Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT - Pdf 28

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Cơ sở lý luận của việc chọn đề tài
Trong khoảng một thập niên trở lại đây, việc thay đổi sách giáo khoa và đổi
mới phương pháp dạy học Ngữ văn đã tiến hành rộng khắp cả nước. Vai trò và mối
quan hệ giữa người dạy và người học đã khác trước. Sự chủ động tích cực của học
sinh trong giờ học được đề cao. Các phương tiện dạy học phong phú hơn. Đội ngũ
thầy, cô giáo trực tiếp đứng lớp được bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, về
đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá nhằm mục đích nâng
cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở trường phổ thông
Song trên thực tế lại cho thấy, tình trạng học sinh lười học, ngại học, chán
học môn Ngữ văn ngày càng nhiều và nó đang là thực trạng được “ rung chuông”
nhiều năm nay. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2010 – 2011,
2011 – 2012 có chưa đầy 2% học sinh chọn ban Khoa học xã hội hoặc nâng cao
văn, sử, địa. Số lượng học sinh đăng ký thi môn văn thấp kỷ lục,chưa đầy 5% tổng
số thí sinh thi đại học, nhiều ngành nghề chỉ có vài chục bộ hồ sơ. Trong đó kết quả
điểm Đại học, cao đẳng của bộ môn này là rất thấp, hàng ngàn bài bị điểm 1,2 Và
gần đây cuộc khảo sát của Tiến sĩ Nguyễn Văn Kha – nguyên giảng viên trường
Đại học Đà Lạt về hứng thú của học sinh đối với giờ học văn cho kết quả chỉ có 50
phiếu/ 800 phiếu của học sinh có hứng thú với giờ học văn, còn lại 750 phiếu học
sinh trả lời chán học, không có hứng thú với giờ học này. Theo PGS, Tiến sĩ Đỗ
Ngọc Thống: môn Ngữ văn đang bị tuyệt đại đa số học sinh phổ thông chối bỏ.
Và liệu tình trạng học sinh chán học môn Ngữ văn như vậy có mối liên quan đến
tình trạng xuống cấp trầm trọng của tính nhân văn trong một bộ phận không nhỏ
học sinh hiện nay hay không? Khi mà năm 2012 toàn quốc xảy ra 1.600 vụ việc
học sinh đánh nhau, cứ khoảng 5.200 học sinh thì có một vụ đánh nhau và nhiều
học sinh xem thường đạo lý, dẫm đạp lên truyền thống tốt đẹp… đang là một vấn
đề gây nên nỗi bức xúc trong đời sống xã hội và trong nhà trường Vấn đề này
được Giáo sư Phan Trọng Luận đề cập trong một bài viết có tên là “ Nỗi lo giá lạnh
tâm hồn” ( Phan Trọng Luận – Xã hội – Văn học – Nhà trường, NXb ĐHQG Hà
Nội 2012)

