Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
MỤC LỤC Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU : 2
I. Lời nói đầu. 2
II. Ý nghóa và tác dụng của đề tài. 2
III. Lý do chọn đề tài. 4
IV. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. 5
V. Phương pháp nghiên cứu. 5
VI. Cấu trúc đề tài 6
B. PHẦN NỘI DUNG : 8
I. Hệ thống và phân loại các kiểu dạng toán có lời văn trong khung
chương trình SGK lớp 3. 8
1) Chương trình toán lớp 3. 8
2) Nội dung và kiến thức về bài toán có lời văn lớp 3. 8
2.1) Nội dung. 8
2.2) Mức yêu cầu. 9
2.3) Cấu trúc. 17
II. Dạy học về giải toán có lời văn lớp 3. 17
1) Phương pháp chung để giải toán có lời văn thông qua 4 bước. 17
1.1) Dạy học giải toán đơn ở lớp 3. 17
1.2) Một số vấn đề giải toán hợp ở lớp 3. 20
2) Yêu cầu học sinh. 23
2.1) Đọc kó đề toán. 23
2.2) Tóm tắt đề toán. 23
2.3) Phân tích đề toán để tìm cách giải. 23
2.4) Thực hiện chính xác các phép tính và hình thành cách giải. 23
3) Yêu cầu giáo viên. 23
3.1) Gợi ý để HS tự làm. 23
3.2) Các hoạt động để hướng dẫn HS 23
III. Những nguyên nhân và biện pháp khắc phục. 50
1) Nguyên nhân từ phía HS. 50
nhiều kinh nghiệm trong việc dạy học về giải toán có lời văn, nhằm giúp HS tiếp thu tốt
về phương pháp giải toán có lời văn để các em học tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn trong
học tập. GV sẽ tìm ra những khó khăn, vướng mắc khi các em giải toán và biện pháp
khắc phục để giúp HS có những kinh nghiệm q báu để giải toán có lời văn ở lớp Ba
được tốt hơn.
Khi làm đề tài này, tôi đã có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, tham khảo tài
liệu nhưng chắc chắn sẽ không sao tránh được những thiếu sót. Tôi rất mong sự thông
cảm và đóng góp ý kiến của q thầy, cô giáo và các bạn đọc để đề tài này được hoàn
chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Lê Công Hạnh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi,
hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình để tôi hoàn thành đề tài này.
II. Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG CỦA ĐỀ TÀI :
Giải toán có lời văn trong môn Toán ở bậc Tiểu học có một vò trí rất quan trọng.
Hầu hết tất cả các tiết học đều có giải toán có lời văn, ở một số tiết ôn tập dành riêng
cho giải toán. Bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia đều được vận dụng vào giải toán có
lời văn.
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 2 -
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
1) Việc giải toán có lời văn đã vận dụng lí thuyết vào bài tập thực hành, qua đó
HS nắm vững thêm về lí thuyết, hiểu cụ thể về lí thuyết, áp dụng công thức toán học
vào bài tập. HS kết hợp được “Học đi đôi với hành”, HS sẽ tiếp nhận được những kiến
thức về cuộc sống và có điều kiện để rèn luyện khả năng áp dụng các kiến thức toán
học vào cuộc sống.
Ví dụ : Tìm chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật, biết chiều rộng 3 m, chiều dài
gấp đôi chiều rộng.
HS phân tích đề toán, tìm số đo chiều dài, sau đó tìm chu vi hình chữ nhật bằng
cách áp dụng qui tắc đã học “Lấy số đo chiều dài cộng với số đo chiều rộng rồi nhân
với 2”.
Về nhà, HS có thể tính được chu vi căn phòng hình chữ nhật nhà mình bằng cách
đo chiều dài, đo chiều rộng; sau đó lấy chiều dài cộng với chiều rộng rồi nhân 2. HS
b) Trong vườn có 135 cây ăn quả, 1/3 số đó là cây xoài, còn lại là cây ổi. Hỏi
có bao nhiêu cây ổi ?
Để giải bài toán, HS phải có 1 số kó năng cần thiết :
- Phân tích đề : Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ?
- Tóm tắt đề : HS biết tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng.
- Giải bài toán : Tìm số cây xoài, sau đó tìm số cây ổi ?
