Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa dân gian Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƯƠNG QUANG ĐIỆN
(Thích Thanh Điện) ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN VĂN HOÁ
DÂN GIAN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
6. Đóng góp của luận văn 5
7. Ý nghĩa của luận văn 5
8. Kết cấu của luận văn 5
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ
VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM 6
1.1. Khái lược chung về Phật giáo và văn hóa dân gian Việt Nam . 6
1.1.1. Tổng quan chung về Phật giáo 6
1.1.2. Khái lược chung về văn hóa dân gian Việt Nam 16
1.2. Sự tác động của Phật giáo đến văn hóa dân gian Việt Nam 21
Chương 2: MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN VĂN HÓA
DÂN GIAN VIỆT NAM 36
2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn học dân gian Việt Nam 37
2.1.1. Ảnh hưởng của Phật giáo đến ca dao, tục ngữ 37
2.1.2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến các tích truyện dân gian 45
2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng, lễ hội và nghệ thuật
biểu diễn dân gian Việt Nam 60
4 2.2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng, lễ hội dân gian . 60
2.2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến nghệ thuật biểu diễn dân gian 75
2.3. Một số khuyến nghị nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế
ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo đến văn hóa dân gian Việt Nam 87
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

nước ta rất quan tâm. Báo cáo chính trị Văn kiện đại hội IX và X Đảng ta
2 đều khẳng định: “Phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa và đạo đức của
tôn giáo”. Vì vậy, việc nghiên cứu “Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa
dân gian Việt Nam” không chỉ góp phần làm sáng tỏ sự hội nhập của Phật
giáo vào nền văn hóa dân tộc nói chung mà cụ thể hơn là với văn hóa dân
gian nói riêng. Góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam đáp ứng nhu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về Phật giáo và sự hội nhập của Phật giáo đối với văn hóa
Việt Nam trong lịch sử và hiện tại có khá nhiều công trình nghiên cứu khác
nhau. Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như:
Nghiên cứu về lịch sử Phật giáo và Phật giáo Việt Nam có thể kể đến
một số công trình điển hình sau đây: Phật học khái lược của Lưu Vô Tâm,
Nxb. Tôn giáo, năm 2002; Kimura Taiken với Nguyên Thủy Phật giáo tư
tưởng luận, Nxb. Tôn giáo, năm 2007; Việt Nam Phật giáo sử luận (2 tập)
của Nguyễn Lang, Nxb. Văn học, năm 2000; Lịch sử Phật giáo Việt Nam của
nhiều tác giả do Nguyên Tài Thư (chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, năm
1998; Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb. Khoa học
xã hội, năm 1999; Lịch sử Phật giáo Việt Nam (2 tập) của Lê Mạnh Thát,
Nxb. TP. Hồ Chí Minh, năm 2001…. Xét ở góc độ khái quát chung nhất,
các công trình trên với nội dung đề cập đến những vấn đề về lịch sử Phật
giáo, và lịch sử Phật giáo Việt Nam, những tư tưởng và giáo lý cơ bản của
đạo Phật, quá trình truyền bá và các chặng đường phát triển của Phật giáo
Việt Nam, một số đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa có thể kể đến
các tác phẩm: “Truyền thống văn hóa và Phật giáo Việt Nam” của tác giả
Minh Chi, Nxb. Tôn giáo năm 2003; “Sự tác động qua lại giữa văn hóa và

chất dân gian trong Phật giáo chính là khẳng định căn tính riêng biệt và độc
4 đáo của Phật giáo Việt Nam. Khẳng định nguồn cội hội nhập của Phật giáo
với văn hóa dân tộc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận mác xít về tôn giáo và
văn hóa, luận văn phân tích, làm sáng tỏ những ảnh hưởng của Phật giáo đến
văn hóa dân gian Việt Nam thông qua một số lĩnh vực biểu hiện cụ thể trong
ca dao, tục ngữ, tín ngưỡng, nghệ thuật sân khấu dân gian của người Việt
Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích trên, luận văn có
nhiệm vụ:
Thứ nhất: Trình bày tổng quan về Phật giáo và văn hóa dân gian.
Thứ hai: Phân tích những ảnh hưởng của Phật giáo đến một số loại
hình văn hóa dân gian Việt Nam. Qua đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm
phát huy những giá trị của Phật giáo trong văn hóa dân gian Việt Nam
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Những ảnh hưởng của Phật giáo đối với
văn hóa Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:Luận văn chỉ nghiên cứu những ảnh hưởng
của Phật giáo đối với văn hóa dân gian Việt Nam trên một số lĩnh vực cụ thể
như: Văn học dân gian; Tín ngưỡng, lễ hội dân gian; âm nhạc, diễn xướng và
sân khấu dân gian.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn đựơc xây dựng trên cơ sở vận dụng các
nguyên lý, quan điểm mác xít như: quan điểm duy vật lịch sử về tôn giáo và
văn hóa.
5


Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ
VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM

1.1. Khái lược chung về Phật giáo và văn hóa dân gian Việt Nam
1.1.1. Tổng quan chung về Phật giáo
Phật giáo là một trong ba tôn giáo thế giới ra đời vào khoảng thế kỷ thứ
VI, TCN ở Ấn Độ. Thế kỷ III, II TCN Phật giáo được coi là quốc giáo ở Ấn
Độ, sau đó được truyền bá, lan tỏa sang các nước lân cận và khu vực. Ngày
nay Phật giáo có mặt ở nhiều nước trên thế giới.
Phật giáo ra đời trong điều kiện kinh tế xã hội Ấn Độ có sự chuyển
biến sâu sắc. Ấn Độ là một quốc gia có lịch sử lâu đời và nền văn minh phát
triển sớm, từ thiên niên kỷ thứ III TCN, đó là nền văn minh tiền Vêda. Từ
khoảng 1500 năm TCN, do những biến động xã hội Ấn Độ đã chuyển sang
một nền văn minh mới là nền văn minh Vêda. Phật giáo ra đời trong nền văn
minh này.
Phật giáo ra đời trong bối cảnh nền kinh tế Ấn Độ có sự phát triển
mạnh mẽ, tạo nên những biến động lớn về mặt xã hội.
Về kinh tế: Thế kỷ VI (TCN) Ấn Độ đã là quốc gia phát triển. Công cụ
sản xuất bằng sắt phổ biến. Xã hội đã có sự phân công lao động giữa nông
nghiệp, thủ công và thương nghiệp. Sự phát triển của sản xuất, sự xuất hiện
chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là nguyên nhân khiến cho sự phân hóa và
mâu thuẫn giai cấp ở Ấn Độ trở nên sâu sắc.
Chế độ đẳng cấp, sự phân hóa giai cấp, đẳng cấp khắc nghiệt là một
đặc điểm của xã hội Ấn Độ. Xã hội tồn tại 4 đẳng cấp:
Tăng lữ (Brahma) hay còn gọi là đẳng cấp Bà la môn. Đây là đẳng cấp
cao nhất, thống trị đời sống tinh thần xã hội, có đặc quyền chính trị xã hội,
7