đến 20% còn lại là học sinh trung bình và yếu. Bởi vậy, giờ đọc – hiểu văn bản của
môn Ngữ văn gặp rất nhiều khó khăn. Tiết học văn buồn tẻ, nhàm chán vì học sinh
lười đọc, tư duy lại chậm, khả năng lĩnh hội kiến thức môn văn bị động Tình trạng
học sinh đọc sai, đọc không đứng ngữ liệu, đọc thêm hoặc bớt từ, thiếu năng lực
cảm thụ, không rung động trước các hình tượng văn học khá phổ biến.
Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THPT tôi nhận
thấy: Nếu mỗi giáo viên chúng ta chủ động đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực, phù hợp với từng đối tượng học sinh thì kết quả của giờ đọc – hiểu
bộ môn Ngữ văn sẽ được nâng lên rõ rệt, học sinh sẽ có hứng thú hơn với giờ Ngữ
văn. Đó cũng chính là lý do để tôi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “ Một số
giải pháp nâng cao hiệu quả kỹ năng đọc - hiểu văn bản văn học cho học sinh
THPT”
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng của việc đọc – hiểu
văn bản văn học ở trường THPT hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao
kỹ năng đọc hiểu - văn bản văn học cho học sinh THPT, góp phần nâng cao chất
lượng của môn Ngữ văn, đẩy lùi tình trạng lười học, chán học, thờ ơ với môn Ngữ
văn của học sinh . Để môn Ngữ văn ở trường THPT thực sự bắt kịp với sự phát
triển của thời đại, bắt nhịp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập.
Đào tạo thể hệ trẻ vừa có tri thức, vừa là những con người biết yêu thương, chia sẻ,
sống có trách nhiệm, có lý tưởng cao đẹp, có hoài bão và ước mơ.
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
22
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
4. Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đọc – hiểu tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn ở THPT.
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kỹ năng đọc– hiểu văn bản văn học cho
học sinh THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
b. Tầm quan trọng của việc dạy kỹ năng đọc - hiểu văn bản văn học
Hiện nay, môn Ngữ văn trong ở trường THPT được coi là môn đọc văn. Nói
cách khác, đọc - hiểu trở thành một khái niệm cơ bản của môn Ngữ văn THPT,
được nhấn mạnh như là “ một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy
học văn hiện nay. Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học
sinh có thể đọc - hiểu bất cứ một văn bản nào cùng loại. Từ đọc hiểu văn mà trực
tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc
được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính.
Năng lực đọc - hiểu có ý nghĩa thiết thực và tầm quan trọng lớn với sự
trưởng thành của con người. Nó không chỉ là một yêu cầu trong suốt thời kỳ trẻ thơ
ở trưởng phổ thông mà nó còn trở thành nhân tố quan trọng trong việc xây dựng,
mở rộng kiến thức, kỹ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời của
họ khi họ tham gia vào các hoạt động ở những tình huống khác nhau, trong mối
quan hệ với người xung quanh, cũng như trong cả cộng đồng rộng lớn.
c. Nội dung đọc - hiểu văn bản văn học
Nội dung đọc hiểu là nội dung văn bản hay đó còn gọi là vấn đề mà nhà văn
gửi gắm trong tác phẩm. Văn bản văn học là một sinh thể nghệ thuật, là sản phẩm
tinh thần của nhà văn. Theo quan điểm của Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng “ Đọc
hiểu là làm rõ mối quan hệ giữa ba tầng cấu trúc: cấu trúc ngôn ngữ cấu trúc hình
tượng thẩm mĩ, cấu trúc tư tưởng thẩm mĩ”
d. Nguyên tắc đọc - hiểu văn bản văn học
Muốn hoạt động đọc đạt được đến mục đích hiểu tác phẩm thì người đọc
phải chú ý nhập tâm vào việc đọc. Muốn nhập tâm vào việc đọc thì người đọc phải
có hứng thú và có một trạng thái tâm lý thoải mái, không bị gò ép. Chỉ khi tự giác
đến với văn bản văn học bằng một niềm thích thú tìm tòi thì viêc đọc mới hiệu quả.
e. Một số hình thức đọc cơ bản cho học sinh THPT
* Hình thức đọc thầm và đọc thành tiếng
Đọc thành tiếng là hình thức tiếp nhận thông tin bằng chữ viết sơ khởi của
loài người. Đó là hoạt động tái tạo văn bản từ dạng thức chữ viết hoàn trả về lời nói