5) Việc dạy – học giải toán có lời văn dòi hỏi HS phải biết sử dụng thành thạo
các dụng cụ học tập : thước, com – pa, … Từ đó, HS rèn luyện nhiều đức tính và phẩm
chất tốt như : cản thận, cần cù, chu đáo, khéo léo, chính xác, có kế hoạch.
6) Việc giải các bài toán còn đòi hỏi HS phải biết tự mìn xem xét vấn đề, tự mình
tìm tòi cách giải quyết vấn đề, tự mình thực hiện các phép tính và tự mình kiểm tra lại
các kết quả. Thông qua các thao tác này sẽ rèn luyện các em đức tính kiên trì, tự lực
vượt khó, cẩn thận, chính xác, yêu thích sự chặt chẽ, …
7) Việc dạy – học giải toán có lời văn còn giúp các em học tốt các môn khác, cụ
thể như môn Tiếng Việt. Các em biết dùng từ đặt lời giải hay, ngắn gọn, …
III. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Toán học là một môn học cơ bản, thiết thực, quan trọng trong chương trình giáo
dục phổ thông. Việc giải toán có lời văn có một ý nghóa và tác dụng to lớn như tôi đã
trình bày ở trên. Ở bậc tiểu học, sự tiếp xúc đầu tiên của HS với lôgich toán họccó thể
bắt đầu từ những tình huống thực tế của lớp học hoặc những tình huống có vấn đề.
Thực tế của việc giải toán có lời văn là thiết lập được quan hệ giữa các đại lượng
đã cho để tìm đại lượng chưa biết. Nói cách khác, HS phải thiết lập được các phép toán
(Mục đích chính quan trọng nhất). Sau đó mới thực hiện việc tính toán, quá trình phát
hiện “cái chưa biết” trong tình huống có vấn đề là quá trình chiếm lónh tri thức mới.
Hơn nữa, việc giải toán có lời văn hiện nay của một bộ phận giáo viên chúng ta
còn lúng túng : việc hướng dẫn HS phương pháp giải các dạng toán điển hình sao cho
HS hiểu, nắm được phương pháp giải từng dạng toán khác nhau. Làm sao để HS sau khi
đọc đề toán hiểu đề, nhận dạng đề toán, biết phân tích đề, tóm tắt đề bằng chữ, bằng sơ
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 4 -
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Dùng ba phương pháp nghiên cứu chủ yếu là đàm thoại trao đổi, tham khảo
nghiên cứu tài liệu và xâm nhập thực tế.
Việc nghiên cứu và xây dựng đề tài được tiến hành các bước cơ bản như sau :
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 5 -
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
Bước 1 : Đọc kỹ và tìm hiểu đề tài. Đây là đề tài : “Dạy học về giải toán có lời
văn ở lớp Ba”.
Bước 2 : Lập đề cương cho đề tài nghiên cứu.
Bước 3 : Sưu tầm tài liệu, sách tham khảo có nội dung về giải toán có lời văn lớp
Ba (theo chương trình SGK mới) dành cho giáo viên và HS để nghiên cứu.
Bước 4 : Gặp mặt các đồng nghiệp đang dạy lớp Ba, các nhà quản lý chuyên môn
ở bậc tiểu học để tham khảo ý kiến, tìm hiểu những kinh nghiệm, những phương pháp
hay nhất về dạy học toán có lời văn. Đồng thời tổ chức gặp mặt các HS lớp Ba để tìm
hiểu những thuận lợi, những khó khăn và quá trình thực hiện hướng dẫn dạy học toán có
lời văn ở lớp Ba. Tìm những tồn tại, vướng mắc thường xảy ra của HS khi học giải toán
có lời văn, những lúng túng và nguyên nhân của giáo viên khi dạy học giải toán có lời
văn trong chương trình SGK mới.
Bước 5 : Tiến hành xây dựng đề tài chi tiết.
VI. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI :
Đề tài nghiên cứu : “Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp Ba” gồm có 3 phần
chính :
A. PHẦN MỞ ĐẦU :
I. Lời nói đầu.
II. Ý nghóa và tác dụng của đề tài.
III. Lý do chọn đề tài.
IV. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
V. Phương pháp nghiên cứu.
VI. Cấu trúc của đề tài.
B. PHẦN NỘI DUNG :
B. PHẦN NỘI DUNG
I. HỆ THỐNG VÀ PHÂN LOẠI CÁC KIỂU DẠNG BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH SGK LỚP 3 :
1) CHƯƠNG TRÌNH LỚP BA :
a)Số học :
a.1) Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000.
