Sáng kiến kinh nghiệm Tập Đọc lớp 2 - Pdf 28

I - Lý do chọn đề tài:
1/ Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài ngời. Ngôn ngữ còn
là hiện thực trực tiếp của t tởng:
Ngôn ngữ là phơng tiện biểu hiện tâm trạng tình cảm của loài ngời. Môn Tiếng việt
rất quan trọng đối với học sinh tiểu học. Bởi vì nếu học sinh tiểu học không có vốn từ vựng
Tiếng việt thì không sử dụng đúng Tiếng việt sẽ rất khó khăn trong giao tiếp và trong học
tập. Chơng trình tiểu học mới nói chung và lớp 2 nói riêng xác định mục tiêu của môn Tiếng
việt ở bậc tiểu học là:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng việt (Nghe, nói, đọc,
viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy học Tiếng việt, góp phần rèn luyện các thao tác của t duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng việt và những hiểu biết sơ
giản về xã hội. Tự nhiên và con ngời, về văn hoá văn học của Việt Nam và nớc ngoài.
- Bồi dỡng tình yêu Tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp
của Tiếng việt, góp phần hình thành, nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2/ Xuất phát từ nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học:
- Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành
năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc đợc tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là bốn yêu cầu về
chất lợng của đọc đọc đúng, đọc nhanh (đọc lu loát, trôi chảy) đọc có ý thức (không hiểu
đợc nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng
này đợc hình thành trong hai hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng đợc rèn
luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác
động tích cực đến những kỹ năng khác.
Ví dụ: Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng nh cho phép thông hiểu nội dung văn
bản. Ngợc lại nêu không hiểu điều đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm đợc.
Nhiều khi, khó mà nói đợc rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng
mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mới đọc đúng. Vì vậy trong dạy đọc không thể xem
nhẹ yếu tố nào.
- Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phơng pháp và thói quen làm việc với
bản bản, làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách trở thành một sự tôn sùng ngự trị
trong nhà trờng đó là một trong những điều kiện để trờng học thực sự trở thành trung tâm văn hoá.

Học sinh cha hiểu cách nói văn chơng, vốn lý luận cha có các em thờng ngắt giọng
giữa từ ghép, các em cha đọc đúng chỗ nào cần lên giọng, chỗ nào cần học giọng xuống khi
đọc câu hỏi giọng đọc các em còn đều đều cha toát lên đợc nội dung câu hỏi. Khi đọc các
câu hội thoại các em cha phân biệt đợc giọng của nhân vật, giọng của tác giả.
- Giáo viên tiểu học còn lúng túng các bớc khi dạy tập đọc theo chơng trình mới, vận
dụng quy trình còn máy móc dạy còn theo sách giáo viên, sách thiết kế bài soạn chứ không
chú ý đến đặc thù của địa phơng.
Cần đọc bài tập đọc (mỗi dạng thơ, văn xuôi) nh thế nào, làm thế nào để chữa lỗi phát âm
cho học sinh dân tộc thiểu số, làm thế nào để các em đọc đúng, đọc nhanh hơn, rèn kỹ năng
đọc đúng, đọc hiểu một nội dung để đọc hay hơn, diễn cảm hơn. Làm thế nào để để hiểu đợc
văn Làm sao để phối hợp đọc thành tiếng và đọc hiểu, với cách dạy nh thế nào để cho
những gì đợc đọc hiểu và tác động và chính cuộc sống các em Đó là những trăn trở của
giáo viên trong mỗi giờ tập đọc từ thực trạng đó nên dẫn đến giờ dạy hiệu quả cha cao mà trong
chơng trình cha có hớng dẫn cụ thể, cha đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy.
Xuất phát từ những lý do vừa nêu trên trong luận văn này chúng tôi chọn nghiên cứu
về đề tài: Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2 .
II - Một số cơ sở lý luận:
1/ Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học:
1.1/ Khái niệm đọc:
Môn Tiếng việt ở trờng phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn
ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ đợc thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tơng
ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là
quá trình chuyển dạng thức viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình
thức đọc thành tiếng) là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị
nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm) Hai mảng này có liên quan với nhau bởi vì đọc
thành tiếng đúng thì mới điểu và ngợc lại có hiểu mới đọc đúng đọc hay.
1.2/ ý nghĩa của việc đọc:
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hoá khoa học t tởng tình
cảm của các thế hệ trớc và của cả những ngơì đơng thời phần lớn đã đợc ghi lại bằng chữ
viết. Nếu không biết đọc thì con ngời không thể tiếp thu nền văn minh của loài ngời, không