* Hình thức đọc ở nhà và đọc trên lớp
Theo phạm vi và giới hạn vận dụng các hình thức đọc, có thể phối hợp đọc
chuẩn bị ở nhà và đọc trên lớp với những nhiệm vụ đọc tương ứng phát huy lợi thế
của hình thức đọc ấy. Nên bằng những định hướng hấp dẫn và vừa sức để khuyến
khích, tạo điều kiện cho học sinh tiến hành hoạt động đọc ở nhà để làm quen với
tác phẩm bằng hứng thú tự nhiên. Có thể nói, hình thức đọc này là bước khởi đầu
cực kỳ quan trọng mà lâu nay hoàn toàn không được quan tâm đúng mức. Nếu
được tổ chức tốt, đây sẽ là cách đọc hoàn toàn cho riêng mình, ở đó việc đọc văn
mới thực sự âm vang và mới có khả năng làm sống dậy những cảm thức, rung động
riêng tư, khơi gợi nhiều chiều liên tưởng, tưởng tượng, đưa người đọc lặn sâu vào
tâm linh và đôi khi có thể chạm đến những khía cạnh riêng tư sâu thẳm nhất.
* Hình thức đọc nhanh và đọc chậm
Đây là hai hình thức thể hiện kỹ năng đọc ở trình độ phát triển trí tuệ tương
đối cao. Đọc nhanh là kỹ năng chuyển đổi chính xác và ngày càng nhanh các ký
hiệu ngôn ngữ thành ký hiệu âm thanh (đối với đọc thành tiếng) hoặc siêu âm thanh
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
55
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
(đối với đọc thầm) và thông hiểu ý nghĩa của nó, với điều kiện là người đọc không
có quyền tiến hành những bước "nhảy cóc" qua từ, câu, đoạn văn bản. Phẩm chất
của đọc nhanh được tính bằng khả năng ghi nhận thông tin với tốc độ cao và bền
lâu để có thể giảm thiểu những bước hồi quy trở lại ghi nhận những điều đã đọc mà
chưa nắm vững. Do đó, đọc nhanh thể hiện khả năng đọc hiểu ở trình độ đọc văn
rất cao. Một mặt, nó đòi hỏi khả năng tập trung trí tuệ cao độ. Nhưng mặt khác, khả
năng này phụ thuộc chủ yếu ở bề rộng và độ sâu của tri thức hiểu của người đọc để
ngay từ những lần tiếp xúc đầu tiên đã có thể giải mã ngôn ngữ, mã nghệ thuật, mã
văn hóa, mã phối hợp tinh tế nghĩa và ý để các lớp thông tin thẩm mỹ sâu xa của
văn bản lớn dần song song cùng với quá trình đọc và tái tạo thế giới ngôn từ của tác
phẩm.
* Hình thức đọc lướt và đọc kỹ theo những yêu cầu nhất định

động cao độ khả năng tư duy trí tuệ, chuyển đổi nhanh và chính xác các kí hiệu văn
tự thành các đơn vị nghĩa, thông hiểu nó và nhanh chóng nắm bắt những yếu tố then
chốt nhất trong vấn đề nhiệm vụ học tập nêu ra.
* Hình thức đọc tóm tắt: Có thể áp dụng cho những tác phẩm có dung lượng
lớn và đối với những phần không phải trung tâm mang nghĩa để tiết kiệm thời gian
cho hoạt động phân tích, khám phá đồng thời có thể tập trung năng lượng cảm thụ
của bạn đọc học sinh. Ví dụ, có thể đọc tóm tắt một số phần trong Rừng xà nu,
Những đứa con trong gia đình…
Nhìn chung, đọc theo những yêu cầu cụ thể như vậy rèn luyện cho học sinh kỹ
năng tư duy định hướng để nắm bắt sâu ngôn từ trong văn bản, chọn lựa nghệ thuật,
cảm thụ và phân tích tập trung theo những nhiệm vụ học tập nhất định, vừa chính
xác, khoa học vừa tôn trọng bản chất thẩm mỹ của tác phẩm văn chương.
BẢNG BIỂU THỐNG KÊ CÁC HÌNH THỨC ĐỌC CHO HỌC SINH THPT
St
t
Các hình thức đọc Tác dụng
1 Đọc thầm Lĩnh hội thông tin, bỏ qua phần phát âm
2 Đọc thành tiếng Truyền tải thông tin, rèn phát âm
3 Đọc lướt Tìm thông tin cụ thể, cần thiết trong thời gian
nhất định
4 Đọc chậm, đọc kỹ Nghiền ngẫm, suy nghĩ
5 Đọc tóm tắt Ghi nhớ nội dung, làm tài liệu, phù hợp với
tác phẩm dài
6 Đọc ở nhà Làm quen với tác phẩm bằng hứng thú tự
nhiên.
7 Đọc trên lớp Sống dậy cảm xúc, rèn luyện tính tự tin.
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
77
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
2. Thực trạng khảo sát của giờ đọc- hiểu văn bản văn học ở trường THPT