- Củng cố các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 (tích không quá 50) và các bảng chia
cho 2, 3, 4, 5 (số bò chia không quá 50). Bổ sung cộng, trừ các số có 3 chữ số có nhớ
không quá 1 lần.
- Lập các bảng nhân và các bảng chia.
- Nhân chia ngoài bảng trong phạm vi 1000 : nhân số có hai, ba chữ số với số
có 1 chữ số có nhớ không quá 1 lần; chia số có hai, ba chữ số cho số có 1 chữ số. Chia
hết và chia có dư.
- Thực hành tính : tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính; nhân nhẩm số có
hai chữ số với số có 1 chữ số, không nhớ; chia nhẩm số có hai chữ số cho số có 1 chữ số,
không có dư ở từng bước chia, …. Củng cố về cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 1000
theo các mức độ đã xác đònh.
- Làm quen với biểu thức số và giá trò của biểu thức. Giới thiệu thứ tự thực
hiện các phép tính trong biểu thức số có đến 2 dấu phép tính, có hoặc không có dấu
ngoặc.
- Giải các bài tập dạng :
“Tìm x, biết a : x = b (với a, b là các số trong phạm vi đã học).
a.2) Giới thiệu các số trong phạm vi 10000.
a.3) Giới thiệu các số trong phạm vi 100000.
b)Đại lượng và đo đại lượng.
c) Yếu tố hình học.
d)Yếu tố thống kê.
e)Giải bài toán.
2) NỘI DUNG KIẾN THỨC VỀ BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 3 :
2.1) Nội dung :
chữ.
VD : 1 bàn : 4 cái ghế.
5 bàn : …… cái ghế ?
- HS biết giải : Lấy đại lượng của 1 bàn nhân với 5 để tìm đại lượng của 5bàn.
- HS phải biết lấy : 4 x 5 = 20 (cái ghế)
Và không được viết : 5 x 4 = 20 (cái ghế).
Chia thành các phần bằng nhau, chia thành nhóm :
- Để giải dạng toán này, HS biết thực hiện phép chia, chia đại lượng đã cho
thành các nhóm bằng nhau. Biết số lượng 1 nhóm và biết tổng số của các nhóm, muốn
tìm bao nhiêu nhóm HS cũng biết thực hiện phép chia.
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 9 -
Yêu cầu HS biết 2 đại lượng cùng đơn vò với
nhau thì ở cùng 1 bên : bàn – bàn, ghế – ghế.
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
VD : + 60 kg gạo chứa đều 6 bao, 1 bao đựng bao nhiêu kilôgam gạo ?
HS biết : 60 : 6 = 10 (kg)
+ 60 kg gạo chứa đều trong các túi, mỗi túi 10 kg gạo. Hỏi có bao nhiêu
túi ?
HS biết : 60 : 10 = 6 (túi).
- Phải dựa vào câu hỏi của bài toán để ghi đơn vò cho đúng.
VD : Bài toán hỏi có bao nhiêu kilôgam thì đơn vò là kg. Nếu bài toán hỏi có bao
nhiêu túi thì đơn vò là túi.
Chia có dư :
- HS phải biết đặt lời giải đúng kết quả phép tính, ghi đúng đơn vò và phần
dư.
Đáp số phải ghi cả phần dư.
VD : Mỗi bộ may mất 3 m vải. Có 14 m vải thì may được bao nhiêu bộ và còn
thừa mấy mét vải ?
Giải :
Số bộ may được và số mét vải còn thừa là :
HS có thể giải theo 4 cách :
Bài giải :
Cách 1 : Số kilôgam đường còn lại và ngày thứ hai bán là :
12 + 47 = 59 (kg)
Số kilôgam đường bán ngày thứ nhất là :
137 – 59 = 78 (kg).
Đáp số : 78 kg.
Cách 2 : Số kilôgam đường bán ngày thứ nhất và ngày thứ hai là :
137 – 12 = 125 (kg).
Số kilôgam đường bán ngày thứ nhất là :
125 – 47 = 78 (kg).
Đáp số : 78 kg.
