ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
HOÀNG ANH HUY
MHV: 13050187 VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC NHO GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HOÁ
TRUYỀN THỐNG CỦA VIỆT NAM
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
GVHD: TS. ĐÀO DUY THANH
2
I. Mở đầu
Trong một thế giới luôn vận động và biến đổi, tôi vẫn thường tự hỏi liệu có gì
tồn tại được mãi mãi hay không? Rồi trong một phút bất giác chợt nhận ra rằng tri thức
con người sẽ luôn thay đổi theo thời gian, nhưng những giá trị về vật chất và tinh thần
do nó tạo ra thì có lẽ là tương đối bền vững cho đến khi có một cuộc cách mạng đổi
thay nó. Mỗi cá nhân, gia đình và xã hội đều có những giá trị riêng đặc trưng mà ta
còn gọi là văn hoá (văn hoá cá thể, văn hoá gia đình và văn hoá xã hội), tiêu chuẩn
chính cho việc đánh giá. Vậy để thẩm định giá trị của một quốc gia rõ là phải thông
qua những tinh hoa trong văn hoá truyền thống của quốc gia đó. Với Việt Nam của
chúng ta, một quốc gia có không ít những giá trị văn hoá truyền thống: chủ nghĩa yêu
nước, tinh thần đoàn kết, kiên cường, bất khuất, cần cù, chăm chỉ, hiếu học, … Quả
thực khó có thể kể ra đầy đủ các giá trị văn hoá truyền thống của ta, tuy nhiên theo cá
nhân tôi, các giá trị này đều được thể hiện thông qua các phong tục tập quán, các nhân
vật lịch sử, anh hùng dân tộc, các di chỉ đền đài lăng tẩm đã và đang có của ta. Không
thể tồn tại một quốc gia mà nền văn hoá truyền thống không chịu ảnh hưởng ít nhiều
những tác động từ bên ngoài. Một quốc gia nhỏ nhất như Công quốc Monaco vẫn phải
chịu sự ảnh hưởng từ Giáo hội Công Giáo Roma [1], hay quốc gia lớn nhất như Nga,
nền văn hoá truyền thống cũng không thoát khỏi những ảnh hưởng của các bộ lạc
trước đó trên cả phần đất thuộc Châu Á và Châu Âu (việc du nhập Ki-tô giáo từ Đế
quốc Đông La Mã năm 988, thời Trung Đại lãnh thổ của các bộ lạc người Goth, Hun,
Avar gốc Thổ, Scythia gốc Iran hay Ugric gốc Phần Lan, … đều thuộc lãnh thổ Nga
ngày nay) [2]. Vậy nên, xét các yếu tố ảnh hưởng đến văn hoá truyền thống Việt Nam
không thể không kể đến Nho giáo Trung Hoa. Cũng đã có nhiều quan điểm, ý kiến
khác nhau về vấn đề này, tuy nhiên chỉ xét trên bình diện chung mà chưa đánh giá
được cụ thể mức độ ảnh hưởng hay chưa làm rõ được vấn đề, có lẽ là do gặp phải
nhiều ý kiến trái chiều. Vẫn xét ảnh hưởng của triết học Nho giáo đến văn hoá truyền
Là một hệ thống triết lý, đạo đức và tôn giáo do Khổng Tử sáng lập, Nho giáo
không chỉ là tài sản riêng của Trung Hoa mà gần như hầu hết các nước lân cận đều bị
ảnh hưởng bởi nó (Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, ).
Theo qui luật logic, cái gì cũng phải có nền tảng của nó, vậy nên, là một người
Việt Nam, tôi cũng rất muốn tìm hiểu về những giá trị văn hoá truyền thống của mình
có nền tảng từ đâu. Ngược dòng thời gian về với những dòng sử thời Bắc thuộc: Nhà
Hán cai trị nước ta, triết lý nho giáo và văn hoá Trung Hoa được truyền bá vào Việt
Nam với ý đồ đồng hoá lấy người Việt cai trị người Việt, sự truyền bá này chỉ trong
4
phạm vi các đô thị lớn thời bấy giờ, do đó chỉ có một bộ phận người Việt tiếp nhận
được triết lý này thông qua quá trình giúp việc cho các viên quan cai trị người Hán
như các Tộc Trưởng, Hào Trưởng, Tù Trưởng, Lạc Hầu, Lạc Tướng, … Thời này chữ
“trung” mà bọn cai trị muốn người giúp việc hiểu là trung thành tuyệt đối với Thiên
Tử nhà Hán “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, nhưng người Việt luôn có tinh
thần yêu nước truyền thống (Phù Đổng Thiên Vương đánh đuổi giặc Ân, An Dương
Vương 2 lần đánh đuổi quân Tần 208 TCN) nên cách hiểu và hành động không như sự
mong muốn của bọn cai trị người Hán, luôn có những cuộc khởi nghĩa nổi dậy và
kháng chiến chống quân xâm lược từ thế kỷ I-X (Hai Bà Trưng năm 40, Bà Triệu năm
248, Lã Hưng năm 262, Triệu Chỉ năm 299, Lý Bí năm 542, Triệu Quang Phục năm
557, Mai Thúc Loan năm 722, Phùng Hưng với em là Phùng Hải năm 779, Dương
Thanh năm 791-820, Khúc Thừa Dụ năm 906, Dương Đình Nghệ năm 931, Ngô
Quyền năm 939, Lê Hoàn 981 phá tan quân Tống) [5].