con chữ và ý tởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho đợc nội dung
những gì đợc đọc. Đọc bao gồm những yếu tố tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ
quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đợc đọc, càng ngày những yếu
tố này càng gần với nhau hơn, tác động đến nhau là nhiều hơn.
Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những
mặt riêng lẻ này trong quá trình đọc. Đó là điểm phân biệt ngời mới biết đọc và ngời đọc
thành thạo. Học sinh càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng
hoàn thiện, càng chính xác biểu cảm bấy nhiêu.
Việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc (tức là việc chuyển dạng
thức chữ viết của từ và âm thanh) đọc đợc hiểu và kỹ thuật đọc cộng với sự thông hiểu đọc
(không chỉ hiểu nghĩa từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài) ý nghĩa cả hai mặt của thuật ngữ đọc
đợc ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phơng pháp dạy học.
Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài T.G.E
Gôrốp chia việc hình thành kỹ năng này qua 3 giai đoạn phân tích, tổng hợp (còn gọi là giai
đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chính thể của hành động) và giai đoạn tự động hoá.
Học sinh lớp 2, 3 bắt đầu đọc tổng hợp. Thời gian gần đây ngời ta đã chú trọng hơn
đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kỹ năng đọc, làm việc với văn
3
bản. Đòi hỏi tổ chức giờ tập đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc, đồng thời hớng
đến việc hoàn thiện kỹ năng đọc, hớng đến đọc có ý thức bài đọc.
Đọc là hiểu nghĩa chữ viết, nếu trẻ không hiểu thì những từ đa ra cho các em đọc thì
các em sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thành công. Do đó hiểu những
gì đợc đọc sẽ tạo ra động cơ hứng thú cho việc đọc.
Mục đích này chỉ có thể đạt đợc thông qua con đờng luyện giao tiếp có ý thức. Một
phơng tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục tiêu đạt tới trong sự chiếm lĩnh
ngôn ngữ. Chính là việc đọc cả đọc thành tiếng và đọc thầm.
Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bớc sau:
+ Hiểu nghĩa các từ ngữ
+ Hiểu nghĩa các câu
+ Hiểu nghĩa các khối đoạn

giọng (phối hợp cả cờng độ và trờng độ).
1.4.2/ Cơ sở lý thuyết văn bản phong cách học và việc dạy đọc cho học sinh:
Việc dạy học không thể dựa trên lý thuyết văn bản, những tiêu chuẩn để phân tích,
đánh giá một văn bản nói chung cũng nh lý thuyết để phân tích đánh giá các tác phẩm văn
4
chơng nói riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc cho học sinh phải dựa trên những tiêu chuẩn
đánh giá văn bản tốt, tính chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm mỹ, dựa trên các đặc điểm
về kiểu ngôn ngữ, các phong cách chức năng, các thể loại văn bản các đặc điểm về tác phẩm
của thể loại văn chơng dùng làm ngữ liệu đọc ở Tiểu học.
Ví dụ: Cách đọc và khai thác để hiểu nội dung bài thơ, một đoạn tả cảnh, một câu tục
ngữ, một truyền thuyết, một bài lịch sử là khác nhau. Việc hớng dẫn học sinh tìm hiểu nội
dung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề tài, chủ đề kết cấu nhân vật, quan hệ
giữa nội dung hình thức, các biện pháp thể hiện trong tác phẩm văn học nhằm miêu tả, kể
chuyện và biểu hiện các phơng tiện, biện pháp tu từ.
Khi luyện đọc cho học sinh dựa trên những hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ văn học,
tính hình tợng, tính tổ chức cao và tính hàm đa nghĩa của nó.
* Chuẩn bị cho việc đọc thành tiếng:
Giáo viên hớng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi ngồi đọc cần ngồi ngay
ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30-35cm, cổ và đầu thẳng, phải
thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi. ở lớp khi đợc cô giáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự
tin không hấp dẫn đọc ngay.
Trớc khi nói về việc rèn đọc đúng cần nói về tiêu chí cờng độ và t thế khi đọc, tức là
rèn đọc to, đọc đàng hoàng. Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc thành tiếng ngời đọc một lúc
đóng hai vai: Một vai - và mặt này thờng đợc nhấn mạnh - là ngời tiếp nhận thông tin, bằng
chữ viết, vai thứ hai là ngời trung gian để truyền thông tin, đa văn bản viết đến ngời nghe.
Khi giữ vai thứ hai này, ngời đọc đã thực hiện việc tái sản sinh văn bản. Vì vậy khi đọc thành
tiếng ngời đọc có thể đọc cho mình hoặc cho ngời khác hoặc cho cả hai. Đọc cùng với phát
biểu trong lớp là hai hình thức giao tiếp trớc đám đông đầu tiên của trẻ em nên giáo viên
phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công tạo cho các em sự tự tin cần thiết.
Khi đọc thành tiếng các em phải tính đến ngời nghe. Giáo viên cần cho các em hiểu rằng các

chấm. Đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, học giọng ở cuối câu kể, thay
đổi giọng cho phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm, với câu cầu khiến cần nhấn
giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi
đọc bộ phận giải thích của câu
Nh vậy đọc đúng đa bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.
- Trình tự luyện đọc đúng: Trớc khi lên lớp giáo viên phải dự tính để ngăn ngừa các
lỗi khi đọc. Tuỳ đối tợng học sinh, giáo viên xác định các lỗi phát âm mà học sinh địa phơng
hoặc các vùng dân tộc dễ mắc phải để định ra các tiếng, từ, cụm từ, câu khó để luyện đọc tr-
ớc.
Khi lên lớp đầu tiên giáo viên đọc mẫu rồi cho cả lớp đọc đồng thanh, cuối cùng cho các
em đọc cá nhân các tiếng, từ khó này, với những câu mà giáo viên dự tính sẽ có nhiều em đọc sai
phách câu. Cũng tiến hành nh vậy, cuối cùng mới luyện đọc hoàn chỉnh cả đoàn bài.
- Luyện đọc nhanh: Đọc nhanh là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là việc đọc
không ê, a ngắc ngứ, vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọc đúng. Đọc nhanh chỉ thực
sự có ích khi có không tách rời việc hiểu rõ điều đợc đọc. Khi đọc cho ngời khác nghe thì
ngời đọc phải xác định tốc độ nhanh nhng để cho ngời nghe hiểu kịp thời. Vì vậy đọc nhanh
không phải là đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận đợc của đọc nhanh khi đọc thành tiếng
trùng với tốc độ của lời nói.
+ Biện pháp luyện đọc nhanh: Giáo viên hớng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc
bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ,
câu , đoạn, bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc. Ngoài ra còn có
biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự kiểm tra của giáo viên của bạn để điều chỉnh
tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có tiếng cho trớc và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút.
Định tốc độ đọc nh thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc.
* Chuẩn bị cho việc đọc thầm: Cũng nh khi ngồi đọc (vì ít khi đứng đọc) thành
tiếng, t thế ngồi đọc thầm phải ngay ngắn khoảng cách giữa mắt và sách 30-35cm.
- Kỹ năng đọc thầm phải đợc chuyển dần từ ngoài vào trong, từ đọc to đọc nhỏ
đọc mấp máy môi (không thành tiếng) đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấp máy môi
(đọc thầm) giai đoạn cuối lại gồm 2 bớc: Di chuyển mắt theo que trỏ hoặc ngón tay rồi đến
chỉ có măt di chuyển. Giáo viên phải tổ chức quá trình chuyển từ ngoài vào trong này.