GV có thể gợi ý cho HS giỏi của lớp giải thêm 2 cách khác :
Cách 3 : Số kilôgam đường bán ngày thứ nhất là :
137 – 47 – 12 = 78 (kg).
Đáp số : 78 kg.
Cách 4 : Số kilôgam đường bán ngày thứ nhất là :
137 – ( 47 + 12 ) = 78 (kg).
Đáp số : 78 kg.
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 11 -
Cửa hàng có 137 kg đường.
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
VD 2 : Có 3 hộp bi có tất cả là 46 viên. Tổng số bi của hộp thứ nhất và hộp thứ
hai là 33 viên bi, tổng số bi hộp thứ hai và hộp thứ ba là 28 viên bi, tổng số bi hộp thứ
ba và hộp thứ nhất là 31 viên bi. Hỏi mỗi hộp có bao nhiêu viên bi ?
GV hướng dẫn HS tóm tắt :
Hộp 1 + hộp 2 : 33 viên bi.
Hộp 2 + hộp 3 : 28 viên bi.
Cả 3 hộp : 46 viên bi.
Hỏi mỗi hộp : … viên bi ?
là những phần bằng nhau.
- HS phải luôn ghi nhớ : Muốn gấp 1 số lên nhiều lần, ta lấy số đó nhân với
số lần. Muốn giảm 1 số đi nhiều lần, ta lấy số đó chia cho số lần và áp dụng qui tắc đó
để giải các bài tập.
VD 1 : Bao mì nặng15 kg, bao gạo nặng gấp 3 lần bao mì. Hỏi bao gạo nặng bao
nhiêu kilôgam ?
VD 2 : Can dầu đựng 30 l, can xăng đựng kém can dầu 2 lần. Hỏi cả 2 can đựng
bao nhiêu lít ?
So sánh số lớn gấp mấy lần số bé, số bé bằng một phần mấy số lớn :
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 13 -
Tóm tắt
Bao mì :
Bao gạo :
15 kg
? kg
GV phải gợi ý : + Bao gạo nặng gấp 3 lần bao mì,
vậy nếu ta vẽ số kilôgam của bao mì là 1 phần thì ta
vẽ số kilôgam của bao gạo là mấy phần ? (HS : số
kilôgam bao gạo là 3 phần).
+ Các phần này, ta vẽ như thế nào ? (HS : Ta vẽ các
phần này là những đoạn thẳng bằng nhau.)
Bài giải :
Bao gạo cân nặng là :
15 x 3 = 45 (kg)
Đáp số : 45 kg.
- GV hướng dẫn : Bài toán có dạng gì ? (gấp 1 số lên
nhiều lần).
- Muốn tìm bao gạo cân nặng bao nhiêu, ta làm sao ?
(lấy số kilôgam của 1 bao mì gấp lên 3 lần : 15 x 3 = 45
(kg)
chia cho số phần. (muốn tìm 1/3 của 1 số, ta lấy số đó chia cho 3; muốn tìm 1/5 của 1 số,
ta lấy số đó chia cho 5).
VD 1 : Dũng có 36 viên bi. Lộc có số viên bi bằng 1/3 số viên bi của Dũng. Hỏi
Lộc có bao nhiêu viên bi ?
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 14 -
Bài giải :
Số lần số vòt gấp số gà là :
25 : 5 = 5 (lần)
Đáp số : 5 lần.
Tóm tắt
Gà : 5 con.
Vòt : 25 con.
Số vòt gấp … lần ? số gà.
Tóm tắt
Trâu :
Bò :
Số trâu bằng 1/… số bò ?
Bài giải :
Số con bò có là :
7 + 28 = 35 (con)
Số bò gấp số trâu số lần là :
35 : 7 = 5 (lần)
Vậy số trâu bằng 1/5 số bò.
Đáp số :
5
1
.
7 con
28 con
? con
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 15 -
Tóm tắt
Tấm vải xanh :
Tấm vải đỏ :
27 m
? m
? m
Bài giải :
Tấm vải đỏ dài là :
27 : 3 = 9 (m).
Cả hai tấm vải dài là :
27 + 9 = 36 (m).
Đáp số : 36 m.
Bài giải :
Số lít dầu 1 thùng đựng là :
414 : 9 = 46 (l)
Số lít dầu 6 thùng đựng là :
46 x 6 = 276 (l)
Đáp số : 276 l.