Năm 1070 Lý Thánh Tông cho lập văn miếu thờ Khổng Tử và Chu Công coi
như là mốc ghi nhận tiếp thu chính thức Nho giáo trên bình diện cả nước.
Trương Hát gần chiến tuyến đọc to bài thơ ấy lên. Lời thơ hùng hồn lại được đọc dõng
dạc nơi chốn tôn nghiêm khiến quân sĩ tưởng là lời của thần linh sông núi nên tinh
thần mạnh mẽ hơn. Chớp thời cơ, Lý Thường Kiệt ra lệnh đánh mạnh, trận Như
Nguyệt toàn thắng, dẫn đến các trận sau liên tiếp thắng lợi và quét sạch ngoại xâm ra
khỏi bờ cõi. Dù thắng lợi, nhưng Lý Thường Kiệt vẫn viết thư đề nghị giảng hoà nhằm
tránh sự trả thù “dùng biện sĩ giảng hoà không nhọc tướng tá, không tốn xương máu
quân sĩ mà bảo tồn được tôn miếu xã tắc” [6]. Câu nói này cho ta thấy lòng nhân nghĩa
trí đức của Lý Thường Kiệt, rõ ràng chất Nho không chỉ ảnh hưởng đến văn thơ, hay
trong binh pháp đánh trận mà nó còn ảnh hưởng mạnh mẽ trong suy nghĩ và hành động
của ông.
6
Dưới thời Trần nền Nho học Việt Nam đã hoà quyện với chủ nghĩa dân tộc yêu
nước qua ba lần đánh đuổi ngoại xâm, Nho học là biểu hiện tập trung của sự phát triển
nho giáo. Chế độ giáo dục thi cử có từ thời nhà Lý được nâng lên một trình độ mới,
chính qui và chặt chẽ hơn (Quốc Tử Giám nay mở rộng cho các tầng lớp khác vào
học). Nhà Trần đã tổ chức nhiều khoa thi và việc thi cử ngày càng được xem trọng.
Năm 1232 nhà Trần đặt ra học vị Thái Học Sinh (đời Lê đổi thành Tiến Sĩ). Năm 1247
tiếp tục đặt thêm lệ lấy đỗ tam khôi hay còn gọi là “Tam Nguyên” (Trạng Nguyên,
Bảng Nhãn, Thám Hoa). Năm 1305 lại đặt thêm học vị Hoàng Giáp (đỗ thứ tư, sau
Thám Hoa). Thời Trần đã đào tạo ra rất nhiều nho gia nổi tiếng như: Chu Văn An,
Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Mạc Đỉnh Chi, Lê Văn Hưu,
Nguyễn Hiền, … Tạm chỉ lướt sơ qua một số lĩnh vực văn hoá mang đậm ảnh hưởng
của Nho giáo thời này như văn học, một số tác phẩm rất có giá trị (“Việt Điện U Linh
muốn nhìn thấy cảnh mất nước, từ việc soạn binh thư, đến tất cả các lời nói cử chỉ và
hành động của Trần Hưng Đạo đều toát lên những nét đặc trưng của Nho giáo như
Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, trong con người ông thể hiện rõ nét một đấng quân tử đầu
đội trời chân đạp đất.
Tiếp tục với “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi viết thay lời Bình Định
Vương Lê Lợi, vẫn những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo: “Việc nhân nghĩa cốt ở
yên dân”, “Trời thử lòng trao cho mệnh lớn”, “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn”,
“Lấy chí nhân để thay cường bạo”, hay “… thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh” [10],
(cấp thuyền, ngựa cho Mã Kỳ, Phương Chính, Vương Thông, Mã Anh về nước sau khi
đã thua trận), “Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ”, gần như
cái trí dũng, mưu lược và mọi suy nghĩ hành động của vị anh hùng dân tộc này đều
mang đậm chất Nho, tuy nhiên trong cái nền tảng Nho ấy của Nguyễn Trãi lại kết hợp
và hoà quyện được một trí tuệ Việt đầy sáng tạo: tương truyền, Nguyễn Trãi sai người
lên thượng nguồn các con sông, lấy mỡ viết vào lá khô tám chữ: “Lê Lợi vi quân,
8
Nguyễn Trãi vi thần”, rồi cho kiến ăn đục thủng lỗ trên lá, thả lá xuống sông, người
dân sống ven sông và các khu vực lân cận tin là trời đã định “mệnh trời” Lê Lợi sẽ
thắng và làm vua, nên đồn thổi khắp nước, việc này vô cùng có lợi cho sĩ khí quân lính
cũng như niềm tin và sự ủng hộ của toàn dân.