học tập của các em còn nhiều hạn chế. Nhiều em không đọc tác phẩm, không nghi
chép bài, không có kỹ năng đọc - hiểu văn bản. Tình trạng không đọc, đọc sai,
không hiểu, hiểu sai tác phẩm văn học khá phổ biến trong học sinh hiện nay.
Từ những vấn đề nêu trên nên đa số giờ đọc - hiểu văn bản văn học diễn ra
rất buồn tẻ, đơn điệu, hiệu quả và chất lượng dạy và học chưa cao. Nhiều học sinh
chán môn văn, sợ môn văn, không có hứng thú với môn học này.
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
88
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
Năm học 2013 - 2014, tôi được phân công dạy môn Ngữ văn lớp 10A1 và
10A2. Sau đây là kết quả khảo sát về mức độ đọc - hiểu văn bản văn học khi chưa
áp dụng SKKN vào giảng dạy:
Năm
học
Lớp

số
Điểm kiểm tra khả năng đọc- hiểu văn bản
Đạt
yêu
cầu
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
2013-
2014
10A1 44 0 3 6
1
7
10 7 1 0 0 0 0 8/44
10A2 46 0 0 6
1

em thậm chí lên lớp 10 mà còn đọc không thông, viết không thạo, không hiểu
những gì câu chữ nói, không liên tưởng được
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
99
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
Sách giáo khoa xưa
(Một thời sách giáo khoa môn văn được gọi là Giảng văn)Sách giáo khoa hiện nay
Nguyên nhân thứ hai: Thời đại chúng ta đang sống là thời đại của khoa học
công nghệ. Do ảnh hưởng của Internet, điện thoại di động. Ngày nay, đông đảo học
sinh sử dụng Internet và điện thoại di động, ngoài số ít biết khai thác, tận dụng
những lợi ích hữu dụng của nó vào trong học tập thì phần lớn các em sử dụng
Internet, điện thoại di động vào để chơi game và chát với bạn bè. Khi các em chát
hoặc nhắn tin cho bạn, thì hầu hết các em sử dụng tiếng Việt không dấu và dùng
cách diễn đạt rất ngắn gọn, từ ngữ chỉ quen dùng với giới trẻ. Ngôn ngữ sẽ phản
ánh tư duy của con người. Việc thường xuyên sử dụng ngôn ngữ “cụt ngủn” như
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
1010
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
vậy sẽ không những không gìn giữ được sự trong sáng cho tiếng Việt mà còn gây
khó khăn cho việc rèn luyện tư duy sâu sắc. Do ảnh hưởng của phim ảnh: Ngày
nay, phim ảnh phát triển nhanh đến chóng mặt. Nhiều bộ phim hấp dẫn khiến học
sinh mê mẩn. Việc xem phim nhiều khiến các em lười đọc sách. Lười đọc sách báo
sẽ làm vốn từ bị nghèo nàn, khả năng đọc - hiểu càng ngày càng bị hạn chế.
Thời đại của công nghệ thông tin đã làm cho văn hóa đọc bị học sinh coi là
lạc hậu. Thời đại kinh tế thị trường đã khiến các em chỉ muốn học các ngành khoa
học tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế… mà lại ít có hứng thú học môn Ngữ văn. Có thể
yếu tố tâm lí, yếu tố xã hội làm cho đại đa số học sinh không còn mặn mà với môn