Tóm tắt
9 thùng : 414 l.
1 thùng : … l ?
6 thùng : … l ?
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
Bài giải :
Số kilôgam của 1 bao là :
72 : 8 = 9 (kg)
Số bao đựng 54 kg là :
54 : 9 = 6 (bao)
Đáp số : 6 bao.
72 kg : 8 bao.
… kg ? : 1 bao.
54 kg : … bao ?
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
- Nắm được bảng đơn vò đo khối lượng, thuộc tên và viết đúng các đơn vò đo, biết
đổi số đo khối lượng.
- Nắm được các đơn vò do thời gian, biết đổi số đo thời gian.
- Biết xem lòch, ngày, tháng, năm; tính ngày, tháng, năm, giờ, phút.
- Biết các loại tiền Việt Nam, biết tính giá trò tiền Việt Nam.
2.3) Cấu trúc :
Một bài toán có lời văn có cấu trúc sau :
II. DẠY HỌC GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 3.
1) Phương pháp chung để giải bài toán có lời văn :
Thông qua 4 bước :
+ Bước 1 : HS tự đọc đề toán (2 lần).
+ Bước 2 : Tóm tắt đề toán bằng ngôn ngữ ngắn gọn hay bằng sơ đồ đoạn thẳng.
+ Bước 3 : Phân tích đề toán để tìm cách giải.
• Bài toán cho biết gì ?
• Bài toán hỏi gì ?
• Giải bài toán bằng mấy phép tính ? Đó là những phép tính nào ?
+ Bước 4 : Thực hiện chính xác các phép tính và hình thành cách giải.
Cụ thể là :
1.1) Dạy học giải toán đơn ở lớp 3 :
1.1.1) Có thể dạy HS giải các bài toán đơn theo trình tự sau :
Bước 1 : Hướng dẫn HS đọc kó đề toán, xác đònh cái đã cho, cái phải tìm (Có thể
sử dụng trực quan để minh họa). Cần lưu ý HS đến các “từ chìa khóa” trong bài toán
(nếu có) như : thêm, bớt, nhiều hơn, ít hơn, gấp … lần, giảm … lần, v.v…
Bước 2 : Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ, hình vẽ để làm rõ cái đã cho, cái phải tìm
và mối quan hệ giữa chúng (thường thể hiện qua từ “chìa khóa”).
Bước 3 : Hướng dẫn HS lựa chọn đúng phép tính cần thiết trên cơ sở HS hiểu
Bước 4 :
Hãy viết lời giải ! (“Độ dài đoạn thẳng CD là :” hay “Đoạn thẳng CD dài :” …)
GV ghi lên bảng, chẳng hạn : “Độ dài đoạn thẳng CD là :”
Bước 5 :
- Vậy muốn gấp 2 dm lên 3 lần ta làm thế nào ? (Lấy 2 dm nhân vơí 3).
- Muốn gấp một số lên 3 lần ta làm thế nào ? (Lấy số đó nhân với 3).
- Muốn gấp một số lên nhiều lần ta làm thế nào ? (Lấy số đó nhân với số lần).
Vài em nhắc lại.
Sau đó GV tổ chức cho HS luyện tập.
1.1.2) Mấy điều cần lưu ý khi dạy giải toán đơn :
1.1.2.1) Các bước trên là một trình tự đầy đủ để GV tham khảo. Trong thực tế
có thể lược bớt đi một số bước. Thậm chí, khi HS đã quen thì có thể cho các em tự đọc
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 18 -
A B
C
D
2 dm
? dm
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
đề và tự giải, không cần bước nào cả. Cũng xin nói thêm là : nếu HS không tóm tắt đề
toán mà vẫn giải thì GV vẫn cho điểm tối đa.
1.1.2.2) Không nên coi thường việc dạy giải toán đơn. Cần lưu ý là thông qua
các bài toán đơn HS sẽ hiểu rõ hơn ý nghóa của các phép tính và biết cách áp dụng bốn
phép tính cộng, trừ, nhân, chia vào cuộc sống, sinh hoạt và học tập. Một bài toán hợp
thực ra chỉ là sự kết nối của các bài toán đơn. Do đó nếu HS nắm không vững các bài
toán đơn thì chẳng thể nào học giải toán hợp được.
