1
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
MÔN: GIẢI PHẪU SINH LÝ VÀ THẦN KINH CẤP CAO
ĐỀ TÀI :
GIẤC NGỦ VÀ CHIÊM BAO
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
NGUYỄN THẢO NGUYÊN 1056160051
LÊ VÕ BÌNH NGUYÊN 1056160049
PHẠM QUANG TUYẾN 1056160097
2
Mỗi ngày chúng ta thường dành 1/3 thời gian của mình để ngủ. Do đây là một hành động quá
quen thuộc nên dường như chúng ta mặc nhiên coi nó là một biểu hiện sinh lý của con người,
nhưng giấc ngủ và chiêm bao rất kì diệu và đặc biệt. Biết bao nhiêu câu hỏi được đặt ra xoay
quanh chủ đề này.
Tại sao con người phải ngủ?
Ngủ có tác dụng gì đối với con người?
Điều gì diễn ra trong khi con người ngủ?
Tại sao trong khi ngủ con người lại mơ?
Liệu những giấc mơ ấy có ý nghĩa gì không?
Các nhà thần kinh học cũng như các nhà tâm lý học đã đi tìm hiểu và giải đáp những khúc mắc
đó suốt nửa sau TK XX. Sau đây là một vài hiểu biết mà nhóm chúng em góp nhặt nhỏ nhoi ít ỏi
từ những kiến thức rộng lớn.
A. GIẤC NGỦ
1. Khái niệm giấc ngủ:
Ngủ là một giai đoạn nghỉ ngơi của thể xác và trí não, giúp cơ thể phục hồi và tăng cường sức
khoẻ bị hao tổn lúc thức và lúc lao động. Trong giấc ngủ, quá trình đồng hoá chiếm ưu thế, nhờ
đó mà tăng cường thu nạp các chất vào cơ thể nói chung và vào não nói riêng. Trong giai đoạn
đó các chức năng của cơ thể được ngưng hoạt động một phần, đồng thời sự nhạy cảm với các tác
nhân kích thích bên ngoài cũng bị giảm đi nhưng vẫn dễ dàng hồi phục lại sau khi thức giấc.
Ngủ là một trạng thái ức chế mang tính chu kỳ gồm những chuỗi sóng thay đổi theo một chu kỳ
nhất định. Thời gian ngủ là thời gian mà rất nhiều hoạt động xảy ra. Trong quá trình ngủ mối
4
một giây, con người lúc này đã ngủ nhưng chưa sâu. Giai đoạn này chỉ chiếm có 5% thời
gian.
Giai đoạn thứ tư (IV), giai đoạn D, trên điện não bắt đầu xuất hiện các sóng chậm (sóng
delta) nằm xen lẫn với các thoi ngủ, đây là giai đoạn biểu hiện cho giấc ngủ sâu.
Giai đoạn thứ năm (V), giai đoạn E, ở giai đoạn này các sóng delta chiếm ưu thế trên
điện não, lúc này con người chìm vào giấc ngủ say. Hai giai đoạn này chiếm 10% thời
gian.
Năm giai đoạn trên tạo thành pha ngủ gọi là pha ngủ chậm. Nhiều tài liệu chia pha ngủ
chậm thành 4 giai đoạn là do có sự gộp lại của hai giai đoạn IV và V.
Tiếp theo giai đoạn E là giai đoạn P (P là viết tắt của từ Paradox, có nghĩa là ngược đời). Đặc
điểm của giai đoạn này là trên điện não chỉ có các sóng beta là sóng đặc trưng cho não đang hoạt
động, nên người ta gọi giai đoạn ngủ này là pha ngủ nghịch hay pha ngủ nhanh. Trong giai đoạn
này còn quan sát được ở đối tượng đang ngủ những vận động nhanh của mắt, do vậy người ta
còn gọi đây là giai đoạn ngủ có vận động nhanh của mắt ( Rapid eye movement sleep – REMS).
Ngoài ra pha ngủ này còn được gọi là ngủ hành não, vì nguyên nhân gây ra trạng thái này nằm ở
hành não và giai đoạn này chiếm 22%.
Các yếu tố ảnh hưởng tới từng giai đoạn chưa được nghiên cứu, có ý kiến cho rằng đóng vai trò
quan trọng trong quá trình này là sự biến động của hormon…
3. Chu kỳ ngủ
Dựa trên những biến đổi các sóng trên điện não đồ ghi được trong giấc ngủ từ tối tới sáng, người
ta chia giấc ngủ làm hai pha: pha ngủ chậm và pha ngủ nhanh. Các pha ngủ chậm và pha nhủ
nhanh xuất hiện xen kẽ nhau, tạo ra chu kỳ ngủ.