đích. Từ là hớng vào việc hình thành các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh.
c/ Phải tổ chức tốt hoạt động nói năng của học sinh để dạy học Tiếng việt. Nghĩa là
phải sử dụng giao tiếp nh một phơng pháp dạy học chủ đạo ở tiểu học
2.1.2/ Nguyên tắt phát triển t duy, yêu cầu:
a/ Phải chú ý rèn luyện các thao tác và phẩm chất t duy trong giờ dạy tiếng.
b/ Phải chú ý làm cho học sinh thông hiểu đợc ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ.
c/ Phải tạo điều kiện cho học sinh nắm đợc nội dung các vấn đề cần nói viết và biết
thể hiện nội dung này bằng các phơng tiện ngôn ngữ.
2.1.3/ Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng mẹ đẻ của học sinh: Sự vận dụng nguyên
tắc này khi dạy Tiếng việt với t cách là tiếng mẹ đẻ và với t cách là ngôn ngữ thứ hai có khác
nhau.
Trớc hết, với những học sinh ngời việt, khi nghiên cứu Tiếng việt học sinh tiếp xúc
với một đối tợng quen thuộc, gắn bó trực tiếp với cuộc sống hàng ngày của các em. Trớc khi
đến trờng các em đã nắm hai dạng hoạt động nói và nghe. Các em đã co một vốn từ và quy
tắc ngữ pháp nhất định. Vì vậy, cần phải điều tra, nắm vững vốn Tiếng việt của học sinh theo
từng lớp từng vùng khác nhau để hoạch định nội dung, kế hoạch và phơng pháp dạy học. Đó
là, yêu cầu thứ nhất của việc thực hiện nguyên tắc, yêu cầu thứ hai là phải phát huy tính tích
cực chủ động của học sinh trong giờ học Tiếng việt. Yêu cầu thứ ba là giáo viên cần hệ
thống hoá, phát huy những năng lực tích cực của học sinh hạn chế và xoá bỏ những mặt tiêu
cực về lời nói của các em trong quá trình học tập. Ví dụ, chú trọng dạy phong cách viết và
dạng độc thoại là những phong cách và dạng lời nơi học sinh mới làm quen lần đầu tiên khi
đến trờng. Chú ý chữa các lỗi phát âm địa phơng đặc biệt là các lỗi chính tả do phát âm địa
phơng.
7
Với những học sinh học Tiếng việt với t cách là thứ tiếng th hai. Việc vận dụng
nguyên tắc này cũng rất quan trọng. Nếu tiếng mẹ đẻ có đặc điểm giống Tiếng việt thì học
sinh cần sử dụng kinh nghiệm nói năng sang nói Tiếng việt. Còn những điểm nào không
giống thì xem là cản trở, cần làm so sánh loại hình, nghiên cứu sự chuyển di tích cực và tiêu
cực để có ứng dụng trọng dạy học Tiếng việt cho những đối tợng này.
Vấn đề nguyên tắc dạy tiếng đang đợc tiếp tục nghiên cứu từ mô hình thực tế đến các