1.1.2.3) Có thể nêu “qui tắc” giải cho các bài toán ở lớp 3 như sau :
- Muốn so sánh hai số hơn, kém nhau bao nhiêu đơn vò ta lấy số lớn trừ số bé.
- Muốn tìm một phần mấy của một số ta lấy số đó chia cho số phần.
- Muốn biết số lớn gấp mấy lần số bé ta lấy số lớn chia cho số bé.
3 (tr. 70, SGK) : “Có 31 m vải, may mỗi bộ quần áo hết 3 m. Hỏi có thể may được nhiều
nhất là mấy bộ quần áo và thừa mấy mét vải ?”.
Giải :
Thực hiện phép chia :
31 : 3 = 10 (dư 1)
Vậy may được nhiều nhất 10 bộ quần áo và còn thừa 1 m vải.
Đáp số : 10 bộ quần áo, thừa 1 m vải.
1.1.2.7) Cần lưu ý cho HS so sánh các bài toán đơn :
- Tương tự nhau, chẳng hạn :
+ Gấp (giảm) một số lên (đi) nhiều lần và thêm (bớt) một số đơn vò.
+ So sánh 2 số hơn (kém) nhau bao nhiêu đơn vò và so sánh số lớn (số bé) gấp
mấy lần (bằng một phần mấy) số bé (số lớn).
- Ngược nhau, chẳng hạn :
+ So sánh số lớn gấp mấy lần số bé, và so sánh số bé bằng một phần mấy số lớn.
+ Tìm tích, chia thành phần bằng nhau và chia thành nhóm.
1.2) Một số vấn đề về việc dạy Giải toán hợp ở lớp 3 :
1.2.1) Đường lối chung để dạy HS giải các bài toán hợp :
Bước 1 : Hướng dẫn HS đọc kó đề toán để xác đònh : cái đã cho, cái phải tìm.
Bước 2 : Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ, hình vẽ hoặc ngôn ngữ ngắn gọn để thiết
lập được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm.
Bước 3 : Phân tích bài toán : Ta thường dùng cách suy luận ngược từ câu hỏi của
bài toán đến những cái đã cho để tìm đường lối giải.
Bước 4 : Giải bài toán : Dựa vào đường lối giải đã nghó được ở bước 3, HS thực
hiện các phép tính, viết các lời giải và đáp số (có thử lại).
Sau đây là một ví dụ minh họa : Xét bài toán 1 (tr. 50, SGK) nêu : “Anh có 15
tấm bưu ảnh, em có ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh. Hỏi hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm
bưu ảnh ?”.
Bước 1 :
- HS đọc đề toán hai lần.
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 20 -
15 tấm
7 tấm
? tấm bưu ảnh
15
- 7
Anh
Em
? tấm bưu ảnh
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
1.2.2.3) Không thể dựa vào câu hỏi của đề toán để đặt lời giải cho phép (bước)
tính thứ nhất của bài toán hợp như đối với toán đơn. Do đó để làm việc này, ta có thể
dùng một trong các cách đã nêu ở 1.1.2.4 (cách 4) và mục 1.2.2.2.
1.2.2.4) Nên hết sức hạn chế lối hướng dẫn HS tìm cách giải bài toán theo kiểu
“tổng hợp” : cứ đi xuôi theo lời văn của đề toán để làm tính. Chẳng hạn :
- Bài toán cho gì ? (Anh có 15 tấm bưu ảnh).
- Còn cho gì nữa ? (Em có ít hơn anh 7 bưu ảnh).
- Vậy có tính được số bưu ảnh của em không ? (Có) Tính thế nào ? (15 – 7 = 8
(bưu ảnh)).
- Đã biết anh có 15 bưu ảnh, em có 8 bưu ảnh thì có tính được hai anh em có
tất cả bao nhiêu bưu ảnh không ? (Có) Tính thế nào ? (15 + 8 = 23 (bưu ảnh)).
v.v…
Bởi vì cách làm này không đặc trưng cho phương pháp suy nghó để tìm cách
giải một bài toán (phương pháp giải quyết vấn đề). Tuy rằng cách làm này có thể giúp
HS dễ dàng tìm ra đáp số trong một số bài toán có chứa các quan hệ tường minh nhưng
sau này gặp những bài toán có chứa các quan hệ được cho 1 cách tiềm ẩn là trẻ sẽ bất
lực.
