Giáo trình MD02-Trồng Sơn ta nghề trồng cây lấy nhựa - Pdf 28

0
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN
TRỒNG CÂY SƠN TA
MÃ SỐ MÔ ĐUN: 02
NGHỀ TRỒNG CÂY LẤY NHỰA:
SƠN TA, THÔNG, TRÔM
Trình độ: Sơ cấp nghề Hà Nội, 2014
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Tài liêu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được
phép dùng nguyên bản hoặc trích dẫn dùng cho các mục đích về đào tạo và tham
khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.

MÃ TÀI LIỆU: MĐ 02
2
LỜI GIỚI THIỆU

Cây Sơn là một cây lấy nhựa quý và độc đáo ở Việt Nam, loài cây này có
tiềm năng, triển vọng và có giá trị và hiệu quả cao so với các loại cây trồng dài
ngày trên đất vùng đồi, đặc biệt là đất đồi thấp, có độ dốc vừa phải. Đối với người
dân trồng cây Sơn thì nhựa sơn là nguồn thu nhập chính. Cây Sơn được xem là
cây xóa đói giảm nghèo, giúp cho nông dân vươn lên làm giàu ngay trên mảnh đất
quê hương. Trồng cây Sơn vừa có tác động thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa góp


ĐỀ MỤC TRANG
Giới thiệu mô đun 7
Bài 1: Giới thiệu chung về Sơn ta 8
A. Nội dung 8
1. Đặc điểm cây Sơn ta 8
1.1. Hình thái 8
1.1.1. Thân và cành 8
1.1.2. Chồi sơn 8
1.1.3. Vỏ cây 9
1.1.4. Lá sơn 9
1.1.5. Rễ sơn 10
1.1.6. Hoa sơn 10
1.1.7. Quả sơn 10
1.2. Sinh thái 11
2. Công dụng 13
2.1 Nhựa sơn 13
2.2 Gỗ sơn 13
2.3 Quả sơn 13
3. Điều kiện gây trồng 14
3.1. Điều kiện khí hậu, địa hình 14
3.1.1. Nhiệt độ 14
3.3.2. Gió 14
3.3.3. Ánh sáng 14
3.3.4. Độ ẩm và lượng mưa 15
3.2. Điều kiện đất đai thực bì 15
3.2.1. Đất đai 15
3.2.2. Thực bì 15
B. Câu hỏi và bài tập thực hành 15
C. Ghi nhớ 16

3.1. Tạo bầu gieo ươm 38
3.1.1. Chuẩn bị đất đóng bầu 38
3.1.2. Đóng bầu 40
3.2. Gieo hạt 43
3.2.1. Xử lý hạt 43
3.2.2. Gieo hạt vào bầu 45
4. Chăm sóc cây con ở vườn ươm 47
4.1. Tưới nước 47
4.2. Làm cỏ, phá váng 48
4.3. Che phủ 49
4.3.1. Che nắng 49
4.3.2. Che mưa chống rét 49
4.4. Bón phân 50
4.5. Đảo bầu và điều tra phân loại cây 51
4.5.1. Đảo bầu 51
4.5.2. Điều tra phân loại cây con 51
5. Phòng trừ sâu bệnh hại 52
5.1 Một số loài sâu hại và biện pháp phòng trừ 52
5.1.1. Một số loại sâu hại thường gặp ở vườn ươm 52
5.1.2. Biện pháp phòng trừ sâu hại 54
5.2. Một số loại bệnh hại thường gặp và biện pháp phòng, trừ 55
5.2.1. Bệnh lở cổ rễ 55
5.2.2. Bệnh nấm phấn trắng (mốc sương) 56
5.3. Một số chú ý khi phòng trừ sâu bệnh hại 57
5.3.1. Thuốc hóa học 57
5.3.2. Phương pháp pha chế thuốc Booc đô phòng trừ bệnh 57
5
5.3.3. Biện pháp sinh học 58
6. Hãm cây 59
6.1. Mục đích hãm cây 59