khả năng tư duy, nhận thức khác nhau rất nhiều. Nếu người giáo viên sử dụng
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
1111
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
một cách diễn đạt, một câu hỏi, một chế độ cho điểm, một phương pháp đọc…
để áp dụng cho tất cả các học sinh, cả học sinh giỏi và học sinh yếu, kém thì sẽ
xảy ra tình trạng: Học sinh giỏi sẽ theo dõi và tiếp nhận được thông tin bài
giảng còn học sinh yếu, kém sẽ không thể theo kịp các bạn giỏi hơn được; hoặc
học sinh yếu kém theo được bài giảng nhưng học sinh học khá hơn sẽ cảm thấy
buồn chán … Như vậy, phương pháp truyền thống này có lẽ chỉ phù hợp cho
các lớp chọn, trường chuyên và sẽ bất cập đối với các lớp thường vì các lớp
chọn, trường chuyên thì mặt bằng nhận thức của các em khá đều còn các lớp
thường các em học sinh có mặt bằng nhận thức không đồng đều. Vì vậy, lập
danh sách phân loại năng lực đọc - hiểu văn bản văn học của học sinh là vô cùng
cần thiết.
* Các bước tiến hành chia nhóm phân loại học sinh như sau:
Thứ nhất: Kiểm tra năng lực đọc - hiểu văn bản cho tất cả học sinh trong lớp vào đầu năm
học . Đề bài tôi sử dụng là cho một bài ca dao gồm 4 câu yêu cầu học sinh đọc và trình
bày sự hiểu biết về nội dung và nghệ thuật của bài ca dao ra giấy .
Thứ hai: Lấy kết quả điểm khảo sát để chia học sinh theo 4 nhóm
Nhóm học sinh có kỹ năng đọc- hiểu khá, giỏi điểm từ 6,5 đến 10: 01 nhóm
Nhóm học sinh có kỹ năng đọc- hiểu trung bình điểm từ 5 đến 6,4 : 01 nhóm
Nhóm học sinh có kỹ năng đọc- hiểu yếu, kém điểm dưới 5 : 01 nhóm
Thứ ba: Lập danh sách học sinh theo nhóm
Khi sử dụng phương pháp chia nhóm để phân loại học sinh người giáo viên
sẽ dễ theo dõi, giúp đỡ học sinh nâng cao kết quả học tập, uốn nắn và có những
phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh hơn, đặc biệt phương
pháp chia nhóm để phân loại học sinh có hiệu quả tích cực trong việc nâng cao kỹ
năng đọc - hiểu văn bản văn học và chất lượng học tập cho học sinh yếu kém.
Năm học 2013 -2014, tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ văn lớp 10A1

9
0
0 6
1
2
3
4
20 14 0 4 0 0 0 18/90
Kết quả kỳ I năm học 2013 – 2014
Stt Lớp
Sỹ
số
Thang điểm
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Đạt
yêu
cầu
1 10A1
Không chia
nhóm
44 0 0 6
18 10
8 2 0 0 0 0 10/44
2 10A2 Chia nhóm 46 0 0 0
8
11
9 8 8 2 0 0
27/46
Kết quả kỳ II năm học 2013 - 2014
Stt Lớp

Bước 2: Tìm hiểu phương pháp, năng lực học tập của từng học sinh
Sau khi giáo viên phân nhóm học sinh theo năng lực đọc - hiểu của các em
thì bước tiếp theo giáo viên sẽ đi tìm hiểu phương pháp học tập của học sinh.
Theo tâm lý học, mỗi học sinh lớn lên trong những môi trường văn hóa, xã
hội và điều kiện gia đình khác nhau thì những thói quen, cách suy nghĩ, các năng
lực nhận thức, hứng thú cũng khác nhau. Điều này tạo nên sự đa dạng và phong
phú về phương pháp học tập của học sinh. Một số học sinh tích cực, chủ động, một
số khác lại tỏ ra thụ động, một số học sinh thích trực quan, một số khác lại thích
tranh luận Việc giáo viên giảng dạy hiểu và biết được phương pháp học tập của
học sinh để có những phương pháp giảng dạy cho phù hợp với các em cũng quan
trọng như việc chúng ta hiểu rõ tính cách của học sinh trong việc giáo dục nhân
cách, đạo đức cho các em vậy. Có những phương pháp giảng dạy phù hợp với đối
tượng học sinh này nhưng lại không phù hợp với đối tượng học sinh kia. Ví như,
một học sinh đọc kém thì người giáo viên không thể yêu cầu các em đọc diễn cảm
hay đọc sáng tạo được. Một học sinh nhận thức yếu không giáo viên không thể sử
dụng câu hỏi khó được vì điều đó là quá sức với các em và đương nhiên các em
không thể làm tốt được…Song thực tế lại cho thấy, giáo viên khi lên lớp lại không
tìm hiểu phương pháp học tập của học sinh mà chỉ chú ý đến phương pháp giảng
dạy của chính mình. Phương pháp dạy học thì vô cùng phong phú nhưng mỗi
phương pháp lại chỉ phù hợp với từng đối tượng giảng dạy nhất định và như vậy
không thể áp dụng một phương pháp cho tất cả các đối tượng học sinh. Nên việc
tìm hiểu phương pháp học tập của học sinh là để mỗi giáo viên nắm rõ điểm mạnh
và điểm yếu của các em, để phân nhóm học sinh khi sử dụng hình thức dạy học
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
Kết quả khảo sát kỳ II
1515
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
theo nhóm. Từ đó sẽ có phương pháp dạy học hiệu quả, góp phần nâng cao chất
lượng giờ đọc hiểu văn bản nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung.
Sau khi tìm hiểu các thông tin cơ bản về phương pháp học tập của học sinh,