Việc tách ra từng phơng pháp là để giải thích rõ nội dung của chúng. Trong thực tế
dạy học các phơng pháp thờng đợc sử dụng phối hợp chặt chẽ không có phơng pháp nào là
vạn năng. Điều quan trọng là phải nắm vững các điều kiện cụ thể của dạy học để lựa chọn
phơng pháp cho phù hợp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến lựa chọn phơng pháp là nhiệm
vụ dạy học, nội dung dạy học, khả năng của học sinh trình độ của giáo viên, điều kiện vật chất.
III - Một số cơ sở thực tiễn:
1/ Các phơng tiện dạy học:
8
- ở địa bàn chúng tôi đồ dùng dạy học đã có là bảng phụ phấn màu, phiếu bài tập và
tranh minh họa trong sách giáo khoa.
Đồ dùng, các phơng tiện hiệu quả giờ dạy tập đọc. Hiện nay trong thực tế dạy học tập
đọc có hai cách làm trái ngợc nhau. Có những giáo viên khi dạy tập đọc không bao giờ quan
tâm đến việc chuẩn bị đồ dùng gì khác ngoài quyển SGK. Ngợc lại có những giáo viên cho
rằng đồ dùng dạy học là điều kiện đầu tiên quyết định chất lợng giờ dạy. Để minh hoạ cho
một tiết tập đọc có giáo viên đã bỏ ra vài trăm ngàn đồng để có đợc một bức tranh.
Khi chuẩn bị đồ dùng dạy học, giáo viên cần xác định đợc mục đích của đồ dùng đó
là gì, nó đợc sử dụng vào lúc vào và cách sử dụng của nó ra sao. Trong thực tế có những giáo viên
đã sử dụng đồ dùng trực quan một cách tuỳ tiện mà không nắm đợc mục đích của chúng.
+ Các tài liệu dạy học:
- Sách giáo khoa
Sách đợc xây dựng theo 2 trục là chủ điểm và kỹ năng trong đó chủ điểm đợc lấy làm
khung cho cả cuốn sách, còn kỹ năng đợc lấy làm khung cho từng tuần, từng đơn vị học.
Sách bao gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị học gắn với một chủ điểm cho trong 2 tuần
(riêng chủ điểm nhân dân học trong 3 tuần) thời gian còn lại (5 tuần) để ôn tập, kiểm tra
giữa kỹ hoặc cuối kỳ.
Tập một tập trung vào mảng Học sinh - nhà trờng - gia đình gồm 8 đơn vị học dạy
trong 16 tuần và 2 tuần cho ôn tập kiểm tra giữa kỳ và cuối kỳ.
Các đơn vị học là: Em là học sinh (Tuần 1, 20 bạn bè (Tuần 3, 4) trờng học (tuần 5, 6)
thầy cô (tuần 7, 8) cha mẹ (tuần 10, 11).
Anh em (tuần 12, 13) ông bà (tuần 14, 15) bạn trong nhà (tuân 16, 17 ).

- Các chủ điểm sát thực, gần gủi với đời sống hàng ngày của học sinh.
+ Các loại văn bản không phải là văn đợc đa vào dạy trong phân môn tập đọc nh văn
bản hành chính, báo chí hành dụng, giúp học sinh vận dụng những điều đã học vào cuộc
sống. Không văn chơng hoá kiến thức trung các bài tập đọc của Tiểu học.
+ Đa vào dạy các truyện vui đem đến cho các giờ học những tiếng cời nhẹ nhàng, qua
đó góp phần hình thành ở cách em trí thông minh, óc hài hớc và lòng nhân nhận.
- Khó khăn: Khổ sách lớn, giấy lại mỏng nên việc quản lý và giữ gìn SGK không đợc
tốt.
* Sách giáo viên: Cấu trúc bài soạn trong SGK nhìn chung gồm 3 phần: Mục tiêu
của bài học, đồ dúng dạy học những hoạt động dạy học chủ yếu. Cấu trúc này phản ánh đợc
sự đổi mới về phơng pháp dạy học thu định hớng tổ chức các hoạt động học tập cho học
sinh, học sinh đợc hoạt động dới nhiều hình thức, đợc hỗ trợ nhiều phơng tiện và thiết bị dạy
học để hoạt động.
- SGV chỉ đa ra những gợi ý về cách tổ chức cho học sinh làm việc về cách đánh giá,
về việc đúng các thiết bị mà không nếu thành các yêu cầu mang tính chất bắt buộc giáo viên
phải làm theo. Vì thế giáo viên có cơ hội để vận dụng linh hoạt và sáng tạo những hớng dẫn
nói trên vào điều kiện daỵ học cụ thể của lớp mình.
SGV đồng thời là một tài liệu nguồn, trong sách có nhiều bài đã cung cấp cho giáo
viên những kiến thức khoa học cơ bản cần đợc bổ túc để dạy học có nhiều bài giới thiệu cho
giáo viên những kỹ thuật dạy học mới.
* Sách thiết kế bài giảng: Bám sát nội dung chơng trình Tiếng việt 2 mới đợc ban
hành, về phơng pháp, các hoạt động dạy và học đợc thiết kế theo hớng dạy học trên cơ sở
hoạt động học tập của học sinh.
* Các tài liệu khác nh vở bài tập:
Địa bàn trờng đóng tơng đối xa trung tâm điều kiện cấp phát hạn chế. Kinh tế gia
đình hạn hẹp một số phụ huynh cha thật sự quan tâm đến bậc học nên đa số các em không
có điều kiện mua VBT để sử dụng dẫn đến việc sử dụng VBT không đồng đều.
2/ Các hoạt động dạy và học:
2.1/ Hoạt động của giáo viên:
- Đa số giáo viên nhiệt tình trong giảng dạy, yêu nghề mến trẻ song trình độ giáo viên

