luận văn chuyên ngành tài chính doanh nghiệp đề tài Vốn kinh doanh và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây nắp 205 Phủ Quỳ - Pdf 28

Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 1 Lớp: CQ46/11.09
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm, đặc trưng, vai trò vốn kinh doanh (VKD)
1.1.1.1. Khái niệm vốn kinh doanh.
Đối với mỗi doanh nghiệp để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất
kinh doanh nào đó cũng cần phải có vốn. Vốn không chỉ là điều kiện tiên quyết
đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong các yếu tố giữ vai
trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.Để tiến
hành các hoật động sản xuất kinh doanh , doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn
nhất định đầu tư mua sắm các yếu tố cơ bản cho quá trình sản xuất kinh doanh
như là sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Để đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp thì kết quả thu được từ hoạt động sản xuất
kinh doanh phải bù đắp được toàn bộ chi phí bỏ ra và có lãi. Như vậy có thể
thấy rằng số tiền đã ứng ra ban đầu không những được bảo tồn mà nó còn tăng
thêm do hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại.
Từ phân tích trên cho ta thấy:
VKD của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản
được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích
sinh lời.
1.1.1.2. Đặc trưng của vốn kinh doanh
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VKD đòi hỏi các doanh nghiệp phải
nhận thức đúng đắn các đặc trưng của vốn. Sau đây là những đặc trưng cơ bản
của VKD:
- Thứ nhất: Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Nói
cách khác, vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp.
Do đó, không thể có vốn mà không có tài sản và ngược lại.

SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 3 Lớp: CQ46/11.09
Đối với một doanh nghiệp, vốn có vai trò rất quan trọng quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nó vừa là cơ sở để tiến hành các
hoạt động sản xuất kinh doanh lại cũng chính là chỉ tiêu đánh giá kết quả của
các hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Bên cạnh đó vốn còn là yếu tố có ảnh
hưởng rất lớn đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập
vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Điều này càng thể hiện rõ trong
cơ chế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh
nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị đầu tư hiện đại hoá công
nghệ tất cả những yếu tố này muốn đạt được đòi hỏi doanh nghiệp phải có
một lượng vốn đủ lớn và sử dụng vốn có hiệu quả.
Mặt khác một doanh nghiệp muốn mở rộng phạm vi hoạt động tiến hành
tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh vốn của doanh nghiệp
phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo vốn của doanh
nghiệp được bảo toàn và phát triển. Điều đó cho thấy vốn là cơ sở để doanh
nghiệp tiếp tục đầu tư mở rộng phạm vi sản xuất, thâm nhập vào thị trường
tiềm năng từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh
nghiệp trên thương trường.
Nhận thức được vai trò quan trọng như vậy doanh nghiệp cần hết sức
thận trọng trong quá trình quản lý và sử dụng vốn. Bắt đầu từ công tác phân
loại vốn và tìm các nguồn tài trợ cho phù hợp với yêu cầu về lượng vốn và
thời gian sử dụng. Chỉ khi làm tốt công tác này doanh nghiệp mới có thể nghĩ
đến vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, mở rộng phạm vi hoạt động, tiến
hành tái sản xuất mở rộng, tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
1.1.2. Phân loại vốn kinh doanh
1.1.2.1.Căn cứ theo đặc điểm chu chuyển:
Theo tiêu thức này VKD chia làm hai loại:
 Vốn cố định của doanh nghiệp (VCĐ)
* Khái niệm VCĐ
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa

SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 5 Lớp: CQ46/11.09
- VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một vòng
chu chuyển. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ
bị hao mòn, giá trị của TSCĐ chuyển dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm.
- VCĐ chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ
về mặt giá trị, tức là khi thu hồi đủ tiền khấu khao TSCĐ.
Trong các doanh nghiệp VCĐ là một bộ phận vốn quan trọng chiếm tỷ
trọng tương đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh
doanh nói chung. Quy mô của VCĐ, trình độ quản lý và sử dụng nó là nhân
tố ảnh hưởng đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh. Từ
những đặc điểm trên của VCĐ đòi hỏi trong việc quản lý VCĐ phải luôn gắn
liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ của doanh
nghiệp. Vì điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
 Vốn lưu động của doanh nghiệp (VLĐ)
* Khái niệm vốn lưu động
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài các TSCĐ doanh
nghiệp cần phải có các tài sản lưu động (TSLĐ). Để đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một lượng TSLĐ nhất định. Do đó, để hình thành nên các
TSLĐ doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các
tài sản đó. Số vốn này được gọi là VLĐ của doanh nghiệp.
VLĐ của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSLĐ
nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện
thường xuyên, liên tục.
TSLĐ của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phân: Tài sản lưu động sản xuất
và tài sản lưu động lưu thông.
- TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế,
bán thành phẩm,…đang trong quá trình dự trữ hoặc chế biến.
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa

Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 7 Lớp: CQ46/11.09
 Vốn vay: là các khoản vốn do doanh nghiệp huy động trên cơ sở chính
sách, chế độ của Nhà nước ví dụ như: vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín
dụng, các khoản tín dụng thương mại. Doanh nghiệp được quyền sử dụng
khoản vốn này trong phạm vi những điều kiện ràng buộc nhất định (về thời
gian, chi phí vay, điều kiện đảm bảo,…). Chi phí nợ vay được tính vào chi phí
hợp lý hợp lệ nên không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong khi đó,
lợi tức của vốn chủ được trích từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
1.1.2.3.Căn cứ vào thời gian hoạt động và sử dụng vốn:
Theo cách này, vốn của doanh nghiệp được phân loại thành hai loại:
 Vốn thường xuyên: gồm các khoản vốn có tính chất ổn định và dài
hạn (trên 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Nguồn tài trợ cho việc hình thành các tài sản cố định và một phần
tài sản lưu động (tài sản lưu động ròng) chính là từ nguồn vốn thường xuyên
này. Nguồn này bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn.
 Vốn tạm thời: gồm các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1
năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu tạm thời, bất
thường phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các
khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn
hạn chính là các bộ phận cấu thành nên nguồn vốn tạm thời.
1.1.3. Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Sự phát triển kinh doanh với quy mô ngày càng lớn đòi hỏi phải có
lượng vốn ngày càng nhiều. Hơn nữa ngày nay với sự phát triển của khoa học
và công nghệ , trong nền kinh tế mở với xu thế quốc tế hóa ngày càng cao, sự
cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt thì nhu cầu vốn cho hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng lớn. Điều đó đòi hỏi các doanh
nghiệp phải huy động cao độ nguồn vốn bên trong đồng thời phải tìm cách
huy động nguồn vốn bên ngoài để đáp ứng nhu cầu phát triển của chính mình.
Trên thực tế hiện nay vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được

nhất định do các cổ đông – chủ sở hữu đóng góp. Số vốn này có thể tăng thêm
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, nguồn
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 9 Lớp: CQ46/11.09
vốn này do ngân sách Nhà nước cấp hoặc đầu tư; đối với công ty cổ phần, vốn
này do các cổ đông đóng góp và nó là yếu tố quyết định để hình thành công
ty; đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh, công ty hợp danh
thì vốn do các thành viên tham gia đóng góp.
- Nguồn vốn đóng góp bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh(lợi nhuận
không chia): Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận
được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi
nhuận không chia thường được trích lập nên các quỹ của doanh nghiệp như:
quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi,…
- Nguồn vốn đóng góp từ phát hành cổ phiếu: Đối với các công ty cổ phần
trong hoạt động sản xuất kinh doanh có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách
phát hành cổ phiếu mới. Thông qua thị trường chứng khoán thì phát hành cổ
phiếu là một kênh huy động vốn dài hạn rất quan trọng đối với các công ty cổ
phần. Cổ phiếu thường gồm hai loại cơ bản là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu
đãi.
-Nguồn vốn chủ sở hữu khác:Nguồn vốn này bao gồm các khoản thặng dư
vốn cổ phần, các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, do chênh lệch tỷ
giá, do được ngân sách Nhà nước cấp kinh phí, hoặc do các đơn vị phụ thuộc
nộp kinh phí quản lý,…
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường
một DN phải phối hợp cả hai nguồn: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Sự kết
hợp hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà DN hoạt động, tuỳ
thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh
doanh và tài chính của DN.
Tại sao chúng ta cần nghiên cứu nguồn vốn kinh doanh khi quản lý và sử
dụng vốn? Các lý do cơ bản như sau:

vai trò mang tính quyết định đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Nhưng trước khi thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 11 Lớp: CQ46/11.09
hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp cần phải hiểu hiệu quả sử dụng vốn là gì,
nó bao gồm những yếu tố nào.
Nói đến hiệu quả có nghĩa là đề cập đến mối quan hệ giữa kết quả đạt
được và chi phí bỏ ra, nó bao gồm hai mặt: Hiệu quả kinh tế và hiệu qủa
xã hội.
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ
kinh tế xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ
ra. Nếu xét về tổng lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kết
quả lớn hơn chi phí, chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả
kinh tế càng cao và ngược lại.
- Hiệu qủa xã hội: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố
gắng nỗ lực, trình độ quản lý ở mỗi khâu mỗi cấp trong hệ thống công việc và
sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những
yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội.
Như vậy, hiệu quả kinh tế đạt được phải có đầy đủ cả hai mặt trên, có
nghĩa là vừa phải đảm bảo có sự chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí
bỏ ra đồng thời phải đạt được mục tiêu chính trị xã hội nhất định .
Thông qua quan điểm tổng quát đã đưa ra ở trên có thể kết luận :
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ khai thác ,sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động
sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi tối đa với chi phí thấp nhất.
1.2.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
của doanh nghiệp
* Xuất phát từ tầm quan trọng của vốn trong quá trình sản xuất kinh
doanh
Vốn là tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố cơ bản cần

* Xuất pháp từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh đối với doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng VKD là với số vốn nhất định doanh nghiệp
có thể tạo ra nhiều doanh thu hơn, thu về nhiều lợi nhuận hơn, đầu tư thêm
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 13 Lớp: CQ46/11.09
được trang thiết bị máy móc, cơ sở vật chất, hiện đại hóa quy trình công
nghệ…góp phần làm tăng quy mô kinh doanh, tối đa hóa lợi nhuận.
Việc bảo toàn và phát triển vốn là điều kiện cần để doanh nghiệp tồn tại
và phát triển. Bảo toàn vốn là cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lại chính là biện pháp tốt để bảo toàn vốn. Nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn không những có ý nghĩa đối với một doanh nghiệp nói
riêng mà còn có ý nghĩa đối với nền kinh tế nói chung.
* Xuất pháp từ ý nghĩa đối với xã hội
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ góp phần tăng thu ngân sách, giải
quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp
1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
Doanh thu thuần trong kỳ
1. Vòng quay toàn bộ VKD =
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh VKD trong kỳ chu chuyển được bao nhiêu vòng
hay mấy lần. Chỉ tiêu này đạt cao, hiệu suất sử dụng VKD càng cao.
Doanh thu thuần trong kỳ
2. Vòng quay VLĐ =
VLĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay VLĐ thực hiện được trong một thời
kỳ nhất định ( thường là 1 năm ).

dài so với các doanh nghiệp trong ngành thì dễ dẫn đến tình trạng nợ khó đòi.
Doanh thu thuần trong kỳ
- Vòng quay các khoản phải thu =
Số dư bình quân các khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay các khoản phải thu thực hiện được
trong một kỳ.

Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 15 Lớp: CQ46/11.09
Doanh thu thuần trong kỳ
5. Hiệu suất sử dụng VCĐ =
VCĐ bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng VCĐ có thể tham gia tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu thuần bán hàng trong kỳ.
Để đánh giá đúng mức kết quả quản lý và sử dụng VCĐ của từng thời
kỳ, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VCĐ cần phải được xem xét trong mối liên hệ
với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ.