1616
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
đọc đạt được đến mục đích hiểu tác phẩm thì người đọc phải chú ý nhập tâm vào
việc đọc. Muốn nhập tâm vào việc đọc thì người đọc phải có hứng thú và có một
trạng thái tâm lý thoải mái, không bị gò ép. Chỉ khi tự giác đến với văn bản văn học
bằng một niềm thích thú tìm tòi thì viêc đọc mới hiệu quả. Sau đây là những áp lực
chính ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả của giờ đọc hiểu- văn bản văn học:
* Áp lực từ phía cha mẹ học sinh: Trong một cuộc khảo sát tâm lý đối với
cha mẹ học sinh với câu hỏi khảo sát “Cha mẹ muốn gì ở con cái của họ”, kết quả
cho thấy: 73% cha mẹ muốn con trở thành tri thức; 23,7% cha mẹ muốn con giàu
có; 26,7% muốn con có quyền có chức và 78,3% cha mẹ xấu hổ vì con họ không
học hành bằng người khác…( Theo nguồn điều tra Xã hội học năm 2013 – Con
người Việt nam trong quan niệm của các lớp dân cư tiêu biểu tại Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh). Kết qua điều tra ở 46 phụ huynh học sinh lớp 10A2 trường
THPT Xuân Khanh cũng cho thấy: 46/46 phụ huynh muốn con mình học giỏi;
46/46 phụ huynh muốn con mình thi đỗ đại học; 30/46 phụ huynh muốn con mình
trở thành tri thức. Như vậy số liệu khảo sát trên cho thấy, hầu hết các bậc cha mẹ
đạt quá nhiều kỳ vọng vào con cái và thường vượt qua khả năng của chúng. Bên
cạnh đó, nhiều cha mẹ học sinh còn dùng uy của thầy cô để dọa con cái của họ làm
cho các em có cảm giác sợ thầy cô, khiến giữa thầy cô và học sinh có một khoảng
cách vô hình và các em không tự nhiên, thoải mái trong quá trình trao đổi với giáo
viên trên lớp.
* Áp lực từ phía nhà trường: Nhà trường thì lớp học quá đông, sĩ số học
sinh trong một lớp học của trường THPT hiện nay thường từ 45 đến 60 học sinh.
Lớp học đông khiến các em không có một chỗ ngồi thoải mái, trong khi đó cơ sở
vật chất của nhiều trường còn nhiều khó khăn, chưa tạo đươc hứng thú trong học
tập cho các em.
* Áp lực từ phía học sinh: Áp lực từ thời khoá biểu, thời gian biểu. Ngày
nay, ngoài việc đi học chính khóa ở trường các em còn đi học thêm, học phụ đạo
kín hết cả thời gian trong ngày, thời gian trong tuần, thậm chí học sinh không có cả