- Giáo viên có kỹ năng đọc thành thục.
Kỹ năng đọc là mục đích cuối cùng chúng ta muốn có ở học sinh sau mỗi giờ học.
Những kỹ năng này trớc hết phải có kỹ năng giải mã nghĩa, ý của văn bản đó. Giáo viên phải
tạo đợc hình đọc lý tởng cũng tức là phải có kỹ năng đọc thành thục. Giáo viên phải đọc đợc
bài tập đọc từ việc biết cách xác định từ, câu quan trọng đến việc hiểu đợc nghĩa, ý, tình của
văn bản. Giáo viên không thể hình thành ở học sinh kỹ năng gì mà bản thân mình không có,
không thể gặt hái đợc những gì mà ta không có khả năng gieo trồng. Vì vậy, trong dạy học
chúng ta không có quyền đòi hỏi học sinh làm những gì mà bản thân mình cha không làm đ-
ợc. Giáo viên không thể luyện cho học sinh đọc hay đọc diễn cảm mà bản thân mình cha xác
định đợc bài văn cần đọc với giọng điệu nh thế nào. Khi dạy học không có hiệu quả nhiều
giáo viên đỗ lỗi cho phơng pháp mà không biết rằng Phơng pháp chỉ là hình thức của sự tự
vận động bên trong của chính nội dung.
Một trong ba phơng pháp dạy học quan trọng nhất ở Tiểu học là phơng pháp luyện
theo mẫu. Vì vậy không biết làm mẫu thì không thể tiến hành giờ dạy. Do đó khi soạn bài
giáo viên phải xác định đợc những kỹ năng đọc cần có và luyện tập cho mình thành thục
những kỹ năng này. Khi soạn bài giáo viên phải tự làm trớc những gì mà học sinh phải làm
trên lớp: Đọc thành tiếng, giải nghĩa từ, trả lời những câu hỏi về nội dung bài.
- Giáo viên có sự hiểu biết về chơng trình SGK, các tài liệu dạy học.
- Giáo viên phải tìm hiểu vốn đọc của học sinh, đặc điểm, trình độ của học sinh.
Quyển SGK đầu tiên ngời giáo viên phải nghiên cứu chính là học sinh không phải đến khi
soạn một bài cụ thể chúng ta mới tiến hành tìm hiểu học sinh. Việc tìm hiểu học sinh là
một quá trình lây dài đã đợc tiến hành trớc đó. Để tiến hành dạy học tập đọc chúng ta
phải hiểu rõ học sinh của mình, đặc điểm, trình độ của học sinh, các em đa có những
kiến thức kỹ năng đọc gì, cụ thể chúng ta phải biết rõ học sinh của mình có hứng thú với
những bài tập đọc nào, phát âm có gì sai chuẩn, khó phát âm, những từ ngữ nào trong bài.
Khó đọc đúng, đọc hay những câu nào Để luyện đọc hiểu chúng ta cần nắm đợc học
11
sinh của mình cha hiểu, khó hiểu những từ ngữ nào nội dung nào trong bài sự hiểu biết
này sẽ giúp chúng ta xác định tính vừa sức, tính mức độ của nội dung và kỹ năng dạy đọc
chẳng hạn những lỗi phát âm lệch chuẩn của học sinh giúp giáo viên xác định đợc những từ

Trớc hết phải luyện cho học sinh không bỏ sót tiếng, không thêm tiếng không lạc giọng.
Học sinh lớp 2 khi đọc có em còn bỏ sót tiếng hoặc lạc giọng. Vì các em này cha làm
chủ đợc tia mắt. Với những học sinh này giáo viên phải quay lại với việc sử dụng que trỏ
hoặc thớc đặt dới từng dòng kẻ để học.
- Chữa lỗi phát âm cho học sinh khi dạy bài Bím tóc đuôi sam từ đuôi xam đuôi
sam, chữa lỗi phát âm; Đọc đúng các phụ âm đầu có ý thức phân biệt s/x.
Hoặc bài cây xoài của ông em khi đọc s khác x luyện cho học sinh phát âm đúng cây xoài
không đọc cây soài. Khi học sinh đọc đúng là mục đích cuối cùng của chúng ta.
Muốn có đợc ở học sinh sau mỗi giờ học. Những kỹ năng này phải có ở giáo viên.
Đọc văn bản là giải mã âm thanh và giải mã nghĩa ý của văn bản đó phải có kỹ năng đọc
thành thục, có kỹ năng đọc bài tập đọc với giọng cần thiết.
Giáo viên hình thành ở học sinh những kỹ năng cha có (từ chỗ học sinh cha đọc đúng mà
ta phải hớng dãan cho các em đọc đúng rồi hình thành kỹ năng đọc đúng cho các em).
12
Đọc đúng: Phải ngắt hơi đúng chỗ, đúng nhịp ta đọc theo đơn vị từ không đợc nghỉ
giữa từ.
Trình tự khi dạy luyện đọc đúng:
- Trớc khi lên lớp giáo viên phải dự đoàn học sinh mình sẽ mắc lỗi nào (lỗi phát âm
sai, lỗi phát âm của dân tộc thiểu số).
- Giáo viên chữa lỗi phát âm bằng biện pháp cấu âm, cho học sinh nhận diện vị trí
âm đệm trong từ rồi cho học sinh phát âm. Nếu một em phát âm soi cho em khác phát âm đúng.
Từ đó chữa lỗi bằng biện pháp luyện theo mẫu bằng từ phát âm mẫu của bạn của mình.
- Biện pháp chữa lỗi về âm trung gian là biện pháp chuyển từ âm sai về âm đúng.
Ví dụ: Học sinh ở Nghệ an phát âm sai dấu thanh chúng ta làm rõ biện pháp chữa lỗi
qua âm trung gian bằng cách mô tả chuyển thành nặng về thanh ngã. Vì tiếng quê ta nói
nặng nên đọc sai .
Luyện cho trẻ phát âm riêng từng thanh.
Thanh ngã bắt đầu ở âm vực thấp những kết thúc ở âm vực cao.
* Dạy cho học sinh đọc đúng chỗ ngắt giọng trong sự thống nhất với đọc hiểu:
Trong giờ dạy tập đọc giáo viên phải hớng dẫn đến giáo dục cho học sinh yêu Tiếng