Trong đó pha ngủ chậm kéo dài 1h đến 1h30 phút, pha ngủ nhanh chỉ dài khoảng 15- 30 phút.
Như vậy, một chu kỳ dài khoảng 1h30 phút - 2h và trong một đêm có thể có đến 4 hoặc 5 chu kỳ
ngủ. Điều đáng chú ý là càng về sáng thời gian của pha ngủ nhanh càng kéo dài hơn so với các
pha trước đó, và người ta cũng nhận ra rằng trong pha ngủ nhanh nếu đánh thức đối tượng đang
ngủ dậy thì đa số( 90- 95%) cho biết họ đang thấy chiêm bao và có thể kể lại chi tiết về giấc mơ
họ vừa thấy.
gồm: cười, nhăn mặt, nắm bàn tay, vận động các chi (ở người), vận động râu (ở các động
vật như: mèo, chó…).
6
Biểu hiện đặc trưng trong chức năng vận động khi ngủ là giảm trương lực cơ, biên độ của lực cơ
cũng giảm, đặc biệt vào giai đoạn đầu của pha ngủ nhanh. Khi ngồi ngủ thường thấy đầu gục
xuống đó là biểu hiện của sự giảm trương lực cơ cổ.
7
4. Cơ chế hình thành giấc ngủ:
Có nhiều thuyết giải thích về cơ chế gây ra giấc ngủ, trong đó có các thuyết:
Thuyết về trung khu ngủ của Economo
Nghiên cứu não những người chết vì bị bệnh viêm não gây ngủ dật dờ, Economo nhận
thấy trong não những người này có những biến đổi về cấu trúc ở thành sau của não thất
III và trên các thành của ống Sylvius, vùng nằm giữa não trung gian và não giữa, ông gọi
vùng này là trung khu ngủ, còn vùng nằm trước nó là trung khu đảm bảo trạng thái thức
tỉnh. Thuyết trung khu ngủ của Economo về sau được chứng minh chính là một vùng của
thể lưới thân não nằm xung quanh ống Sylvius.
Thuyết về các độc tố gây ngủ của Legendre và Picrron
Hai ông cho rằng do quá trình trao đổi chất, mà trong cơ thể đã tích tụ các chất có tác
dụng gây ngủ. Chúng sẽ được đào thải qua giấc ngủ và não bộ sẽ trở lại trạng thái thức
tỉnh.
Thuyết ngủ của Pavlov
Ngủ và ức chế có điều kiện là quá trình có bản chất giống nhau. Ông cho rằng ngủ là quá
trình ức chế lan tỏa, ban đầu khuếch tán khắp vỏ não, sau đó lan đến các nhân dưới vỏ,
não trung gian và não giữa.
Nhưng nhiều công trình nghiên cứu ngày nay cho thấy tham gia vào điều hòa trạng thái thức ngủ
có nhiều cấu trúc thần kinh từ vỏ não đến hành não cũng như các yếu tố thể dịch và nhiều yếu tố
khác. Não thức tỉnh là nhờ có các luồng xung động hướng tâm từ các cơ quan cảm giác, (đặc biệt
là cơ quan cảm giác thị giác, thính giá), cũng như các luồng hưng phấn từ thể lưới truyền lên vỏ
não, duy trì trạng thái trương lực các tế bào thần kinh ở vỏ não. Ở trạng thái thức tỉnh, các vùng
ngủ khoảng 5-6 tiếng mỗi ngày.
Ngủ theo chu kỳ mùa liên quan với các phản ứng bảo vệ, nhằm hạn chế hoạt động trong
những điều kiên không thuận lợi. Có một số loại động vật thường ngủ theo mùa với 2
mùa cơ bản đó là:
9
Ngủ vào mùa đông : chuột sóc, gấu bắc cực…
Ngủ vào mùa hè : nhím, một số loại chuột, vượn sóc…
Ngủ do gây mê có thể gây ra bằng cách:
Cho thở không khí có lẫn ete hay clorofom
Các chất được đưa vào cơ thể như rượu, morphin và nhiều chất độc khác
Cách kích thích dòng điện…
10
Ngủ bệnh lý do nhiều nguyên nhân khác nhau:
Thiếu máu
Não bị chèn ép
Các khối u trong bán cầu đại não
Tổn thương các cấu trúc khác nhau ở thân não.
Ngủ bệnh lý thường kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tháng hoặc nhiều năm.