nhở trước tập thể thì con người thường có tâm lý buồn, ảnh hưởng không tốt đến
kết quả học tập và lao động. Khi các em phạm lỗi hãy biết kiềm chế trước những
sai phạm của các em và mềm mỏng trong việc dạy dỗ học sinh. Cần tạo bầu không
khí thân thiện, vui vẻ, cởi mở để học sinh không bị ức chế, căng thẳng.
Tôi đã làm một cuộc trắc nhiệm tâm lý học sinh để chứng minh rằng: Học
sinh ngày nay phải chịu nhiều áp lực trong cuộc sống và khi đến trường. Và đó
chính là yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài giảng của các em. Hình thức
thăm dò tâm lý học sinh bằng phiếu trắc nghiệm tâm lý và được thực hiện ở lớp
10A1 và lớp 10A2.
- Kết quả thăm dò như sau:
STT Lớp Sĩ số
Áp lực từ
cha mẹ
Áp lực từ
TKB
Các áp lực
khác (nếu có)
Số hs phải
chịu áp lực
Số hs
khôngphải
chịu áp lực
1 10A1 44 21 20 1 42 2
2 10A2 46 17 21 3 41 5
Cộng 90 38 41 4 83 7
Bước 4: Tổ chức dạy học với bản đồ tư duy
a. Thực trạng:
Lâu nay, trong quá trình dạy học Ngữ văn, chúng ta vẫn thường sử dụng các
phương pháp dạy học như : Trao đổi thảo luận, hoạt động nhóm, thuyết trình… ở
hầu hết các nội dung của bài. Cách làm này có ưu điểm là tiết kiệm được thời gian

BĐTD được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20) bởi Tony Buzan
như là một cách để giúp học sinh "ghi lại bài giảng" mà chỉ dùng các từ then chốt
và các hình ảnh. Sử dụng Bản đồ tư duy (BĐTD) trong dạy học đã và đang được áp
dụng ở nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới và mới đây đã được
nghiên cứu và áp dụng ở Việt Nam nhằm giúp GV truyền thụ kiến thức một cách
sinh động, hệ thống và mô hình hóa để HS có thể học, tự học tích cực, có một tư
duy tổng thể về bài học, giúp dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng kiến thức. Từ kiến thức
được diễn đạt trong nhiều trang sách và cả vận dụng thực tế, BĐTD giúp tinh lọc
lại chỉ còn trong một sơ đồ, và ngược lại, từ sơ đồ này, học sinh hình dung, liên
tưởng và phát triển kiến thức một cách logic. Sử dụng BĐTD yêu cầu HS phải tự
suy nghĩ để thiết lập nội dung bài học theo cách hiểu của mình nên BĐTD thực sự
là một công cụ chống "đọc - chép", "học vẹt" rất hiệu quả. Hiện nay đã có nhiều
giáo viên sử dụng rất thành công phương pháp này trong giảng dạy. Điểm mới
trong bài viết này là sử dụng BĐTD phù hợp với từng đối tượng học sinh để
rèn luyện và nâng cao kỹ năng đọc- hiểu cho các em BĐTD là một kỹ thuật
dạy học có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật
chất nào của các nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng
phụ,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,… hoặc cũng có thể thiết kế trên
phần mềm BĐTD. Với trường có điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt có
thể cài vào máy tính phần mềm Mindmap cho GV, HS sử dụng.
c. Giáo viên hướng dẫn học sinh làm quen với BĐTD
Cho HS làm quen với BĐTD bằng cách giới thiệu cho HS hình ảnh về BĐTD
cùng với sự dẫn dắt của GV để các em làm quen. Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm
với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
2121
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình. Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình
vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh. Tất

