Học Viện Tài Chính 1 Luận Văn Tốt Nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng em.
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực
tế của đơn vị.
Người thực hiện
Trần Minh Tuấn
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 2 Luận Văn Tốt Nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý vĩ mô của nhà nước như
hiện nay cùng với sự khó khăn của nên kinh tế toàn cầu các doanh nghiệp phải
tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh cùng mới môi trường cạnh tranh
gay gắt. Thị trường tài chính Việt Nam đang sôi động từng ngày bởi sự lớn
mạnh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước kéo theo đó là sự phát triển
không ngừng của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam tạo cho nước ta một vị thế
không nhỏ trên trường quốc tế.
Để thúc đẩy cỗ máy kinh tế đó hoạt động tốt các doanh nghiệp, các tổ chức
kinh tế cũng như mọi cá nhân đã đang và sẽ nỗ lực không ngừng trong khả
năng có thể để làm lành mạnh doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp hoạt động hiệu
quả hơn. Một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp phải đối mặt khi nền
kinh tế thị trường ngày càng phát triển đó là các quan hệ tín dụng ngày càng trở
nên đa dạng và phức tạp, chính từ đó sự phát sinh nợ đã trở thành một yếu tố
tất nhiên trong hoạt động kinh doanh, trong đó bao gồm cả tín dụng ngân
hàng và tín dụng thương mại. Tình trạng nợ nần này phải được nhìn từ cả hai
khía cạnh: từ phía người cho vay (bên cung cấp tín dụng hay là chủ nợ) và phía
người đi vay (bên nhận tín dụng hay khách nợ), và đôi khi phải tính đến cả
những yếu tố thị trường nữa (những tác nhân bên ngoài ảnh hưởng tới quan hệ
tín dụng của cả hai bên).
Hiện nay ở nước ta nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với rủi ro tín
dụng rất cao trong đó rủi ro rủi ro về tổn thất nợ khó đòi là một trong
Trần Minh Tuấn
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 4 Luận Văn Tốt Nghiệp
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ PHẢI THU VÀ HIỆU QUẢN LÝ NỢ
PHẢI THU CỦA DOANH NGHIỆP
1. Nợ phải thu của doanh nghiệp
1.1. Khái niệm
Nợ là biểu hiện mối quan hệ giữa chủ nợ, khách nợ thông qua một hoặc nhiều
đối tượng nợ. Chủ nợ và khách nợ có thể là những tổ chức kinh tế hay những
cá nhân có mối quan hệ làm ăn mua bán, trao đổi với nhau.Nợ bao gồm nợ
phải thu và nợ phải trả trong đó nợ phải thu được theo dõi bên Tài sản của
bảng CĐKT trong khi nợ phải trả được theo dõi bên Nguồn vốn.
Qua bảng CĐKT ta nhận thấy nợ phải thu là một bộ phận quan trọng trong
tài sản của doanh nghiệp. Nó phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh
nghiệp khi thực hiện việc cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cũng như một
số trường hợp khác liên quan đến bộ phận vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng
tạm thời như cho mượn ngắn hạn, chi hộ cho đơn vị bạn hoặc cấp
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 5 Luận Văn Tốt Nghiệp
trên, giá trị tài sản thuế mà chưa xử lý…
Nói một cách ngắn gọn, nợ phải thu là số tài sản của đơn vị nhưng đang
bị các tổ chức hay tập thể, cá nhân khác chiếm dụng mà đơn vị có trách nhiệm
thu hồi. Những tài sản đó là những khoản phát sinh trong các hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp với các đối tác.
1.1.2. Phân loại nợ phải thu
Vì nợ phải thu là mối quan hệ giữa chủ nợ - khách nợ thông qua đối
tượng nợ. Đối tượng nợ ở đây chính là những khoản tiền, giá trị mà khách nợ
đang chiếm dụng của công ty và chưa thanh toán. Để tiện theo dõi các khoản
phải thu ta có thể phân loại nợ phải thu theo khách nợ. Nợ phải thu bao gồm:
phòng đề phòng rủi ro không thu hồi được nợ và có những biện pháp xử lý kịp
thời tránh tổn thất cho doanh nghiệp. Ta có thể đi sâu tìm hiểu nợ khó đòi như
sau:
Khái niệm: Nợ khó đòi là các khoản nợ đã quá thời hạn thanh toán, doanh
nghiệp đã áp dụng các biện pháp xử lý như đối chiếu, xác nhận, đôn đốc
thanh toán nhưng vẫn chưa thu hồi được.
