầy đủ và trọn vẹn ta phải xem xét dưới nhiều góc độ
nghĩa bóng trên cơ sở mối tương quan hình thức của những yếu tố tạo thành.
Ví dụ: “Chuột sa chỉnh gạo” chỉ việc may mắn của con người gặp được
những nơi sung sướng đầy đủ.
Thành ngữ “ếch ngồi đáy giếng” để chỉ những con người hiểu biết ít, chỉ biết
cái trước mắt, không có tầm nhìn xa trông rộng.
Tục ngữ có chức năng thông báo. Nó thường thông báo một nhận định, một
kết luận nào đó trong thế giới hiện thực khách quan.
Ví dụ: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” khuyên bảo người đời cần
phải tiếp xúc với nhiều người, càng tiếp xúc rộng rãi càng học hỏi được nhiều điều.
Có như vậy con người mới hiểu biết và khôn lớn hơn trong cuộc sống.
“Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” là khuyên những người có số phận, cảnh

ngày nên kim”…
Tục ngữ còn là những lời khuyên răn dạy bảo con người biết cách sống, cách
cư xử sao cho phải đạo với mọi người như “lá lành đùm lá rách”; “học ăn học nói,
học gói học mở”, “uốn cây từ thuở còn non, dạy con từ thuở con còn ngây thơ”…

4.2.3 Về kết cấu ngữ pháp
Giữa thành ngữ và tục ngữ có một điểm khác biệt về ngữ pháp mà chúng ta
dễ dàng nhận ra. Thành ngữ chỉ là một tổ hợp từ. Nó tương đương với từ chứ chưa
phải là một câu hoàn chỉnh. Thành ngữ không có khả năng đứng độc lập trong
chuỗi lời nói mà nó phải dựa vào các yếu tố khác phụ trợ trong câu. Ngay cả khi nó
có kết cấu ngữ pháp hoàn chỉnh nó vẫn không thể diễn đạt được một ý trọn vẹn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status