Sáng kiến kinh nghiệm – Năm học 2008 - 2009
Phần thứ nhất
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh toàn ngành GD-ĐT đang nổ lực đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong hoạt động
học tập nhằm nâng cao mặt bằng dân trí chuẩn bị đào tạo nguồn nhân lực cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Năm học 2008 – 2009 là năm có nhiều sự kiện giáo dục đáng chú ý:
- Năm thứ 2 thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương
đạo đức, tự học và sáng tạo”
- Năm thứ 3 thực hiện tiếp tục thực hiện Chỉ thị 33 của Thủ tướng Chính phủ,
cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung “Nói không với tiêu cực trong thi cử
và bệnh thành tích, nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và học sinh ngồi nhầm
lớp”. Đây là những điểm mấu chốt tiếp theo để việc dạy và học trong nhà trường đi
vào thực chất. Xây dựng, đắp nền móng cho nền giáo dục vươn cao từ đạo đức
người thầy.
- Năm học đầu tiên triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực”;
- Năm học đầu tiên thực hiện Chỉ thị 55/2008/CT- BGD-ĐT về tăng cường
giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai
đoạn 2008- 2012, công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương
pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng
cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.
Trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, thiếu thốn; nhất là ở địa bàn miền núi,
vùng sâu, vùng xa; để thực hiện tốt mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông và nâng cao chất lượng giáo dục góp phần thực hiện tốt cuộc vận động “Nói
không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, nói không với vi
phạm đạo đức nhà giáo và học sinh ngồi nhầm lớp”, xây dựng trường học thân
thiện và hưởng ứng việc thực hiện Chỉ thị 55/2008/CT- BGD-ĐT về tăng cường
giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai
đoạn 2008- 2012 đòi hỏi phải có sự nổ lực rất nhiều của giáo viên và cán bộ quản
- Từ khi được tuyển sinh vào trường ở đầu bậc học.
- Học sinh chuyển đi hàng năm .
- Học sinh chuyển đến hàng năm.
- Học sinh thôi (nghỉ) học hàng năm.
- Học sinh Tốt nghiệp ra trường hàng năm.
- Học sinh vị phạm kỷ luật.
+ Đảm bảo tính chính xác khi lập hồ sơ, lý lịch học sinh ở mỗi năm học. Hạn
chế ở mức thấp nhất việc sai sót, nhầm lẫn của giáo viên khi lập hồ sơ, lý lịch của
học sinh ở đầu mỗi năm học.
+ Trích lọc thông tin về cá nhân của mỗi học sinh.
+ Trích lọc, thống kê số lượng, danh sách học sinh ở từng địa bàn thôn, xóm.
+ Trích lọc thống kê độ tuổi học sinh từng lớp.
+ Trích lọc danh sách học sinh nghỉ học mỗi tháng, mỗi học kỳ và cả năm
học, cung cấp thông tin kịp thời cho Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục xã để phối hợp
với nhà trường tham gia vận động học sinh ra lớp.
+ Trích lọc danh sách học sinh được lên lớp (đủ điều kiện tốt nghiệp), thi lại,
ở lại lớp sau mỗi năm học.
+ Hỗ trợ công tác điều tra phổ cập giáo dục trên địa bàn xã chính xác.
+ Nhà trường chủ động trong việc báo cáo diễn biến về sỉ số học sinh từng lớp
và toàn trường nhanh chóng và chính xác.
II. Mục đích, ý nghĩa của việc sử dụng Microsoft Excel trong việc quản lý
điểm học sinh:
Trong công tác giảng dạy và quản lý, việc quản lý điểm của học sinh nhằm:
Người viết: Trần Văn Quý – Đơn vị công tác: Trường PTCS Ba Bích Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm – Năm học 2008 - 2009
+ Quản lý việc đánh giá kết quả học tập của giáo viên đối với từng học sinh
xuyên suốt mỗi học kỳ và cả năm học.
+ Thông qua việc quản lý điểm để:
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập
của học sinh ở mỗi giáo viên.
cấp).
+ Trích lọc danh sách học sinh có Học lực Yếu cần phục đạo để thi lại.
+ Trích lọc danh sách học sinh ở lại lớp chuẩn bị biên chế vào các lớp ở năm
học sau.
Người viết: Trần Văn Quý – Đơn vị công tác: Trường PTCS Ba Bích Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm – Năm học 2008 - 2009
Phần thứ ba
ỨNG DỤNG MICROSOFT EXCEL
TRONG VIỆC QUẢN LÝ ĐIỂM VÀ HỒ SƠ HỌC SINH
I. Ứng dụng Microsoft Excel trong việc quản lý hồ sơ học sinh:
Đầu năm học, lập hồ sơ học sinh được tuyển sinh vào trường bằng tập tin
Microsoft Excel ghi các nội dung thông tin của học sinh đó.
Giả sử ta lập một bảng cơ sở dữ liệu gồm có các cột như sau (Bảng 1):
Trong đó các dữ liệu phải nhập vào ở các cột:
- Số thứ tự.
- Họ và tên học sinh.
- Ngày sinh.
- Năm sinh
- Nữ.
- Dân tộc.
- Hiện ở thôn.
- Con ông.
- Nghề nghiệp của bố.
- Con bà.
- Nghề nghiệp của mẹ.
- Bỏ học từ “ học kỳ I” hoặc “học kỳ II”
Số thứ tự có thể là số lượng học sinh của mỗi lớp. Mỗi lớp được lập trên một
Sheet của tập tin. Cuối một bảng cơ sở dữ liệu ta thống kê các số liệu có liên quan
đến tổng số học sinh của lớp, độ tuổi của học sinh trong lớp, tổng số học sinh nữ,
tổng số học sinh học ở thôn……Với bảng dữ liệu trên:
Mỗi lớp ta lập hai tập tin workbook trong đó: Một tập tin workbook tính điểm
các môn ở học kỳ I và một tập tin tính điểm các môn ở học kỳ II. Mỗi tập tin gồm
có nhiều Sheet tính điểm trung bình môn học (mỗi Sheet dùng để tính điểm riêng
cho một môn học). Sheet cuối cùng dùng để tính điểm trung bình các môn học của
học kỳ đó. Riêng workbook dùng cho học kỳ II có thêm Sheet tính điểm trung bình
các môn cả năm học. Nếu quản lý điểm chung cho toàn trường và nếu đơn vị
trường học có nhiều lớp học thì ta lập mỗi lớp tập tin workbook như đã nêu trên.
Sau đó liên kết các tập tin workbook lại với nhau và cùng nằm trong một thư mục
(Folder) để dễ dàng quản lý.
Giả sử ta lập chương trình quản lý điểm của một lớp học ta thực hiện như sau:
1. Tạo hai tập tin workbook trong đó một tập tin quản lý điểm học kỳ I
và một tập tin quản lý điểm của học kỳ II.
- Tạo tập tin workbook quản lý điểm học kỳ I: Gồm các Sheet tính điểm các
môn học: Toán, Lý, Hoá (Đối với lớp 8 và lớp 9), Sinh, Công nghệ, Ngữ văn, Sử
Địa, GDCD Tiếng Anh, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tự chon (Đối với trường có học môn
tự chon) và Sheet tính điểm trung bình các môn học kỳ I.
Người viết: Trần Văn Quý – Đơn vị công tác: Trường PTCS Ba Bích Trang 5