13
Ví dụ: Bài mẹ lớp 2 có câu cuối mẹ là ngọn gió của con suốt đời là câu thơ có
nhiều chất văn nhất. Nếu giáo viên bình giảng câu này, diễn giảng về tình thơng sự chăm sóc
của mẹ đối với con thì sẽ không đọng lại gì trong tâm trí học sinh lớp 2. Ngợc lại nếu yêu
cầu học sinh giải thích câu thơ lại quá khó. Vì thế nên áp dụng cách hay hơn bằng hình thức
kiểm tra phiếu trắc nghiệm.
* Xây dựng phiếu bài tập trắc nghiệm:
Đánh dấu x vào ô trống trớc câu trả lời em cho là đúng.
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời
Mẹ ngồi quạt cho con suốt đời
Sự chăm sóc, tình thơng của mẹ theo con suốt củ cuộc đời.
Mẹ đối với con lúc nào cũng mát nh ngọn gió
Mẹ là ngời nuôi dỡng chăm sóc con từ nhỏ đến lớn.
3/ Tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ tập đọc lớp 2:
3.1/ Kiểm tra bài cũ:
Mục đích: Kiểm tra và củng cố việc đọc thành tiếng và đọc hiểu nội dung bài đã học.
Hình thức thực hiện:
- Kiểm tra đọc thành tiếng
+ Yêu cầu học sinh đọc một đoạn hoặc cả bài đã học.
+ Yêu cầu thực hiện một bài tập đọc thành tiếng: Nhận xét giọng đọc, ngữ điệu của
đoạn vừa đọc.
- Kiểm tra đọc hiểu: Yêu cầu thực hiện một bài tập đọc hiểu về nội dung đoạn bài vừa đọc.
Thời gian kiểm tra tiến hành từ 3 - 5 phút. Số lợng kiểm tra có thể từ 2-3
học sinh.
3.2/ Bài mới:
3.2.1/ Giới thiệu thiệu bài: Có thể dùng tranh ảnh, đặt câu hỏi nêu vấn đề để gây hứng
thụ tạo nhu cầu đọc bài ở học sinh không nên nói hết nội dung bài trong phần giới thiệu vì sẽ
áp đặt nội dung trớc cho học sinh trong khi lẽ ra nó là cái đích mà học sinh cần khám phá ra
đợc.
3.2.2/ Đọc mẫu:

thành tiếng và đọc hiểu nội dung gắn với đoạn vừa đọc. Giáo viên điều chỉnh sửa chữa.
3.2.4/ Củng cố dặn dò: Giáo viên nhận xét chung về giờ học, lu ý chỗ cần luyện đọc
thêm và dặn dò việc chuẩn bị cho tiết sau:
4/ Đổi mới phơng pháp dạy học:
Đổi mới phơng pháp dạy học là một hiện tợng xã hội cái gì cũ kỹ, lọc hậu thì không
thể tồn tại và phải đợc thay thế bằng sự tiến bộ phù hợp với xu thế cảu thời đại mới. Phơng
pháp dạy học cũng nằm trong quy luật đó.
Đổi mới phơng pháp dạy học xong điều kiện hiện nay đợc hiểu là trên cơ sở phát huy
tính tích cực của phơng pháp truyền thống vận dụng những biện pháp dạy tiên tiến vào nhà
trờng tiểu học nhằm nâng cao, chất lợng và hiệu quả giáo dục mà vẫn đảm bảo tính hoạt
động ổn định của nhà trờng.
Đổi mới phơng pháp dạy học chính là sự tích cực hoá hoạt động của ngời học lấy ng-
ời học làm trung tâm trong đó thầy cô giáo đóng vai trò là ngời tổ chức các hoạt động của
học sinh thông qua hoạt động học mỗi học sinh đều đợc hoạt động, đều đợc bộc lộ mình và
đều có cơ hội phát triển.
Dạy học Tiếng việt bên cạnh các phơng đặc biệt gắn với từng loại bài là các phơng
pháp dạy học có thể sử dụng nhiều loại bài học.
+ Phơng pháp thực hành:
Thực hành là phơng pháp đợc sử dụng nhiều trong dạy học nói chung trong dạy học
Tiếng việt nói riêng. Hình thức cốt lỗi thực hiện phơng pháp thực hành là làm bài tập có thể
dùng phơng pháp này để dạy tri thức, để rèn luyện kỹ năng và khả năng giao tiếp Tiếng việt
cho học sinh. Hình thức phổ biến để hình thành kiến thức cho học sinh Tiểu học là thông qua
thực hành. Dạy thực hành Tiếng việt trong giao tiếp là xây dựng nên các tình huống giao
tiếp. Sau đó, dùng biện pháp sắm vai để thực hiện các tình huống giao tiếp này.
+ Phơng pháp sử dụng tình huống có vấn đề:
Dạy học việc vấn đề là đòi hỏi học sinh tham gia giải quyết các vấn đề do tình huống
đặt ra. Tình huống có vấn đề đóng vai trò quan trọng dạy học nêu vấn đề. Phải có tình huống
có vấn đề mới thực hiện đợc phơng pháp dạy học nêu vấn đề. Thông qua việc tham gia giải
quyết vấn đề trong tình huống cụ thể, học sinh vừa nắm vững tri thức vừa phát triển t duy
sáng tạo. Phơng pháp sử dụng tình huống có vấn đề có nhiều khả năng phát tính độc lập suy