Các khoản phải thu được coi là các khoản nợ khó đòi khi nó đảm bảo các
điều kiện sau:
- Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước
vay nợ hoặc các cam kết nợ khác.
- Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng các tổ chức kinh tế (các
công ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng…) đã lâm vào
tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 7 Luận Văn Tốt Nghiệp
trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án
hoặc đã chết.
- Những khoản nợ quá hạn từ 3 năm trở lên coi như không có khả năng thu
hồi và được xử lý theo qui định.
Phân loại nợ quá hạn:
Ta có thể dựa vào “tuổi” của các khoản nợ cùng với tình hình hoạt động của
doanh nghiệp để phân loại nợ khó đòi. Theo cách đó ta có 2 loại nợ khó đòi
sau:
Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán: đây là những khoản nợ của khách hàng
đã qua hạn phải trả nhưng do một lý do nào đó mà khách hàng đó không thể trả
được. Đối với khoản nợ khó đòi này, ta có thể phân ra làm các loại sau:
- Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 3 tháng đến dưới 1 năm.
- Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 1 năm đến dưới 2 năm.
- Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 2 năm đến dưới 3 năm
- Khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 3 năm trở lên.
hay có những bằng chứng chứng minh khách hàng này thường hay thiếu nợ với
những đối tác khác trong kinh doanh. Với những khách hàng này doanh nghiệp
cần phải theo dõi sát sao quá trình hoạt động để kịp thời nắm bắt tình hình và
xử lý khi những khách hàng này có biểu hiện không bình thường trong kinh
doanh.
- Nợ không có bảo lãnh: thường áp dụng với những khách hàng lâu năm của
doanh nghiệp; những khách hàng có uy tín trong hoạt động kinh doanh, trong
mối quan hê với đối tác. Đây là những khách hàng lớn không chỉ có uy tín với
doanh nghiệp mà còn có uy tín với các doanh nghiệp khác trên thị trường
hoạt động của nó. Đối với những khách hàng như thế này, trong quan hệ
mua bán doanh nghiệp không cần đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo hay
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 9 Luận Văn Tốt Nghiệp
những khoản cầm cố, bảo lãnh. Làm việc dựa trên uy tín như thế này sẽ giữ
được mối quan hệ hợp tác lâu dài, từ đó cũng sẽ làm tăng uy tín của doanh
nghiệp do doanh nghiệp có những đối tác rất uy tín trên thị trường hoạt động
kinh doanh.
d. Theo tính chất của khách nợ
Đối với quản lý công nợ phải thu việc phân loại khách hàng theo mối quan hệ
làm ăn lâu dài là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới các quyết định trong chính
sách tín dụng cũng như thời hạn tín dụng, hạn mức tín dụng mà doanh nghiệp
quyết định đưa ra cho khách hàng trong các trao đổi.
- Phải thu của khách hàng mới
- Phải thu của khách hàng lâu năm.
1.1.2.2. Trả trước cho người bán
Trả trước cho người bán là khoản tiền mà doanh nghiệp đặt trước cho người
bán để nhận hàng nhằm mục đích nhận chiết khấu từ phía khách hàng là nhà
cung cấp. Doanh nghiệp trả tiền hàng trước cho người bán còn nhằm mục đích
đảm bảo nhận được hàng khi thị trường đang khan hiếm hàng hoá đó, khi nhà
cung cấp có quá nhiều đối tượng muốn mua hàng. Tuy nhiên trong quá trình
1.1.3.1. Nguyên nhân hình thành nợ trong hạn
Trong quá trình hoạt đông kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp đều phát
sinh các khoản phải thu nhưng ở các mức độ nhiều ít khác nhau. Nguyên
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 11 Luận Văn Tốt
Nghiệp
nhân chủ yếu hình thành nên các khoản phải thu chính là từ chính sách hoạt
động của doanh nghiệp. Trong đó chính sách bán chịu ảnh hưởng mạnh nhất
đến các khoản phải thu và sự kiểm soát của giám đốc tài chính trong doanh
nghiệp. Giám đốc tài chính có thể thay đổi mức độ bán chịu để kiểm soát
khoản phải thu sao cho phù hợp với sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro và
kiểm soát các khoản phải thu liên quan chặt chẽ tới việc đánh đổi giữa lợi
nhuận và roi ro. Nếu không bán chịu hàng hoá thì sẽ mất đi cợ hội bán hàng,
do đó mất đi lợi nhuận. Nếu bán chịu hàng hoá nhiều thì chi phí cho khoản
phải thu tăng và nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, vì vậy, rủi ro không
thu hồi được nợ cũng gia tăng. Từ đó vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp cần
có chính sách bán chịu hàng hoá thích hợp. Và đương nhiên để kích thích tiêu
thụ hàng hoá không một doanh nghiệp nào lại thu tiền hàng ngay khi giao
hàng cho khách hàng, bao giờ cũng có chính sách tín dụng ưu đãi cho khách
hàng với hạn mức tín dụng, thời hạn tín dụng, chính sách chiết khấu… hợp lý.