1.3. Chăm sóc rừng Sơn ta 76
1.3.1. Phát dọn thực bì 77
1.3.2. Xới đất, vun gốc 77
1.3.3. Bón thúc 78
1.4. Bấm ngọn, tỉa cành 80
2. Bảo vệ rừng Sơn ta 82
2.1. Phòng và chữa cháy rừng 82
2.1.1. Các biện pháp phòng cháy rừng 82
2.1.2. Các biện pháp chữa cháy rừng 83
2.2. Phòng, trừ sâu bệnh hại 85
6
2.2.1. Bệnh hại và biện pháp phòng, trừ 85
2.2.2. Sâu hại và biện pháp phòng, trừ 85
2.3. Ngăn chặn người và gia súc phá hoại 89
B. Câu hỏi và bài tập thực hành 90
1. Câu hỏi 90
2. Bài tập thực hành 90
C. Ghi nhớ 90
Bài 5: Khai thác, bảo quản nhựa Sơn ta 92
A.Nội dung 92
1. Khai thác nhựa Sơn ta 92
1.1. Chuẩn bị dụng cụ khai thác 92
1.2. Thu hoạch nhựa sơn 94
1.2.2. Một số yêu cầu khi thu hoạch sơn. 94
1.2.3. Thời vụ cắt 94
1.2.4. Tuổi thu hoạch 95
1.2.5. Thời điểm thu hoạch 95
1.2.6. Khoảng cách giữa hai lần thu hoạch 96
1.2.7. Kỹ thuật thu hoạch nhựa Sơn 96
2. Bảo quản sơn 98
8
Bài 1: Giới thiệu chung về Sơn ta
MĐ 02-01

Mục tiêu:
- Trình bày được đặc điểm, công dụng và điều kiện gây trồng Sơn ta.
- Lựa chọn được điều kiện thích hợp gây trồng Sơn ta.
A. Nội dung
1. Đặc điểm cây Sơn ta
1.1. Hình thái
1.1.1. Thân và cành
Cây sơn thuộc nhóm cây gỗ nhỏ, mọc tự nhiên cao từ 5- 8m, dạng thân tròn,
thẳng đứng, mặt cắt ngang của cây tròn không đều, dưới gốc to (đường kính 6 -
9cm), chu vi 20 - 28cm, lên cao nhỏ dần. Thân phân nhánh liên tục, thành một hệ
thống cành và chồi, vòm lá đều, thưa, hình tán. Cành ngang phân bố không đều
trên thân, kiểu phân cành một trụ nhiều tầng.

- Cây sơn có tán rộng, dày vỏ, vỏ màu hồng, mềm, xù xì là sơn tốt. Tán nhỏ,
thân nhỏ, da mỏng, vỏ xanh, cứng, nhăn là sơn xấu.
- Cây sơn 4 năm tuổi chiều dày vỏ 2,5- 2,8mm, Cây sơn 5 năm tuổi đến 8
năm tuổi, vỏ cây dầy hơn (từ 4,5 - 6mm)
1.1.4. Lá sơn
Phát triển từ chồi dinh dưỡng, mọc cách nhau theo chỉ số 2/5, lá nguyên,
phiến phẳng, gốc nhọn, chóp nhọn. Thuộc loại lá chét lông chim lẻ, ít khi chẵn.
Mỗi lá thường có từ 5- 8 đôi lá chét mọc đối nhau, có cuống riêng đính vào cuống
chung. Lá chét hình mũi mác, chiều dài 18 - 20cm, chiều ngang 3 - 5cm, có dạng
thuôn dài, đuôi lá nhọn lá sơn có 15- 30 đôi gân đối xứng, phiến lá xanh nhạt là
sơn lá trám, xanh thẫm là sơn lá si. Cây có lá đỏ thường vỏ mềm, nhựa tốt có
nhiều mặt dầu, cây có lá đỏ tía thường có vỏ cứng, ít nhựa hoặc không có nhựa
còn gọi là “Sơn dọm”, cây có lá màu xanh thường là sơn trắng, nhiều nhựa, ít mặt
dầu.

Hình 2.1.2: Lá Sơn
10
1.1.5. Rễ sơn
Thuộc loại rễ chùm, gồm: rễ chính ăn sâu 1m, rễ bên nhiều đan chằng chịt ở
lớp đất mặt, tập trung từ 5- 40cm cách mặt đất. Rễ tơ hồng hay còn gọi là rễ
“Thuốc lào” có màu đỏ, phát triển nông sát mặt đất, rễ non phát triển mạnh khi
được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và độ ẩm đất cao.
1.1.6. Hoa sơn
Hoa sơn ra rộ vào tháng 3, nở vào tháng 4 hàng năm, dạng hoa nhỏ, lưỡng
tính, cánh hoa xếp vòng mẫu 5 có 5 đài, 5 tràng, 5 nhị đực và bộ nhị cái gồm 3 lá
noãn hợp. Hoa mọc thành chùm kép, có 5 nhánh bên, mỗi nhánh có khoảng 10
chùm hoa.