làm việc độc lập để cùng thực hiện một nhiệm vụ học tập nào đó.
Sự phối hợp các hình thức tổ chức lớp học khác nhau tạo nên sự mềm dẻo, linh hoạt
và sinh động cho quá trình dạy học. Nó cho phép giáo viên có thể sử dụng nhiều biện pháp
và phơng pháp dạy học khác nhau.
Quan trọng hơn nó tạo điều kiện cho giáo viên cá thể hoá việc dạy học, tạo cơ hội cho
mọi học sinh đều đợc tham gia vào hoạt động học tập, tạo cho học sinh cách làm việc tập thể
theo nhóm cách phối hợp với bạn bè trong công việc cách chủ động tự tin trình bày ý kiến cá
nhân. Đối với việc dạy học Tiếng việt, phối hợp các hình thức tổ chức lớp học nêu trên tạo môi tr-
ờng thuận lợi cho việc giao tiếp, cho việc rèn luyện 4 kỹ năng sử dụng Tiếng việt.
Đổi mới phơng pháp dạy học đã vận dụng quan điểm tích hợp:
Vừa hình thành kỹ năng vừa cung cấp tri thức trong các tri thức cung cấp cho học
sinh ngoài những tri thức Tiếng việt còn có các tri thức về khoa học tự nhiên và xã hội. Việc
hình thành các kỹ năng sử dụng Tiếng việt muốn có hiệu quả cao phải đợc thực hiện không
chỉ ở bài học Tiếng việt mà còn có ở những bài học thuộc những môn học khác nh nội dung
dạng từ trong phân môn tập đọc (tích hợp phân môn luyện từ và câu) dùng từ đặt câu.
Tập đọc: Luyện đọc là kỹ năng trung tâm (luyện đọc thành tiếng và đọc hiểu) có kết
hợp ôn luyện âm vần, nghe, nói, vốn từ Trong các bài chính tả kết hợp cho học sinh làm
quen với dấu câu; các bài kể chuyện: Luyện kể kết hợp với luyện nghe, nói
16
Các phân môn nh tập đọc, chính tả, tập viết, kể chuyện tập hợp quanh trục chủ điểm
và các bài đọc.
II - Thực nghiệm:
1/ Mục đích thực nghiệm:
Chúng tôi tổ chức thực nghiệm bằng cách đa ra một số ý kiến đề xuất của mình một
bài học cụ thể và tổ chức dạy ở Tiểu học nhằm đánh giá tính khả thi của các biện pháp đã đ-
ợc đề xuất ở trong luận văn.
2/ Đối tợng địa bàn thời gian thực nghiệm:
Chúng tôi tổ chức thực nghiệm vào tuần 11, bài cây xoài của ông em. Lớp 2 trờng Tiểu học
Quỳnh Nghĩa - Quỳnh Lu - Nghệ an (Nơi chúng tôi đang công tác).
3/ Nội dung thực nghiệm:

- Lớp theo dõi nhận xét
- Đoạn 1, 2: Gọi 1 học sinh đọc - Học sinh 1 lên bảng đọc bài
- Hỏi: Sau khi bà mất cuộc sống của hai
anh em nh thế nào?
- Sau khi bà mất, hai anh em sống giàu sang và
sung sớng
- Giáo viên nhận xét: - Học sinh khác nhận xét bạn
- Đoạn 3, 4 gọi 1 học sinh đọc - Học sinh 2 đọc đoạn 3, 4
- Hỏi: Vì sao hai anh em đã trở nên giàu
có mà không thấy vui sớng?
- Hai anh em đã trở nên giàu có những không
cảm thấy vui sớng vì thiếu vắng bà vàng bạc
châu báu không thay đợc tình thơng ấm áp của

- Giáo viên nhận xét - Học sinh khác nhận xét bạn
- Gọi 1 học sinh đọc toàn bài - Học sinh 3 đọc toàn bài
Hỏi: Câu chuyện khuyến chúng ta điều gì? - Tình cảm là thứ của cải quý nhất
Giáo viên nhận xét ghi điểm cho học sinh
B - Bài mới:
1/ Giới thiệu bài:
- Yêu cầu học sinh quan sát trong SGK - Học sinh quan sát tranh
Hỏi bức tranh vẽ gì? - Bức tranh vẽ cây xoài và hai mẹ con bạn nhỏ.
- Giáo viên giới thiệu về quả xoài thật và
nói: Xoài là một loại hoa quả rất thơm và
ngon. Nhng mỗi cây xoài lại có đặc điểm
và ý nghĩa khác nhau. Chúng ta cũng học
bài Cây xoài của ông em để hiểu thêm
về điều này.
- Ghi tên bài lên bảng - 3 học sinh đọc lên bài
2/ Luyện đọc:

- Đoạn 3 là phần còn lại
+ Giáo viên giới thiệu các câu cần luyện đọc
(đã chép sẵn trên bảng phụ) yêu cầu học sinh
tìm cách đọc.
- Tìm cách đọc và luyện đọc các câu:
Mùa xoài nào / mẹ em cũng chọn
những quả chín vàng / và to nhất bày
lên bàn thờ ông //
- Ăn quả xoài cát chín trảy từ cây quả
ông em trồng, kẽm với xôi nếp h ơng /
thì đối với em / không thứ quà gì ngon
bằng //
- Nhấn giọng ở các từ đợc gạch chân và
từ: Lẫm chẫm nở trắng cành, quả to, đu
đa, càng nhớ ông, dịu dàng, đậm đà, đẹp
to.
Bây giờ các em hãy chú ý vào bài theo dõi
bạn đọc.
3 học sinh tiếp nối nhau đọc 3 đoạn.
Học sinh cả lớp nghe theo dõi để nhận
xét cách đọc của bạn.
Gọi học sinh đọc các từ chú giải trong SGK - Học sinh đọc: Lẫm chẫm: Dáng trẻ b-
ớc đi cha vững.
+ Đu đa: Đa qua đa lại nhẹ nhàng
+ Đậm đà: Có vị ngọt đậm
+ Trảy: Bái
Giải nghĩa thêm:
+ Xoài cát: Tên một loại xoài rất thơn non,
ngọt.
+ Xôi nếp hơng: Xôi nấu từ 1 loại gạo rất

H: Những từ ngữ, hình ảnh nào cho thấy cây
xoài cất rất đẹp?
- Hoa nở trắng cành, từng chùm quả to
đu đa theo gió
Gọi 1 học sinh đọc thành tiếng đoạn 2 - Học sinh đọc đoạn 2
H: Quả xoài cát chín có mùi vị, màu sắc nh
thế nào?
- Học sinh đọc thầm đoạn 1
- Có mùi thơm dịu dàng, vị ngọt đậm đà,
màu sắc vàng đẹp
H: Tại sao mùa xoài nào mẹ cũng chọn
những quả xoài ngon nhất bày lên bàn thơ
ông?
- Để tởng nhớ, biết ơn ông đã trồng cây
cho con cháu có quả ăn.
Hỏi: Vì sao nhìn cây xoài bạn nhỏ lại càng
nhớ ông?
- Vì ông đã mất
- Gọi học sinh đọc đoạn 3 - Học sinh đọc đoạn 3
H: Tại sao bạn nhỏ cho rằng quả xoài cát nhà
mình là thứ quà ngon nhất? - Vì xoài cát rất thơm ngon bạn đã ăn từ
nhỏ, cây xoài lại gắn với kỷ niệm về ng-
ời ông đã mất
4/ Luyện đọc lại:
Giáo viên hớng dẫn học sinh thì đọc lại từng
đoạn, cả bài
- Học sinh thi đọc cá nhân
- Lớp nhận xét
- Giáo viên nhận xét ghi điểm
Giải nghĩa thêm:

kinh nghiệm để nâng cao trình độ nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu của ngời học trong thời kỳ
đổi mới. Mỗi ngời giáo viên chỉ là ngời hớng dẫn học sinh tự hoạt động phát hiện và chiếm
lĩnh tri thức mới, hình thành cho mỗi cá nhân học sinh. Vì vậy giáo viên phải nghiên cứu kỹ
bài dạy, xác định rõ các kỹ năng trọng tâm của mỗi bài học, mục tiêu cần đạt của mỗi bài tập
đọc.
- Rèn kỹ năng đọc cho học sinh phải biết kết hợp với nhiều hình thức tổ chức dạy học.
- Quá trình dạy học theo phơng pháp mới sẽ huy động tối đa, tổng hoà các phơng
pháp dạy học đã có đề hớng đến tích cực hoá các hoạt động của học sinh trong việc học tập đọc.
- Sử dụng các phơng tiện dạy học khác nhau ở trờng ở lớp đúng lúc để học sinh đọc
đúng, đọc hiểu nội dung.
- Sử dụng các hình thức tổ chức lớp học, cá nhân theo nhóm, theo lớp.
Giáo viên này chỉ đóng vai trò cố vấn, hớng dẫn cho học sinh thực hiện rồi khuyến
khích hoạt động trao đổi qua lại, trực tiếp giữa học sinh và vật liệu tập nh hiểu để gạch nhịp
lên bảng phụ, trên phiếu bài tập, hiểu để điền đúng vào phiếu bài tập trắc nghiệm, hiểu để đọc đúng,
đọc nhanh, đọc ngắt giọng đúng.
Bằng nhiều hình thức tổ chức trên thì sẽ đạt đợc mục tiêu mà mình mong muốn. Đáp
ứng nhu cầu rèn luyện kỹ năng đọc - nghe - nói - viết. Từ đó dễ dàng nhận biết và tháo gỡ đ-
ợc những băn khoăn trong dạy học.
Lu ý:
- Khi dạy tập đọc chúng ta cần hớng cho các em những kỹ năng, những hiểu biết gần
gũi nhất trong kinh nghiệm trong vốn sống của các em. Từ đó nâng dần lên kỹ năng giao
tiếp hình thành nhân cách con ngời mới.
21
- Rèn luyện cho học sinh khả năng đọc thể hiện bằng giọng điệu của riêng mình, làm
sao cho ngời nghe hiểu đợc ý văn bản đợc đọc.
- Thờng xuyên rèn kỹ năng đọc đúng để tránh đợc sự phát âm sai theo vùng miền.
- Việc áp dụng phơng pháp mới để dạy 4 kỹ năng (nghe - nói - đọc - viết) nhằm đáp
ứng đợc nhu cầu nhận thức của thế hệ trẻ ngày này đòi hỏi phải có những nét đổi mới t duy,
nên mỗi giáo viên chúng ta phải đổi mới cách dạy là một điều tất yếu.
Kết quả thực nghiệm ban đầu cho thấy những biện pháp chúng tôi đề xuất đã có tính khả thi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status