11
Ngủ thôi miên là dạng ngủ đặc biệt, ngủ nhân tạo, là trạng thái ức chế được gây ra bởi
các kích thích yếu kéo dài, đơn điệu.
6. REMS – Rapid eyes movement sleep
Giấc ngủ được chia làm 2 giai đoạn sinh lý cơ bản: giai đoạn không vận động nhãn cầu nhanh
(NREM) chiếm 75% thời gian ngủ, và giai đoạn vận động nhãn cầu nhanh (REM) chiếm 25%
thời gian ngủ. Nếu giấc ngủ chậm gần như đồng nhất với sự phục hồi của cơ thể thì REMS cần
thiết để phục hồi tâm trí. Trạng thái REM là "cái đích" cần phải đạt tới để có một giấc ngủ ngon
thực sự. Đây là một giai đoạn khá quan trọng của giấc ngủ. Nhiều nghiên cứu cho thấy những
người mất ngủ thường có xu hướng ngủ bù GĐ II và REMS vào các ngày hôm sau. Hơn nữa
thời gian ngủ.
8. Một số bệnh liên quan đến giấc ngủ :
Rối loạn giấc ngủ (sleep disorders)
a. Mất ngủ:
Ở những người này, việc đi vào giấc ngủ và duy trì nó trở nên khó khăn, làm cho thời
gian ngủ ít đi và chập chờn không sâu. Nguyên nhân đa phần liên quan đến tình trạng căng
thẳng, lo âu, trầm cảm và các bệnh rối loạn tâm thần khác, đôi khi là triệu chứng của một bệnh
thực thể.
Một số bệnh nhân mất ngủ có cảm giác tê bì, căng cứng chân tay như có dòi bò, rất khó
chịu. Các biểu hiện này tăng rõ lên vào chiều tối và trước khi đi ngủ. Mất ngủ xảy ra ít nhất 3
lần/tuần, trong thời gian ít nhất là một tháng mới có thể gọi là bệnh.
Có 3 loại mất ngủ
13
Bắt đầu - không thể ngủ được
Duy trì - thức giấc nhiều lần trong đêm và khó ngủ lại,
Kết thúc - dậy sớm vào sáng hôm sau và không ngủ lại được.
Hay nếu phân loại theo thời gian thì có 2 loại mất ngủ:
Mất ngủ cấp tính : mất ngủ có thể xảy ra đột ngột trong một vài ngày. Loại này thường do
một nguyên nhân đột xuất như bị đau nhức, gặp biến cố lớn như mất việc làm, mất người thân…
Mất ngủ mãn tính khi kéo dài nhiều ngày liên tiếp. Mất ngủ mãn tính có thể thứ phát do
các nguyên nhân cơ thể như đau nhức vì tê thấp, khó thở vì suy tim, vì bị suyễn…hoặc do
nguyên nhân tâm thần như bị trầm cảm, lo âu…
Mất ngủ thường có nguyên nhân nhưng sau khi không tìm thấy nguyên nhân ta gọi là mất
ngủ nguyên phát.
Tình trạng mất ngủ kéo dài làm bệnh nhân lo lắng, sợ hãi thậm chí trầm cảm và hậu quả
là càng mất ngủ hơn. Cách điều trị tốt là điều trị nguyên nhân, dùng thuốc để ngủ chỉ là biện
pháp cuối cùng, cần hạn chế và dùng ngắn hạn.
14
Những nguyên nhân gây mất ngủ :
thường ngắn và hay phối hợp với ngã khuỵu (mất trương lực cơ đột ngột), kèm theo đó là các ảo
giác nửa thức nửa ngủ và hiện tượng liệt khi ngủ.
16
Ngủ nhiều nguyên phát : ban đêm bệnh nhân ngủ nhiều, nhưng ban ngày lại rất buồn
ngủ và hay ngủ gật. Tuy nhiên, người bệnh vẫn có khả năng chống lại những cơn buồn ngủ này.
Tình trạng ngủ nhiều tồn tại ít nhất từ một tháng trở lên và ảnh hưởng tới sinh hoạt hằng ngày.