Không chỉ có những vị anh hùng tài trí siêu quần, Việt Nam còn được biết đến
với những tác phẩm thi ca mang tầm quốc tế như “Đoạn Trường Tân Thanh” (Truyện
Kiều) [12] của danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Du, thông qua tuyệt tác này ta lại
càng thấy rõ triết học Nho giáo luôn giữ vai trò nền tảng cho những tác phẩm nghệ
thuật của Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn phong kiến. Những tư tưởng về “thiên
mệnh” hay “đạo trời” của Khổng Tử đã được Nguyễn Du vận dụng một cách triệt để
đầy tinh tế:
“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
…
Ngẫm hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao
Và trời cũng hết sức công bằng:
Có đâu thiên vị người nào
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai”.
Chỉ xét riêng hai đoạn thơ mở đầu và kết thúc câu truyện, Nguyễn Du đều đã nhắc đến
bố”, “Những lăm lòng nghĩa lâu dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ”, “Thác mà trả nước
non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; Thác mà ưng đình miếu để thờ,
tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”, “Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã
rành rành, một chữ ấm đủ đền công đức đó. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo,
thương vì hai chữ thiên dân” [13]. Rõ ràng những nghĩa cử cao đẹp của các anh hùng
vì chữ “trung” chữ “hiếu” mà hi sinh không tiếc thân mình, những người còn sống họ
11
cũng như Nguyễn Đình Chiểu luôn ghi nhớ công ơn, ở đây chữ “nghĩa” được thể hiện
ra thành những hành động vô cùng thương tiếc lập đền thờ để đời.
Qua khỏi thời phong kiến ta lại có một vị anh hùng dân tộc được cả thế giới biết
đến, Chủ Tịch Hồ Chí Minh, xuất thân từ một gia đình nhà Nho có truyền thống yêu
nước, nền tảng tri thức của ông cũng bị ảnh hưởng bởi Nho giáo không ít, tuy nhiên
nhờ một số điều kiện đương thời cùng lòng yêu nước, tinh thần ham học hỏi nên
Người đã du nhập được những thành tựu về tư tưởng ở nhiều châu lục, nhiều quốc gia
khác nhau trên thế giới dẫn đến sự thành công to lớn trong sự nghiệp Cách Mạng. Một
trong số những câu nói nổi tiếng của Người: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với
dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh
thắng” [14]. Ở đây Bác Hồ đã đề cập đến chữ “trung”, “hiếu”, và cái việc “nghĩa” mà
Ai có thể cản được bước chân của thế hệ hiện tại và những thế hệ sau đến thăm viếng
và thực hiện chữ “nghĩa” cao đẹp này đây? 13
Ai có thể quên được ngày giỗ Tổ hay ngày sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh?
Lăng Bác Đền Hùng
Thực tế cho thấy nền tảng tư tưởng của triết học Nho giáo đã và vẫn còn đang
tồn tại một cách đầy tích cực trong xã hội Việt Nam, trong những truyền thống tốt đẹp
mà có lẽ các thế hệ sau này không dám tính đến chuyện bỏ đi vì nhỡ ai đó hỏi: Truyền
thống nước bạn có những gì? Sao trả lời đây. Nói vậy để ta có thể đánh giá được ảnh
hưởng của triết học Nho giáo đến văn hoá truyền thống của Việt Nam là bao, để ta có
để rồi thành quả mà chúng ta nhận được ngày nay là niềm tự hào dân tộc, tự hào về
một quốc gia có truyền thống văn hoá không thua kém gì bạn bè năm châu.
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
[2]
[3] NHO-GIaO-La-Gi htm
[4]
[5] o/index.php?option=com_content&view=article&id=2&
Itemid=25
[6]
3%BD
[7]
%BB%AD_k%C3%BD_to%C3%A0n_th%C6%B0
[8]
%C4%A9_(Tr%E1%BA%A7n_Tr%E1%BB%8Dng_Kim_d%E1%BB%8Bch)
[25]
[26]
[27] />en.html
[28]
47802174&type=1