Chính vì thế trong một kỳ kinh doanh bao giờ doanh nghiệp cũng có các
khoản phải thu khách hàng.
Ngoài ra còn có một số yếu tố làm phát sinh các khoản phải thu như tình
hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm….Tuy nhiên khi các
yếu tố này xảy ra thì nó tác động đến toàn bộ hoạt động sản xuất của doanh
nghiệp chứ không riêng gì các khoản phải thu và phải có những biện pháp điều
chỉnh trong toàn doanh nghiệp.
1.1.3.2. Nguyên nhân dẫn tới nợ khó đòi ở doanh nghiệp
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ khó đòi mà ta có thể thống kê được
như sau:
nghiệp không dự đoán đúng thị trường, mức bán hàng và doanh số, quyết
định mua một khối lượng hàng hoá quá lớn, thanh toán trả chậm nhưng
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 13 Luận Văn Tốt
Nghiệp
không thể bán được hàng hoặc các nguyên nhân khác làm ứ đọng hàng háo
dẫn tới việc không thể thanh toán các khoảnt nợ phải trả. Nhiều doanh nghiệp
chưa có khả năng kiểm soát nguồn tiền của doanh nghiệp, mất cân đối về
luồng tiền, dẫn đến mất khả năng thanh toán.
Do đối tác của doanh nghiệp là khách hàng vay nợ lâm vào tình trạng không
thể hoàn trả nợ làm cho khách hang của doanh nghiệp khó có khoản tiền để
trả cho doanh nghiệp.
Thứ hai: Sự biến động của thị trường và các rủi ro trong kinh doanh. Trong
điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt làm cho doanh nghiệp không có khả
năng thích ứng kịp thời, kinh doanh khó khăn dẫn đến tình trạng mấu khả năng
thanh toán. Trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay, cần đặc
biệt chú ý đến những biến động trong ngoại thương, chẳng hạn như sự biến
động của tỷ giá, biến động giá xăng dầu, vật liệu xây dựng, nguyên liệu… Thứ
ba: Sự thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn tới tình
hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó có thể là nguồn động lực thúc
đẩy doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhưng cũng có thể là rào cản trong sự
phát triển của các doanh nghiệp. Tuy nhiên khi đề cập đến phát sinh nợ tồn
đọng ta chỉ đề cập các bất lợi mà chính sách kinh tế vĩ mô mang tới cho khách
hàng. Các thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng nhất đó là thay
đổi về thuế quan. Ví dụ như Việt Nam tăng thuế nhập khẩu sẽ làm tăng giá sản
phẩm nhập khẩu vào=>giảm tiêu dùng=>doanh thu của các doanh nghiệp bán
các mặt hàng nhập khẩu giảm xuống. Nhưng khi chính phủ giảm thuế nhập
khẩu các mặt hàng nước ngoài thì các mặt hàng này lại bán chạy trong nước
làm cho các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh mạnh hơn trên thị
trường trong nước. Khi đó các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy mạnh hơn các chính
bàn hoạt động, đối tượng khách hàng mà doanh nghiệp đang nhắm tới, thị
truờng tiềm năng, cơ hội kinh doanh, đối thủ cạnh tranh,….
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 15 Luận Văn Tốt
Nghiệp
1.1.5. Tác động của nợ phải thu đối với hoạt động của doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô nợ phải thu đồng nghĩa với việc doanh
nghiệp đang cấp cho khách hàng một khoản tín dụng, việc cấp tín dụng này nếu
trong thời gian dài có thể ảnh hưởng đến nguồn vốn lưu động, đến khả năng
thanh toán, đến các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc cấp tín dụng thông qua các chính sách bán chịu nếu không có kế
hoạch cụ thể phân loại, đánh giá khách hàng, lập các biện pháp thu hồi nợ và
trích lập dự phòng cụ thể có khă năng dẫn tới mất vốn.