Hội chứng ngừng thở khi ngủ: Đây là rối loạn hiếm gặp. Biểu hiện là ngừng hô hấp
khoảng 20-40 giây trong khi ngủ. Nguyên nhân là tắc nghẽn đường lưu thông khí hoặc tổn
thương ở não (u thân não) hay là do hậu quả của bệnh thần kinh - cơ hoặc là tổn thương trung
tâm hô hấp ở hành tuỷ (ví dụ, sau tai biến mạch máu não). Hội chứng này gây giảm bão hòa oxy
và tăng nồng độ carbonic trong máu, làm bệnh nhân có nhiều lúc tỉnh giấc ngắn trong đêm. Việc
điều trị chứng bệnh này có thể dùng Theophylline, nhưng thông thường là điều trị bằng thông khí
nhân tạo.
d. Rối loạn nhịp thức ngủ là hiện tượng mất đồng bộ nhịp thức ngủ của người bệnh và
của người thường. Quá trình bệnh lý này thường gây những thời điểm tỉnh giấc bất thường trong
giấc ngủ, kèm theo những hành vi tự động, lú lẫn tâm thần và quên. Chính vì vậy mà giấc ngủ
ngắn, không sâu, bệnh nhân cảm thấy không thỏa mãn. Nguyên nhân gây bệnh thường là yếu tố
tâm lý, nhưng cũng có thể là bệnh thực thể hoặc di truyền.
e. Mộng du chính là một biểu hiện của rối loạn giấc ngủ.
Mộng du xảy ra ở giai đoạn III và IV của pha ngủ chậm. Bệnh nhân đi trong trạng thái
vắng ý thức hoàn toàn: đang ngủ tự nhiên ngồi dậy, có thể có những hoạt động phức tạp như đi,
mặc quần áo, nói, la hét, lái xe Trong khi đi, nét mặt của người bệnh đơn điệu, không đáp ứng
với lời nói của người khác, có thể tỉnh lại sau một kích thích mạnh từ bên ngoài. Các hành vi kết
thúc khi bệnh nhân thức dậy sau một vài phút rối loạn ý thức, thường gặp nhất là quay lại giường
17
ngủ tiếp. Mộng du hay xảy ra vào 1/3 đầu của thời gian ngủ trong đêm. Khi tỉnh lại, bệnh nhân
chỉ nhớ vài chi tiết đã xảy ra. Bạo lực có thể xảy ra trong mộng du ở người lớn.
Mộng du liên quan chặt chẽ với những cơn hoảng sợ về ban đêm. Đó là các cơn hoảng
loạn cực độ trong lúc ngủ sâu, kéo dài 1-10 phút, bệnh nhân la hét giãy giụa, chạy trốn…
thích đó gây ra các cảm giác tương ứng trong giấc chiêm bao.
Tính chất đặc biệt của các cảm giác phát sinh trong lúc ngủ do tác động của các
kích khác nhau, đó là tính rất nhạy cảm của các tế bào thần kinh đối với các kích
thích yếu. Do đó, khi ngủ thường xuyên xuất hiện các cảm giác đối với tác dụng
của các kích thích yếu, mà ở trạng thái thức tỉnh chúng ko thể gây được 1 cảm
giác nào. Hoặc 1 kích thích đau nhẹ phát sinh từ 1 cơ quan nội tạng nào đó có thể
gây ra 1 cảm giác đau mạnh, làm cho ta tiếp nhận được như 1 triệu chứng bệnh
19
tương ứng. Ví dụ, khi ngủ thấy bị đau tim và sau đó 1 thời gian quả nhiên tim bị
đau thật. Cảm giác có được trong lúc ngủ khi bệnh còn trong thời kì ủ bệnh là
hoàn toàn có cơ sở vật chất nhưng không phải các cảm giác đó đền trở thành 1 nội
dung của giấc chiêm bao, những nội dung đó được thay thế liên tục, đôi khi có
liên hệ nhưng đôi khi không có liên hệ với nhau.
Sự không tương ứng giữa hình ảnh xuất hiện trong giấc chiêm bao và kích thích
gây ra nó chứng tỏ rằng kích thích chỉ có khả năng làm xuất hiện các hình ảnh
phát sinh trong các nhóm tế bào não được giải phóng khỏi ức chế bằng chính kích
thích đó.
Tất cả những gì chúng ta nghe được, thấy được, biết được và suy nghĩ được đều
có in vết trong não bộ, nhưng lúc thức tỉnh các dấu vết đó đều bị ức chế do sự
xuất hiện nhiều trung khu hưng phấn mới. Trong thời gian ngủ, khi không có ảnh
hưởng của các trung khu hưng phấn mới, thì sự giải phóng các dấu vết thần kinh
và sự thể hiện của chúng trong giấc chiêm bao là công việc đặc biệt dễ dàng.