Doanh thu thuần trong kỳ
6. Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tham gia tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu thuần.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
* Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (ROS)
Lợi nhuận ( trước / sau thuế )
ROS =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này thể hiện khi thực hiện 1 đồng doanh thu trong kỳ, doanh

Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng VKD bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
VCSH bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCSH bình quân sử dụng trong kỳ tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu.
 Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính ( theo phương pháp phân
tích DU PONT)
ROE =

ROI
1- H
N
Trong đó: H
N
: Hệ số nợ Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 17 Lớp: CQ46/11.09
Doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế
ROI = x
Tổng tài sản Doanh thu thuần

ROE = { ROA
E
+
D

- Nhân tố thuộc về khoa học công nghệ: trong thời đại ngày nay khi khoa
học kỹ thuật, công nghệ phát triển mạnh mẽ như vũ bão thì việc ứng dụng
những thành tựu của KHCN sẽ là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp dám chấp
nhận mạo hiểm, tiếp cận kịp thời với tiến bộ khoa học, ngược lại sẽ là nguy
cơ đối với các doanh nghiệp không tiếp cận kịp thời với nó và sẽ bị tụt lùi
phía sau.
- Ngoài các rủi ro kinh doanh thì các yếu tố thuộc về tự nhiên như: bão
lụt, động đất, hỏa hoạn,…cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp nên cũng ảnh hưởng tới việc bảo toàn và phát
triển vôn. Doanh nghiệp cần phải lập các quỹ dự phòng nhằm chống và khắc
phục các hậu quả do thiên tai gây ra.
1.2.3.2. Các nhân tố chủ quan
Là các nhân tố có tính chất quyết định tới hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp, bao gồm:
- Cơ cấu vốn: Là thành phần và tỷ trọng của các loại vốn trong tổng
VKD của doanh nghiệp tại một thời điêm. Một cơ cấu vốn hợp lý phù hợp với
đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp với xu thế pháp
triển của nền kinh tế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Ngược lại,
một cơ cấu vốn không hợp lý sẽ dẫn đến việc sử dụng vốn lãng phí, giảm hiệu
quả sử dụng vốn. Ngoài ra phương thức tài trợ vốn cũng có liên quan đến chi
phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Một cơ cấu tài trợ vốn tối ưu luôn là mục
tiêu mà các nhà quản trị tài chính theo đuổi nhằm tối đa hóa lợi nhuận, giảm
thiểu chi phí sử dụng vốn, giảm thiểu rủi ro về tài chính, góp phần nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn.
- Trình độ của cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp: Đây là nhân tố có ý
nghĩa quyết định đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Trình độ quản lý
tốt, bộ máy gọn nhẹ, đồng bộ nhịp nhàng sẽ giúp cho doanh nghiệp sử dụng
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 19 Lớp: CQ46/11.09
vốn có hiệu quả, ngược lại nếu trình độ quản lý yếu kém hoặc bị buông lỏng

thị trường. Có như vậy sản phẩm làm ra mới có thể tiêu thụ được, doanh
nghiệp mới nâng cao được hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn.
- Hai là: Xác định chính xác nhu cầu vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt
động sản xuất kinh doanh . Việc xác định nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động
sản xuất kinh doanh là một vấn đề không kém phần quan trọng. Nó giúp cho
doanh nghiệp tránh được tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn, ảnh hưởng đến
quá trình sản xuất kinh doanh hoặc phải đi vay ngoài với lãi suất cao, đồng
thời cũng tránh được tình trạng ứ đọng vốn, không phát huy được hiệu quả
kinh tế cho doanh nghiệp.
- Ba là: Huy động và đầu tư vốn đúng đắn. Lựa chọn các hình thức thu
hút vốn tích cực, triệt để khai thác nguồn vốn trong nội bộ doanh nghiệp, đáp
ứng kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh và giảm được chi phí sử dụng vốn
cho doanh nghiệp. Cần tránh tình trạng vốn tồn tại dưới hình thái tài sản
không cần sử dụng, vật tư hàng hoá kém phẩm chất trong khi doanh nghiệp
phải đi vay với lãi suất cao.
Trước khi quyết định đầu tư, doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ từ
nguồn tài trợ vốn đầu tư, thị trường cung cấp nguyên vật liệu và thị trường
tiêu thụ sản phẩm để đảm bảo chi phí sử dụng vốn là thấp nhất. Đầu tư đúng
đắn vào thiết bị máy móc tiên tiến, hiện đại, kết cấu tài sản đầu tư hợp lý cũng
hạn chế được ảnh hưởng của hao mòn vô hình mà vẫn đạt chỉ tiêu về năng
suất và chất lượng.
- Bốn là: Tổ chức tốt từ công tác sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
Doanh nghiệp cần phân phối nhịp nhàng giữa các bộ phận sản xuất, không
ngừng nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Tăng cường
công tác quảng cáo, marketing nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng vòng
quay của vốn. Để làm tốt các mục đích ấy, doanh nghiệp phải tăng cường
quản lý các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như quản lý tốt
vốn cố định và vốn lưu động
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 21 Lớp: CQ46/11.09