1.2. Quản lý nợ phải thu ở doanh nghiệp
1.2.1. Quan niệm về hiệu quả quản lý nợ phải thu
Hiệu quả quản lý khoản phải thu là một phạm trù kinh tế phản ánh chất
lượng của việc quản lý nợ phải thu sao cho chi phí về vốn bỏ ra ít nhất mà kết
quả đạt được cao nhất
1.2.2. Mục tiêu quản lý
Nợ phải thu là một bộ phận quan trọng trong tài sản của doanh nghiệp, liên
quan đến các đối tượng bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp, trong đó có các
cơ quan chức năng của Nhà nước (chủ yếu là cơ quan thuế) đồng thời nội dung
các khoản phải thu cũng có tính chất đa dạng gắn liền với sự đa dạng trong các
giao dịch phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp . Đặc biệt nợ phải thu của
các đối tượng bên ngoài xảy ra trong các giao dịch kinh doanh có thể xảy ra
những rủi ro làm chậm hoặc thậm chí không thể thu hồi nợ, ảnh hưởng đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp.
Do tính chất đa dạng về nội dung, đối tượng phải thu cũng như những rủi ro
có thể xảy ra nên cần phải quản lý và kiểm soát chặt chẽ tình hình nợ phải
thu này từ lúc phát sinh ra các giao dịch. Chính vì thế mà nhà quản trị tài chính
triển.
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 17 Luận Văn Tốt
Nghiệp
- Tổ chức hệ thống kiểm soát nợ phải thu chuyên nghiệp, đầy đủ thông
tin, kịp thời, nhanh chóng sẽ giúp cho các doanh nghiệp hạn chế đến mức thấp
nhất các rủi ro không thu hồi được nợ, chi phí thu hồi nợ sẽ thấp.
1.2.4 Nội dung quản lý
Trong bảng CĐKT của các doanh nghiệp bao giờ cũng có các khoản phải
thu thậm chí có những doanh nghiệp các khoản phải thu này có giá trị khá cao
song trong quá trình thu tiền theo hoá đơn bán chịu cũ thì doanh nghiệp vẫn
tiếp tục bán hàng hoá và sẽ xuất hiện những hoá đơn bán chịu mới. Do đó,
trong kinh doanh một doanh nghiệp mua chịu và bán chịu là công việc thường
ngày và hoá đơn cũ được thanh toán thì hoá mới cũng được tạo ra. Tuy nhiên
độ lớn cuả các khoản phải thu của một doanh nghiệp thay đổi theo thời gian,
tuỳ thuộc vào tốc độ thu hồi nợ cũ và tạo ra nợ mới, cũng như sự tác động của
những điều kiện kinh tế chung nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp.
Nhưng cũng có một số biến số có thể kiểm soát được có thể tác động đến độ
lớn cũng như “chất lượng” của các khoản phải thu một cách mạnh mẽ.
Để quản lý các khoản phải thu doanh nghiệp sẽ có những chính sách
liên quan đến những biến số có thể kiểm soát được và được gọi là chính sách
tín dụng. Khi đã có những chính sách phù hợp doanh nghiệp sẽ phải tiến hành
theo dõi các khoản phải thu đó.
1.2.2.1. Quản lý phải thu trong hạn
a. Xây dựng chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là một yếu tố quyết định quan trọng khác liên quan
đến mức độ, chất lượng và rủi ro của doanh thu bán hàng. Chính sách tín dụng
của doanh nghiệp được thực hiện thông qua việc kiểm soát 4 biến số sau :
-
Tiêu chuẩn tín dụng: là nguyên tắc chỉ đạo định rõ sức mạnh tài chính
các biện pháp càng cứng rắn thì chi phí thu hồi càng cao. Thêm vào đó, một số
khách hàng có thể khó chịu khi bị đòi tiền gắt gao và cứng rắn, do đó doanh số
tương lai có thể sẽ bị giảm xuống.
b. Theo dõi khoản phải thu
Để theo dõi các khoản phải thu chúng ta có thể xem xét một số các công
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 19 Luận Văn Tốt
Nghiệp
cụ sau:
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý nợ phải thu
-
Kỳ thu tiền bình quân
Đây là một công cụ đo lường để hỗ trợ nhà quản lý theo dõi các khoản
phải thu. Kỳ thu tiền bình quân là tổng giá trị hàng hoá đã bán cho khách hàng
theo phương thức tín dụng thương mại (tổng giá trị các khoản phải thu) tại một
thời điêm nào đó, chia cho doanh số bán chịu bình quân mỗi ngày.