Ở người,các dấu vết còn bị ứng chế bởi tác dụng cảm ứng âm tính của hệ tín hiệu
thứ 2. Trong trạng thái tỉnh chúng ta không có được một dấu vết nào của các kích
thích xảy ra trước đó là do ở trạng thái tỉnh hệ tín hiệu thứ nhất luôn ở trạng thái
ức chế. Chỉ khi trong võ não phát triển ức chế ngủ, thôi miên, hệ tín hiệu thứ nhất
mới bắt đầu hoạt động. Do đó, trong lúc ngủ, khi ta có giấc chiêm bao, chúng ta
thấy các đối tượng giống như chúng ta đã thấy trong lúc tỉnh. Trong lúc ngủ các
dấu vết đó đã đạt đến mức độ có thể gây ra cảm giác trực tiếp.
từ nơi sâu thẳm trong cuộc đời…Đây là những tác động do các nhà tâm lý học
nghiên cứu và nó chuyên sâu vào các khái niệm như tự ngã, bản ngã hay
anima/animus ở đây nhóm em xin phép không trình bày.
IV.Các nguyên nhân ảnh hưởng đến chiêm bao:
Mặc dù chiêm bao là 1 hiện tượng liên quan đến ức chế có điều kiện hay 1 sản phẩm phụ
ngẫu nhiên của hoạt động não thì thì các yếu tố tâm lí vẫn ảnh hưởng đến nó:
-Tinh thần lo lắng. Ví dụ như khi ta sắp phải tham dự một kì thi quan trọng, ta hay
mơ các chiêm bao liên quan đến bài thi.
-Phản ứng của cơ thể
22
-Hoạt động của não
V. Ý nghĩa của những giấc chiêm bao
Các nhà tâm lý học mà tiên phong trong lĩnh vực này là Sigmund Freud tin rằng
giấc chiêm bao mang tính biểu tượng và là cửa sổ cho ký ức vô thức của chúng ta. Giấc
chiêm bao phản ánh đặc điểm tính cách của mỗi cá nhân cũng như hoàn cảnh của cá nhân
đó trong cuộc sống hàng ngày. Thông qua giấc mơ, một người có thể cảm thấy bất an,
hoang tưởng, yêu thương, thù hận, sợ hãi, hay những cảm giác khác biểu lộ trạng thái
tinh thần của người đó.
Các nhà tâm lý học chuyên về khoa học của giấc ngủ đã đưa ra những giải thích
chung cho những giấc mơ cụ thể. Sau đây là một số lời giải thích cho một vài giấc mơ:
Ban công
Bạn mơ thấy mình đang đứng trên ban công.
Ý nghĩa: Nói lên mong muốn của bạn được nhìn ngắm thế giới và được
mọi người chú ý bạn là ai. Nó cũng có nghĩa là bổng lộc hay lợi ích trong tương
lai của bạn.
Bị rượt đuổi
23
Trong giấc mơ, bạn bị các nhân vật ghê tởm rượt đuổi. Bạn trốn chạy và
cố đánh lừa kẻ muốn làm tổn thương bạn.
Ý nghĩa: Nếu bạn không sợ ngã, bạn sẽ vượt qua khó khăn. Nếu bạn sợ có
nghĩa là bạn cảm thấy không kiểm soát được mình và sợ thất bại.
Đánh nhau
Bạn mơ thấy mình đánh nhau với ai đó. Thậm chí đánh đến chết.
Ý nghĩa: Nó ám chỉ rằng bạn đang trải qua những rối loạn tinh thần. Với ý
tưởng bạn đang ganh đua để được chú ý. Nếu bạn đánh nhau cho đến chết, có
nghĩa là bạn không sẵn sàng thừa nhận mâu thuẫn trong cuộc sống biến động của
mình.
Đang bay
Giấc mơ phổ biến khác nữa là thấy mình đang bay, lững lờ qua những
đám mây hoặc bay vút trong không trung như một con chim.
25
Ý nghĩa: Bạn đang cảm thấy tự do vì bạn đang hoàn toàn kiểm soát được
mình. Đầy sinh lực, bạn sẽ thành công trong công việc.
Hôn
Trong cử chỉ lãng mạn này, bạn thấy mình đang hôn một người phụ nữ
đẹp. Thậm chí hôn một người bạn ghét.
Ý nghĩa: Nói chung, nụ hôn liên quan đến tình yêu, bình yên và hoà hợp.
Nếu bạn hôn người bạn thân, có nghĩa là bạn rất quan tâm đến họ. Hôn một kẻ thù
có thể ám chỉ sự phản bội và thù địch. Hôn người lạ nghĩa là bạn cần hiểu bản
thân mình hơn nữa.
Tiền bạc