Hình 2.1.3: Hoa Sơn
1.1.7. Quả sơn

Cây sinh trưởng phát triển khá nhanh, cây 28 - 30 tháng tuổi đã đạt chiều
cao khoảng 2 m, bắt đầu ra hoa, kết quả và cho thu hoạch nhựa.
Mùa ra hoa tháng 3 - 4, mùa quả tháng 8 - 9; khi cây ra hoa, mang quả
thường ít nhựa, hoa càng nhiều thì nhựa càng ít.
Bộ rễ sơn thường ăn nông nên cây thường bị đổ do có gió to hoặc bão, vì
vậy khi trồng đặt bầu thấp hơn mặt đất và chăm sóc, vun gốc thường xuyên cho
cây.
13
2. Công dụng
2.1 Nhựa sơn
Sản phẩm chính của cây sơn là nhựa, là nguyên liệu rất thân thiện, gần gũi,
gắn bó với con người từ ngàn đời nay. Nhựa sơn được sử dụng để:
- Sơn phủ bề mặt: nhựa sơn được sử dụng làm màng phủ bề mặt cho các vật
liệu từ gỗ, cho các đồ dùng từ cây tre, đồ bằng đất nung, thủy tinh, kim loại, đồ
bằng da, giấy; giúp cho vật liệu được phủ bóng, bền, đẹp.
- Sơn gắn: được sử dụng để gắn tàu, thuyền, làm kín các khe hở, gắn các
khớp nối cho các đồ dùng gia dụng làm từ vật liệu gỗ, tre, nứa,
- Sơn mài mỹ nghệ: có nhiều loại sản phẩm nghệ thuật như tranh sơn mài,
hộp, lọ, bình đến các đồ ăn và mặc với nhiều kiểu dáng và mẫu mã đa dạng.
- Sơn làm keo dán: cho bụi vàng, cho lá vàng, sử dụng huyền phù kim loại
quí như vàng và bạc.
- Sơn son thiếp vàng những độ thờ cúng, tế lễ, phục tráng cung đình, đền,
chùa, miếu thờ.
Trong kỹ nghệ, nhựa sơn thường được sử dụng chung với các vật liệu khác
như: gỗ, tre, gốm, sứ, sắt, đồng, vỏ con trai, vỏ con ốc, vải để tạo ra những sản
phẩm có giá trị cao, đặc sắc trong gia công chế biến nhằm sản xuất ra những mặt
hàng đa dạng.
2.2 Gỗ sơn
Gỗ sơn là sản phẩm phụ của cây sơn, sau khi đã kết thúc thời kỳ kinh
doanh, thông qua kỹ thuật chế biến, ép xấy thích hợp đã nâng cao giá trị sử dụng

C, ẩm độ thấp sơn rụng hết lá gọi là “Sát lá- sát lộc”.
Mùa đông, nhiệt độ thấp sơn không tiết nhựa hoặc tiết nhựa ít cho nên phải
giảm số lần thu hoạch sơn; mùa hè sơn tiết nhựa nhiều, có thể thu hoạch được
nhiều lần hơn mùa đông.
Nhìn chung, điều kiện nhiệt độ tiểu vùng trung du có nền nhiệt phù hợp cho
sự sinh trưởng cũng như yêu cầu về nhiệt độ đối với cây sơn.
3.3.2. Gió
Cây sơn trồng trên sườn đồi, chịu ảnh hưởng nhiều của gió, bão. cây cao
đến 3 - 4m, tán lá lớn, rễ lại ăn nông, những cơn bão hoặc tố lốc làm cho cây sơn
bị vặn theo chiều gió, dễ bị “Long gốc”, thậm chí có thể bộc gốc, trên thân cây có
nhiều chỗ nứt vỏ “Vỡ bầu” nhất là ở nách cành, nhựa sơn tiết ra liên tục làm cây
sơn bị kiệt sức. Ở huyện Phù Ninh, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, đã có những
nương sơn bị gió bão, đổ rạp cả nương sơn.
Vậy, để hạn chế tình trạng nứt vỏ trên thân cây sơn và bộc gốc khi gặp gió,
bão, cần nghiên cứu kỹ thuật tỉa cành, tạo tán hợp lý ở thời kỳ kiến thiết cơ bản để
cây có bộ khung tán cân đối, đồng thời xác định mật độ trồng hợp lý cùng với
trồng đai rừng chắn gió cho nương sơn.
3.3.3. Ánh sáng
Ánh sáng ảnh hưởng rõ rệt đến sản lượng và chất lượng nhựa sơn. Nhựa sơn
thu hoạch ngày mưa hoặc những hôm trời nhiều mây ánh sáng yếu, lượng nhựa
thu được nhiều, nhưng chất lượng kém, nhựa sơn có tỷ lệ nước cao nhựa có màu
trắng hay còn gọi là “Sơn bầu giác”, dễ bị chua. Thu hoạch nhựa sơn trong những
ngày ánh sáng mạnh, lượng nhựa thu được ít, nhưng chất lượng tốt, nhựa có màu
đỏ.
Ánh sáng mạnh làm nhựa sơn bị đóng thành màng cứng, khi mặt trời mọc
nhựa sơn không tiết ra nữa gọi là “Sơn tắt ngòi”, nên chi phối đến thời gian thu
hoạch nhựa theo từng mùa. Mùa hè thu hoạch sớm, khi nắng to là phải thu sơn
“Trút sơn”. Mùa thu trời mát có thể thu hoạch nhựa muộn và thu sơn cũng muộn
hơn, về mùa đông có thể thu hoạch muộn hơn nữa.
15