Kỳ thu tiền
bình quân
=
Tổng giá trị các khoản phải thu
Doanh số bán chịu bình quân
Kỳ thu tiền bình quân cho biết một đồng tiền bán hàng trước đó phải
mất bao nhiêu ngày mới thu lại được. Đây là phương pháp đo lường đơn giản,
chịu sự chi phối của hai yếu tố chính là:
Sự đo lường áp dụng đối với doanh số bán hàng trung bình mỗi ngày và
không có sự khác biệt về sự phân bố của doanh số bán.
Thời kỳ mà doanh số bán mỗi ngày được sử dụng làm cơ sở để tính
toán. Kỳ thu tiền bình quân có độ nhạy rất cao với yếu tố này.
-
Tỷ lệ các khoản phải thu so với phải trả
Như vậy nhà tài chính sẽ phải phân tích chặt chẽ hơn, kết hợp giữa
chính sách bán chịu và quản lý các khoản phải thu để tính toán được số vòng
luân chuyển các khoản phải thu một cách hợp lý.
- Phân tích tuổi của các khoản phải thu
Phương pháp phân tích này dựa trên thời gian biểu về tuổi của các
khoản phải thu, cung cấp cho nhà quản trị sự phân bố về tuổi của các khoản
bán chịu. Sự phân tích theo phương pháp này có tác dụng rất hữu hiệu, nhất là
khi các khoản phải thu được xem xét dưới giác độ sự biến động về mặt thời
gian. Bởi vậy nó có thể tạo ra một phương thức theo dõi hiệu quả đối với các
khoản phải thu.
Tuy nhiên phương pháp này chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của doanh số
bán theo mùa - vụ. Hay nói cách khác nếu doanh số bán thay đổi thất thường thì
biểu thời gian sẽ cho thấy sự thay đổi rất lớn dù rằng mô hình thanh toán
không thay đổi.
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 21 Luận Văn Tốt
Nghiệp
c. Tổ chức công tác quản lý thu nợ
Tổ chức công tác quản lý thu nợ theo chính sách thu nợ đã đề ra ở trong
chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Việc thu hồi nợ này nên được giao cho
những người chuyên trách để công việc có hiệu quả hơn.
Như vậy công tác quản lý các khoản phải thu rất khó khăn phức tạp bởi nó liên
quan tới rất nhiều yếu tố, nhiều biến số kinh tế. Tuy nhiên việc quản lý tốt
các khoản phải thu sẽ tránh cho các doanh nghiệp tình trạng phải giải quyết các
khoản phải thu khó đòi. Khi xuất hiện các khoản phải thu khó đòi các doanh
nghiệp phải nhanh chóng xử lý và việc xử lý các khoản phải thu này em xin
được đề cập ở phần sau đây.
1.2.2.2. Quản lý phải thu quá hạn của doanh nghiệp ( Nợ khó đòi)
Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì các quan hệ tín dụng
ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Sư phát sinh nợ là một yếu tố tất nhiên
muốn trả hay do điều kiện kinh doanh không như mong muốn mà khách hàng
không thể trả được khoản nợ cho doanh nghiệp? Nếu do khách hàng không
muốn trả thì vì sao họ không muốn trả? Vì họ muốn giữ mối quan hệ đối tác
với công ty, vì họ muốn giữ khoản vốn có giá rẻ này để đầu tư vào hàng hoá
dịch vụ khác hay vì vấn đề đạo đức nghề nghiệp mà họ không muốn trả nợ…
Người làm tài chính của công ty cần phải xem xét kỹ nguyên nhân
để có những biện pháp thu hồi hợp lý. Muốn đưa ra những biện pháp thu hồi
nợ thì người quản lý công nợ phải thu phải tiếp xúc với khách hàng, phải đốc
thúc khách hàng trả nợ cho công ty, hoặc tuỳ từng hoàn cảnh của khách
hàng để đưa ra những chính sách thu hồi nợ cần thiết. Còn nếu do khách
hàng không thể trả được thì vì sao? Khách hàng đã không trả được thì thường
do công ty khách hàng làm ăn thua lỗ, họ không bán được hàng của công ty
mình nên chưa thu hồi được tiền để trả nợ. Khi đó người làm tài chính cần phân
tích khả năng của khách hàng khi kinh doanh để ra quyết định nên tiếp tục
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 23 Luận Văn Tốt
Nghiệp
bán chịu cho họ để họ tiếp tục kinh doanh thu hồi lại vốn trả nợ cho công
ty trong trường hợp khách hàng có những chính sách mới, thay đổi phương
pháp kinh doanh phù hợp với điều kiện môi trường kinh doanh trong tương lai
hay bằng mọi cách thu hồi nợ về nếu xét thấy khách hàng không còn khả năng
kinh doanh tiếp.