này. Nhiều đợt tập huấn, bồi dưỡng giáo viên các cấp đã đưa vấn đề này làm chủ đề
chính để trao đổi.
Dạy học sát đối tượng là gì? Nói một cách ngắn gọn và dễ hiểu: dạy học sát
đối tượng có nghĩa là giáo viên phải hiểu biết sâu sắc đối tượng học sinh của
mình để từ đó lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học cho phù hợp với trình
độ nhận thức, năng lực học tập của học sinh. Cụ thể là giáo viên phải hiểu được
trình độ nhận thức của học sinh ở mức độ nào? Tinh thần, thái độ, động cơ, ý thức
học tập ra sao? Sở trường, nguyện vọng, cá tính nổi bật của từng học sinh là gì?
Những ưu điểm, nhược điểm của học sinh và phải biết được học sinh của mình
đang thiếu hụt điều gì, cần cái gì,… Có hiểu được như vậy giáo viên mới tìm được
biện pháp tác động có hiệu quả, mới đem lại được những cái cần và đủ cho từng
học sinh. Vì vậy khi sử dụng BĐTD vào dạy đọc – hiểu văn bản cũng vậy. Mối đối
tượng học sinh giáo viên hướng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản ở những mức độ
khác nhau, những BĐTD khác nhau. Có như vậy mới phát huy được những hiệu
quả của phương pháp này và nâng cao năng lực đọc – hiểu cho từng đối tượng học
sinh được. Thông thường khả năng đọc – hiểu của học sinh được chia thành ba
nhóm: Nhóm học sinh khá, giỏi; nhóm học sinh trung bình; nhóm học sinh yếu,
kém.
+ Thực trạng :
Học sinh yếu, kém: Học sinh yếu, kém là nhóm học sinh chưa tự giác học,
chưa có động cơ học tập.Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa
mạnh dạn trong học tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin.
Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn kiến
thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế. Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của
giáo viên không bền. Mỗi em có một khả năng nỗi trội riêng nhưng các em chưa
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
2323
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
biết phát huy khả năng của mình. Học sinh đọc không thông, viết không thạo, đọc
chậm, đọc sai, viết chậm, viết sai. Học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức.

việc cung cấp kiến thức cho học sinh. Như thế học trò sẽ lười suy nghĩ. Giáo viên
cần làm cho học sinh thấy việc học là lao động thực sự. Điều quan trọng nhất là
Gv: Nguyễn Thị Hiền Trường THPT Xuân Khanh
2424
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ki năng đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
phải luôn khích lệ, luôn ở bên học sinh khi khó khăn. Trang bị cho các em phương
pháp tự học, tự nghiên cứu.
* Quy trình tổ chức hoạt động vẽ BĐTD trên lớp
Bước 1: Giáo viên đưa ra chủ đề bằng từ khóa cho học sinh thực hành vẽ BĐTD
trên giấy hoặc bìa lịch hay bảng phụ.
Bước 2: Giáo viên đặt các câu hỏi gợi ý để các em suy nghĩ và vẽ các nhánh cấp 1,
cấp 2, cấp 3 (Luyện kỹ năng vẽ BĐTD). Giáo viên nên chọn những bài các em đã
học, có kiến thức đơn giản, dễ nhớ, dễ vẽ.Giáo viên có thể linh hoạt cho học sinh
vẽ theo nhóm vào bìa lịch, vẽ cá nhân vào giấy vở hoặc gọi 2-3 em lên bảng vẽ.
Lưu ý các em không dùng câu, đoạn quá dài, nên thể hiện các ý bằng những cụm từ
ngắn gọn. Sau khi các em vẽ xong sườn của BĐTD, giáo viên gợi ý cho các em vẽ
chèn thêm những hình ảnh cần thiết để minh họa cho nội dung của sơ đồ, gợi ý cho
các em chỉnh sửa đường nét, sử dụng màu sắc để phân biệt, làm nổi bật mạng lưới
các ý trong sơ đồ.(Kỹ năng hội họa - dấu ấn sáng tạo riêng)
Bước 3:HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến thức của bài
học đó. GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh BĐTD, từ đó dẫn
dắt đến kiến thức của bài học.
Bước 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn hoặc một
BĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, chỉ định HS lên trình bày,
thuyết minh về kiến thức đó.
(Lưu ý: BĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm HS có chung
một kiểu BĐTD, GV chỉ nên chỉnh sửa cho HS về mặt kiến thức, góp ý thêm về
đường nét vẽ, màu sắc( mỗi màu vẽ phản ánh một nội dung) và hình thức (nếu có)

Ví dụ 1: Sử dụng BĐTD khi dạy bài “ Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status