1.2.2.5) Để rèn luyện cho HS kó năng trinh bày, diễn đạt và suy luận, ta nên hạn
chế việc cho các em giải toán bằng cách tính gộp (dãy tính). Chẳng hạn, với bài toán
nêu trên chưa nên cho HS giải như sau :
Bài giải :
3.1) Gợi ý để HS tự làm bài :
GV chỉ là người gợi mở, dẫn dắt để HS tìm ra hướng giải bài toán thông qua hệ
thống câu hỏi gợi mở.
3.2) Các hoạt động để hướng dẫn HS :
- Yêu cầu HS đọc kó đề toán. (ít nhất 2 lần).
- Cho HS nhận dạng bài toán, từ đó biết tóm tắt bài toán bằng chữ hoặc bằng
sơ đồ đoạn thẳng.
- Hướng dẫn HS phân tích đề tìm cách giải :
+ Bài toán cho biết gì ?
+ Bài toán hỏi gì ?
+ Để giải bài toán ta dùng phép tính gì ? v.v…
GV dùng hệ thống câu hỏi để gợi mở cho HS trả lời, tìm ra hướng giải đúng cho
bài toán.
- Yêu cầu HS thực hiện chính xác cac phép tính và hình thành cách giải.
HS có thể làm việc theo nhóm, làm việc cá nhân. Thực hiện bài làm trên bảng,
làm vào vở bài tập, làm vào phiếu bài tập, …
GV theo dõi, kiểm tra, nhắc nhở, hướng dẫn HS làm bài tốt, đúng giờ giấc.
p dụng từng dạng toán có lời văn cụ thể như sau :
SVTH : Dương Thò Châu Giang - 23 -
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
Phương pháp giải toán dạng : Các bài toán về nhiều hơn, ít hơn – so sánh hai số
hơn kém nhau bao nhiêu đơn vò.
VD 1 : Thùng thứ nhất có 36 lít dầu, thùng thứ hai ít hơn thùng thứ nhất 8 lít dầu. Hỏi
cả 2 thùng có bao nhiêu lít dầu ?
* Hướng dẫn giải :
+ Bước 1 : Yêu cầu HS đọc kó đề toán (2 lần).
+ Bước 2 : Tóm tắt đề toán :
- Bài toán có dạng toán gì ?
- Vậy ta tóm tắt bằng gì ?
Tóm tắt :
nhất 8 l. Vậy muốn tìm số lít dầu
thùng thứ hai ta thực hiện phép
tính gì ?
- Muốn tính số dầu cả 2 thùng, ta
làm phép tính gì ?
- Tìm số lít dầu thùng 2.
- Tính trừ (36 – 8)
- Tính cộng. (Lấy số dầu thùng thứ nhất
cộng với số dầu thùng thứ hai).
Dạy học về giải toán có lời văn ở lớp 3.
- Bài toán hỏi gì ?
ngày thứ ba sản xuất được 142 sản phẩm.
- Hỏi ngày thứ nhất nhà máy sản xuất được
bao nhiêu sản phẩm ?
+ Bước 2 : Tóm tắt đề toán :
Tóm tắt :
Ngày 1 :
Ngày 2 :
Ngày 3 :
GV hướng dẫn HS tóm tắt bằng sơ đồ
đoạn thẳng.
+ Bước 3 : Hướng dẫn giải.
- Bài toán hỏi gì ? (Số sản phẩm ngày thứ nhất sản xuất là bao nhiêu ?).
- Nhìn sơ đồ tóm tắt em thấy muốn tìm số sản phẩm ngày thứ nhất, ta làm sao ?
(Lấy số sản phẩm ngày thứ hai trừ đi 12 sản phẩm).
- Muốn tìm số sản phẩm ngày thứ hai, ta làm sao ? (Lấy số sản phẩm ngày thứ ba
trừ đi 7 sản phẩm.)
- Số sản phẩm ngày thứ ba ta đã biết chưa ? (Biết rồi : 142 sp).
- Nhìn vào sơ đồ tóm tắt, em hãy nêu cách giải ngược từ dưới lên ? (Muốn tìm số
sản phẩm ngày thứ hai, em lấy số sản phẩm ngày thứ ba trừ đi 7 sản phẩm. Muốn tìm số