Người làm tài chính sẽ phải tính đến khả năng khách hàng trả nợ xem
khách hàng trả được bao nhiêu và cả chi phí để thu hồi nợ. Nếu chi phí quá lớn
mà khoản thu về lại nhỏ không đáng kể thì công ty phải có biện pháp khác, có
thể xoá nợ cho khách hàng đồng thời hạch toán vào chi phí kinh doanh hoặc sử
dụng một số những biện pháp khác theo đúng chế độ xử lý nợ khó đòi mà Nhà
nước đã ban hành.
* Xây dựng quy trình quản lý
Sau khi xem xét và đốc thúc khách hàng trả nợ nhưng không được thì
- Sự phức tạp của nợ khó đòi: Nó là các khoản nợ lòng vòng giữa các tổ
chức kinh tế với nhau, phát sinh từ lâu và đã quá hạn thanh toán nhiều năm,
thiếu hồ sơ tài liệu pháp lý…Các khoản nợ khó đòi đã phải đem ra xử lý
thường là các khoản nợ thuộc diện khó đòi (quá hạn từ 2-3 năm trở lên), phát
sinh từ nhiều loại quan hệ khác nhau như quan hệ tín dụng hay quan hệ mua
bán hang hoá, dịch vụ…và chủ yếu là không có tài sản đảm bảo nên việc đánh
giá khả năng thu hồi gặp khó khăn do phụ thuộc hoàn toàn vào thái độ hợp tác
của bạn hàng trong việc cung cấp thông tin về năng lực tài chính và khả năng
trả nợ. Khó khăn ở đây là phần lớn khách nợ không có thái độ hợp tác tích cực
hoặc không cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác cho người thẩm định ở
doanh nghiệp nên người xử lý nợ thường thiếu thông tin để đánh giá. Điều đó
làm tăng độ rủi ro của nợ khó đòi .
- Từ doanh nghiệp khách nợ: việc xử lý nợ tồn đọng phụ thuộc rất nhiều
vào thái độ hợp tác của khách nợ. Những khách nợ đã để cho các khoản phải trả
Sinh viên: Trần Minh Tuấn Lớp: CQ47/11.04
Học Viện Tài Chính 25 Luận Văn Tốt
Nghiệp
của mình quá hạn thanh toán để doanh nghiệp là chủ nợ phải tiến hành xử lý nợ
khó đòi tức là khách nợ đó đã không có khả năng trả nợ hoặc khách nợ đó
không có ý muốn trả nợ nữa để chiếm dụng vốn. Chính vì thế mà hy vọng vào
sự hợp tác của khách nợ là vô cùng nhỏ kể cả khách nợ là những doanh nghiệp
Nhà nước. Do tình hình tài chính khó khăn nên những khách nợ này luôn cố
tình tránh gặp các chủ nợ hay các tổ chức xử lý nợ để bàn về việc mua bán,
thanh toán nợ. Một nguyên nhân nữa khiến các khách nợ này không chịu hợp
tác là do tâm lý chây ỳ không chịu trả nợ để chờ nhà nước xoá nợ.
- Từ phía doanh nghiệp chủ nợ: Xử lý các khoản nợ khó đòi thường làm
giảm doanh thu của doanh nghiệp hoặc nếu giao bán nợ thì rất khó để bán được
với giá cao vì các khoản nợ này từ lâu đời và rất khó đòi. Chính và thế giao bán
nợ với giá thấp sẽ làm doanh nghiệp tổn thất nhiều, số tiền giao bán nợ đó
doanh nghiệp hạch toán vào chi phí kinh doanh làm giảm lợi nhuận thu được.