THỰC TRẠNG VỀ SỬ DỤNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH
DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ VÀ XÂY LẮP 250 PHỦ QUỲ

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH SXKD CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN CƠ KHÍ VÀ XÂY LẮP 250 PHỦ QUỲ.
2.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần
cơ khí và xây lắp thiết bị 250 Phủ Quỳ.
2.1.1.1 Giới thiệu chung:
 Tên công ty: Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp 250 Phủ
Quỳ
 Tên giao dịch quốc tế: 250 Phu Quy Mechanies and Setting
up Joint Stock Company
 Trụ sở chính công ty: Khối 250, Phường Quang Tiến, Thị Xã
Thái Hòa, Tỉnh Nghệ An
 Điện thoại: 038 3881 425 Fax: 038 3881425
 Vốn điều lệ: 4.635.000.000 đồng
 Số lượng cổ phần: 46350
 Mệnh giá : 100.000 đồng
 Giám đốc: Trần Văn Khai
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển công ty
Tiền thân của Công ty là xưởng cơ khí và sửa chữa 250

b

Phủ Quỳ bắt
đầy xây dựng từ đầu năm 1956 và đến năm 1960 thì hoàn thành và đi vào sản
xuất.
Địa điểm: Tại xã Nghĩa Quang - Nghĩa Đàn - Nghệ An.
Trực thuộc Tổng cục trang bị kỹ thuật - Bộ nông nghiệp nhằm thực hiện
nhiệm vụ, chiến lược là cơ giới hoá nông nghiệp, sản xuất và sửa chữa đại tu

phẩm cơ khí thì Công ty còn mở thêm ngành nghề mới đó là xây lắp.
Ngành nghề kinh doanh của công ty là :
 Sản xuất, kinh doanh máy, phụ tùng máy nông nghiệp.
 Sữa chữa, đại tu ô tô, xe máy nông nghiệp.
 Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi.
 Lắp đặt điện công nghiệp, điện dân dụng.
 Sản xuất mộc dân dụng, vật liệu xây dựng.
 Dịch vụ giữ xe, nhà trọ, dạy nghề cơ khí.
 Mua bán, đại lý xăng dầu.
 Sản xuất, bán nước sinh hoạt.
Sản phẩm chủ yếu là sản phẩm cơ khí truyền thống như sản xuất các phụ
tùng ô tô, máy kéo, sản xuất công cụ đi sau máy nông nghiệp và sản xuất các
khung nhà thép, các dây chuyền phục vụ sản xuất ngành khai thác đá,
quặng
Nên thị trường tiêu thụ mới chỉ bó hẹp ở phạm vi trong tỉnh : trên địa
bàn huyện nhà và các huyện khác lân cận , đây cũng là một hạn chế của Công
ty vì công ty chưa đủ năng lực để vươn ra thị trường rộng lớn.
2.1.2.2 Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty.
Cho đến nay, ngành nghề kinh doanh chính của Công ty Cổ phần Cơ khí
và Xây lắp 250 Phủ Quỳ không chỉ là sản xuất các sản phẩm cơ khí truyền
thống, gia công hàng hóa theo các hợp đồng kinh tế, hoặc hàng lẻ đột xuất
khách hàng yêu cầu mà còn mở rộng thêm lĩnh vực cung cấp dịch vụ: chuyên
sửa chữa, đại tu ô tô đầu máy các loại. Tuy nhiên, trên thực tế sản xuất các
sản phẩm cơ khí vẫn là lĩnh vực sản xuất chủ yếu của công ty, được coi là thế
mạnh của công ty.
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
SV: Nguyễn Thị Kiều Oanh 25 Lớp: CQ46/11.09
Với sự đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, hiện nay công ty thực hiện
mô hình sản xuất kinh doanh phân tán về các phân xưởng, các tổ. Mỗi phân
xưởng, tổ thực hiện nhiệm vụ riêng của mình. Sử dụng mô hình sản xuất kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status