người, đặc biệt là tầng lớp thấp hèn. Đây là một tôn giáo đề cao tuyệt đối hóa
sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp. Đạo Phật ra đời là sự phản bác lại sự bất
bình đẳng của Balamôn nhưng lại tiếp thu những quan niệm của Bàlamôn
như: Nghiệp, kiếp, luân hồi…
Người sáng lập Phật giáo là Thái tử Tất Đạt Đa (624 – 544. TCN –
hình 1), con vua Tịnh Phạn, trị vì nước Ca tỳ la vệ (Nê Pan ngày nay). Ông
sống trong cuộc sống giàu sang nơi cung đình nên không biết những khổ
cực, bất hạnh ngoài xã hội. Nhưng sau 4 lần trực tiếp ra ngoài thành, tận mắt
chứng kiến nỗi khổ của con người và quyết tâm noi theo gương các đạo sĩ đi
tìm đường cứu khổ cho dân chúng.
Năm 19 tuổi, ông bỏ nhà ra đi để trở thành một ẩn tu. Sau 11 năm học
đạo và khổ tu, ông nhận thấy lối tu đó không thể giải thoát cho con người
khỏi nỗi đau sinh, lão, bệnh, tử. Bằng sự kiên trì ông đã phát hiện ra con
đường “trung đạo” có thể dẫn con người tới giải thoát. Sau 49 ngày tư duy,
ông tuyên bố đạt đến chân lý và hiểu được bản chất sự tồn tại của nhân sinh.
Từ đó ông được gọi là Thích Ca Mâu Ni- người giác ngộ chân lý đầu tiên.
Và ông bắt đầu sự nghiệp hoằng bá của mình, thu nạp đệ tử, thành lập các
tăng đoàn Phật giáo.
Những giáo lý mà Phật Thích Ca và các đệ tử của Ngài truyền bá đến
quần chúng nhân dân có nội dung đề cập đến các vấn đề về: “Tứ diệu đế” và
“Niết bàn”…Đó là quá trình lý giải vấn đề về khổ và sự diệt khổ đế đạt đến
“Niết bàn”.
Về “Tứ diệu đế: “Tứ diệu đế” cắt nghĩa bản chất và nguyên nhân gây
ra đau khổ và con đường khắc phục sự đau khổ. Bao gồm 4 nguyên nhân
chính sau:
Khổ đế: Bản chất của nhân sinh là khổ, nỗi khổ do con người tự gây
nên. Gồm “Bát khổ”: Sinh khổ; Lão khổ; Bệnh khổ; Tử khổ; Sở cầu bất đắc
khổ; Ái thụ biệt khổ; Oán tăng hội khổ; Ngũ uẩn khổ. Tám cái khổ trên thuộc

nhau. Hướng con người tới thế giới siêu nhiên.
10 Niết bàn có thể tồn tại ngay trong thế giới trần tục, con người có thể
đạt tới khi loại bỏ được “tham, sân, si”, thoát khỏi vô minh, sống an nhiên tự
tạo, vô ngã vị tha. Hướng con người vào đời sống trần thế.
Đối lập với “Niết bàn” là “Địa ngục”. Sự tồn tại của “Niết bàn” và “Địa
ngục” có giá trị chủ yếu về mặt hướng thiện, giáo dục đạo đức con người.
Với tư tưởng từ bi hỉ xả, vô ngã vị tha, giáo lý hướng thiện, giàu tính
nhân bản, Phật giáo đã nhanh chóng lan tỏa ra nhiều nước trên phạm vi toàn
thế giới.
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ I, thứ II sau CN
thông qua sự giao lưu buôn bán của người Ấn và người Trung Hoa với người
Việt. Phật giáo được du nhập vào nước ta thời Bắc Thuộc theo hai con
đường: Đường thuỷ và đường bộ. Qua đường bộ người Việt tiếp nhận Phật
giáo một cách gián tiếp, qua đường thủy tiếp nhận một cách trực tiếp.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam là một quá trình liên tục từ thế kỷ I
đến thế kỷ thứ VI. Sau này, thế kỷ X, XI và XVI, XVII Phật giáo còn được
tiếp tục du nhập vào Việt Nam và có mặt trên khắp đất nước Việt. Ở phía
Bắc, Phật giáo du nhập vào trung tâm Luy Lâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) và
lan tỏa, phát triển dần sang các khu vực khác.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam trong bối cảnh các tín ngưỡng bản
địa như thờ thần tự nhiên, thờ tổ tiên…phát triển khá mạnh, do vậy có sự
tương tác, cùng chung sống giữa Phật giáo với các tín ngưỡng tôn giáo này,
có sự hội nhập giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa, Phật giáo đã được
người Việt chấp nhận. Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam thời kỳ đầu du
nhập đồng nhất giữa Trời với Thần với Phật, đề cao Phật Quan Thế Âm…
Phật giáo du nhập vào Việt Nam thời kỳ đầu gồm các giáo phái chính:
Thiền tông: là một tông phái Phật giáo do nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt

tên một vị tổ thuộc dòng Lâm Tế) vào thế kỷ 18 (miền Trung), phái Lâm Tế
dưới thời nhà Nguyễn (miền Trung, và sau này phát triển ở miền Nam). Thiền
tông Việt Nam đề cao cái "tâm", "Phật ở tại tâm", tâm là Niết Bàn, hay Phật.
12 Tịnh độ tông: là một tông phái Phật giáo, chủ trương tu dựa trên tha
lực của Phật A Di Đà. Tha lực này rất quan trọng đối với căn cơ con người
thời nay. Phật Thích Ca Mầu Ni có lần thuyết giảng: "Một viên đá dù nhỏ
đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm, nhưng nếu một hòn đá dù to
đến mấy mà đặt trên bè thì nó cũng nổi".
Trong Tịnh Độ tông, có tồn tại một cõi Phật cụ thể, gọi là Thế giới
Cực Lạc do đức Phật A Di Đà (tiếng Phạn: Amitabha) làm giáo chủ. Việc tu
hành được mở rộng ra những hành động đơn giản như đi thăm chùa, tụng
danh Phật A Di Đà. Nhờ cách như vậy mà Tịnh Độ tông là tông phái phổ
biến khắp cõi Việt Nam. Đi đến đâu ta cũng gặp người dân tụng niệm câu
"Nam mô A Di Đà Phật" (có nghĩa là "Nguyện quy theo đức Phật A Di Đà").
Tượng Phật A Di Đà là tượng có mặt ở khắp mọi nơi và có mặt từ rất lâu đời.
Mật tông: là một tông phái Phật giáo chủ trương sử dụng những phép
tu tụng niệm các mật chú để đạt đến chân lý giác ngộ. Cũng còn gọi là Lạt
Ma tông, Mật tông là sự hợp nhất giới luật của thuyết nhất thiết hữu bộ và
nghi thức tác pháp của Kim Cương thừa. Bước quyết định trong nghi thức
này là lễ Quán Đỉnh do một vị sư cả (hay "lạt ma") ban phép cho người đệ tử
được nhập thiền định tâm vào một vị Phật cụ thể bằng cách đọc chân âm, suy
niệm đồ hình Man- đà- la và thực thi ấn quyết để đạt đến độ thăng hoa loại
bỏ ý niệm nhị nguyên đặng nhập vào Chân Như, vào cõi Không. Trạng thái
đó được biểu tượng bằng Kim cương chử. Để làm chủ được các nghi thức tác
pháp của Mật tông (còn gọi là Kim Cương thừa) thì điều tiên quyết là phải
thấu hiểu giáo nghĩa của Bát-nhã-ba-la-mật-đa của Long Thọ và Vô Trước.
Giáo nghĩa Bát-nhã-ba-la-mật-đa được gọi là "Nhân thừa", và giáo nghĩa

Khế cơ thiên trọng về mặt lịch sử nhờ khế cơ nên dù trong hoàn cảnh
và quốc độ nào thì sự sinh hoạt, thể hiện, truyền đạt cũng luôn luôn đa dạng.
Tùy theo phong tục tập quán của mỗi quốc gia mà vẫn không hề mất gốc
(Phật giáo). Nói một cách khác thì có thể tùy nghi phương tiện theo từng
14 vùng miền để truyền bá giáo lý Phật-đà nhưng không làm mất đi bản sắc của
Phật giáo là ứng hợp với mọi tầng lớp và căn cơ chúng sinh.
Tên gọi tuy có khác nhưng giáo lý vẫn là một nên gọi là khế lý, dù
một mà không phải một, nên có lắm tên Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Tây
Tạng, Phật giáo Thái Lan, v.v. tất cả đều có tên chung là Phật giáo, bảo rằng
giống cũng được nhưng bảo rằng không thì là sai. Đây gọi là khế cơ là bản
địa hóa, hay sắc thái Phật giáo của từng vùng miền.
Khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền sư
người Việt bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên
một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam. Phật giáo đã cùng sinh tồn với dân
tộc. Điểm này dễ dàng nhận thấy trong những thời đại hưng thịnh của đất
nước như Đinh, Lê, Lý - Trần đều là những lúc Phật giáo cũng song hành
hưng thịnh và các vị thiền sư có vị trí quan trọng trong các triều đại đó. Dù
được bản địa hóa để quyện mình vào lòng dân tộc nhưng tam tạng kinh điển
Phật giáo Việt Nam vẫn được truyền thừa trong suốt hơn 2000 năm lịch sử
Phật giáo Việt Nam.
Thứ nhất, tính tổng hợp: Tổng hợp là một trong những đặc tính của
lối tư duy nông nghiệp, chính vì thế tổng hợp là đặc tính nổi bật nhất của
Phật giáo Việt Nam.
Tổng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống: Phật giáo thờ
Phật trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là thờ thần trong miếu và
thờ Mẫu trong phủ, bốn vị thần được thờ nhiều nhất là Tứ pháp: Mây-Mưa-
Sấm-Chớp. Tuy nhiên bốn vị thần này đã được "Phật hóa". Các pho tượng

kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ sư" với Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bên
trái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâu vào tâm thức mọi người Việt. Ngoài ra
Phật giáo Việt Nam còn được hòa trộn với tất cả các tôn giáo khác để hình
thành Đạo Cao Đài vào thập niên 1920 với quan điểm là "Thiên nhân hợp
nhất" và "Vạn giáo nhất lý".
16 Thứ hai, Tính hài hòa âm dương: Sau tính tổng hợp, hài hòa âm dương
là một trong những đặc tính khác của lối tư duy nông nghiệp, nó ảnh hưởng
rất lớn đến Phật giáo Việt Nam làm cho Phật giáo Việt Nam có phần thiên về
nữ tính.
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là nam giới, khi vào Việt Nam bị biến
thành "Phật ông - Phật bà". Phật Bà Quan Âm (biến thể của Quán Thế Âm
Bồ Tát) là vị thần hộ mệnh của vùng Nam Á nên còn được gọi là Quan Âm
Nam Hải. Ngoài ra người Việt còn có những vị Phật riêng của mình như
Man Nương Phật Mẫu (tên khác: Phật Mẫu), Quan Âm Thị Kính (tên khác:
Quan Âm Tống Tử), Quan Âm Diệu Thiện (tên khác: Phật Bà Chùa Hương,
Bà chúa Ba).
Thứ ba, Tính linh hoạt: Phật giáo Việt Nam còn có một đặc điểm là rất
linh hoạt, mà nhà Phật thường gọi là "tùy duyên bất biến, bất biến mà vẫn
thường tùy duyên" nghĩa là tùy thuộc vào tình huống cụ thể mà người ta có
thể tu, giải thích Phật giáo theo các cách khác nhau. Nhưng vẫn không xa rời
giáo lý cơ bản của nhà Phật. Ví dụ: Các vị bồ tát, các vị hòa thượng đều
được gọi chung là Phật, Phật Bà Quan Âm (vốn là bồ tát), Phật Di Lặc (vốn
là hòa thượng), Ngoài ra Phật ở Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa và dân
dã: ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc xoăn), ông Nhịn ăn mà mặc (chỉ Thích Ca
Tuyết Sơn), Trên đầu Phật Bà Chùa Hương còn có lọn tóc đuôi gà rất
truyền thống của phụ nữ Việt Nam. Những đặc điểm đó cho thấy sự hỗn dung
giữa Phật giáo với văn hóa dân gian Việt Nam rất sâu sắc và phong phú.

Văn hóa dân gian (Folklore): “Văn hóa dân gian là sáng tạo của dân,
từ dân mà ra và phục vụ cho cuộc sống của nhân dân”[30;11] Văn hóa dân
gian trong tiếng Anh được dịch là Folklore, từ này gồm hai chữ: Folk là quần
chúng, lore là trí tuệ. Do đó văn hóa dân gian còn được hiểu là những sáng
tác mang tính bình dân, trí tuệ của quần chúng nhân dân.
Văn hóa dân gian có một số tính chất cơ bản sau:
18 Tính nguyên hợp: là sự sáng tạo dân gian sử dụng tất cả các hình thức
văn, nhạc, múa, diễn,… dựa trên những phương tiện ngôn từ, âm thanh, hình
ảnh, động tác một cách tự nhiên, tổng hòa, không phân biệt tỉ lệ cao thấp
khác nhau, không thiên hẳn về một phương tiện, biện pháp nào. Nghĩa là
buổi đầu con người dân gian vừa là nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, kịch sĩ. Tất cả
những khả năng cảm thông, thể hiện, phản ánh ấy cùng một lúc hòa với
nhau, vì thế nên gọi là nguyên hợp.
Tính trôi: Do thuộc tính quan trọng là truyền miệng, truyền lan, văn
hóa dân gian đi từ nơi này, thế hệ này đến nơi khác, thế hệ khác. Hiện tượng
truyền lan ấy được gọi là trôi.
Sở dĩ văn hóa dân gian có thuộc tính trôi vì văn hóa dân gian có mấy
đặc điểm như sau:
Phi thời gian: Văn bản, ngôn ngữ, tranh vẽ, điệu múa dân
gian…không thể phát hiện được thời điểm ra đời một cách chính xác, tuy có
thể đóan ra dấu vết. Văn hóa dân gian luôn đáp ứng được yêu cầu thẩm mĩ,
nghệ thuật hiện đại.
Phi không gian: Nhiều mô típ văn hóa dân gian có tính chất quốc tế.
Khẳng định quê hương của một hiện tượng văn hóa dân gian là việc khó
khăn, mà chỉ có thể tìm ra sắc thái địa phương (có khi là địa phương hóa) của
nó. Kể cả những hiện tượng văn hóa dân gian biết rõ xuất xứ, một khi đã
truyền lan thì không còn nguyên mẫu trọn vẹn.

gian, trò diễn (sân khấu) dân gian.
Thứ tư, Những phạm tù khác như: Phong tục dân gian, tri thức dân
gian, lễ hội dân gian.
Có thể hệ thống hóa cách phân loại, nội dung của văn hóa dân gian
theo bảng sau:
I. Cách chia của dân:
Đối chiếu với cách gọi quen thuộc
20 Văn hóa dân gian tự nó
Nói, kể……………………
Ví, vè, hát, hò (ca nhạc)…
Trò, múa (Vũ)……………
(Họa)……………………….
Văn học dân gian: tục ngữ, cổ tích, tiếu lâm.
Văn học dân gian: ca dao, dân ca, vè, nhạc.
Sân khấu dân gian: trò diễn, chèo, múa.
Mĩ thuật dân gian: tranh, tượng, điêu khắc.
II. Cách phân loại khoa học
(thành tố, phạm trù)

Thành tố: Folklore ngôn từ
(ngữ văn dân gian)
Folklore biểu diễn…………

Folklore tạo hình………….

Phạm trù: Tri thức dân gian
Phong tục dân gian

tiếp thu những ảnh hưởng của văn hóa dân gian để nhanh chóng đi sâu vào
đời sống, sinh hoạt của nhân dân. Điều này được thể hiện rõ nhất trong Phật
giáo, Phật giáo và văn hóa dân gian luôn được đặt trong mối quan hệ tổng
thể của văn hóa với tôn giáo. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chúng ngoài
những đặc trưng riêng của quan hệ tôn giáo và văn hóa Việt còn mang
những đặc điểm riêng biệt, khá phong phú và sâu sắc trên mọi bình diện của
tổng thể văn hóa người Việt.
1.2. Sự tác động của Phật giáo đến văn hóa dân gian Việt Nam
Trải suốt hơn 2000 năm từ khi du nhập, Phật giáo đã bắt rễ sâu rộng
trên mảnh đất Việt Nam, cùng với dân tộc trải qua những thăng trầm lịch sử.
Ảnh hưởng của Phật Giáo đối với dân tộc thật sâu đậm. Từ trong tư duy, tình
cảm, thể hiện ra trong ngôn ngữ và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống. Ở đây
chúng tôi muốn nói riêng đến ca dao, tục ngữ, một mảng văn học rất phong
phú vô cùng quan trọng, định hình cho văn hóa Việt Nam.
Với tư cách là một thành tố cấu thành nên văn hóa. Phật giáo có tác động
không nhỏ đếnvăn hóa dân gian.
Phật giáo là một trong những tôn giáo thế giới, là hiện tượng xã hội, là
một hình thức sinh hoạt về đức tin, về tâm linh, đồng thời, nó cũng là một

Trích đoạn Ảnh hưởng của Phật giáo đến các tích truyện dân gian Ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng, lễ hội và nghệ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status