lượng nhựa cũng thu được cao gấp 1,5 lần so với đất trồng khác, những nơi đất có
mọc nhiều cỏ tranh, cỏ tế, đất màu đỏ, xốp, nhiều mùn, đào sâu xuống 1m chưa bị
đá ong hóa là trồng sơn tốt nhất, nhìn chung những nơi trồng được chè đều trồng
được sơn.
3.2.2. Thực bì
Yêu cầu thực bì: trảng cỏ, cây bụi đang phục hồi, rừng thưa, rừng tự nhiên
nghèo kiệt, vườn đồi
B. Câu hỏi
Câu hỏi 1: Công dụng của cây sơn ta?
16
Câu hỏi 2: Điều kiện sinh thái để gây trồng Sơn ta
C. Ghi nhớ
* Điều kiện gây trồng Sơn ta
- Cây Sơn có biên độ sinh thái rộng, mọc dưới độ cao 1500 m.
- Cây ưa khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình khoảng 20 - 30
0
C là thích
hợp nhất, tuy nhiên cây sơn cũng có thể chịu được nhiệt độ nóng tới 38 - 39
0
C,
lạnh tới 4 - 5
0
C.
- Sơn là cây ưa sáng, nhưng khai thác nhựa sơn tránh ánh sáng mạnh
- Sơn ưa đất chua giàu dinh dưỡng
- Yêu cầu thực bì: trảng cỏ, cây bụi đang phục hồi, rừng thưa, rừng tự nhiên
nghèo kiệt, vườn đồi
17
Bài 2: Sản xuất cây con Sơn ta
MĐ 02-02

trồng rừng của các lâm trường áp dụng phương pháp giâm hom, nuôi cấy mô, ươm
cây trong bầu dện tích khoảng 500-5000 m
2
hoặc công suất từ 500.000- 1.000.000
cây/năm sản xuất cây con phục vụ kế hoạch trồng rừng của các lâm trường. Áp
dụng các phương pháp gieo ươm hạt, giâm hom, nuôi cấy mô diện tích khoảng
500-5000m
2
sản xuất cây con phục vụ trồng rừng.
* Vườn ươm nhỏ
Vườn ươm nhỏ có tính chất thời vụ, diện tích khoảng 50-500 m
2
hoặc công
suất dưới 500.000 cây/năm ở các hộ gia đình, sản xuất cây con có bầu và rễ trần
phục vụ yêu cầu trồng rừng cụ thể.
1.1.2. Căn cứ theo nguồn vật liệu giống
* Vườn ươm hữu tính
Vườn ươm hữu tính là vườn ươm tạo cây con từ hạt giống
* Vườn ươm vô tính
Vườn ươm vô tính là vườn ươm tạo cây con bằng biện pháp giâm hom, nuôi
cấy mô, chiết ghép… từ các vật liệu giống vô tính
1.1.3. Căn cứ vào thời gian sử dụng
* Vườn ươm cố định
- Vườn ươm cố định là vườn ươm có thời gian sử dụng lâu dài, thực hiện cả
hai nhiệm vụ cơ bản của vườn ươm là chọn lọc, bồi dưỡng giống tốt và nhân
nhanh, cung cấp số lượng nhiều có chất lượng cao cho sản xuất. Sản xuất cây con
trong thời gian dài, cung cấp cho nhiều nơi.
- Ưu điểm
+ Sản lượng lớn, ổn định
+ Biện pháp kỹ thuật tập trung → hạ được giá thành cây con Hình 2.2.2: Vườn ươm nền cứng
* Vườn ươm nền cứng (nền không thấm nước)
Đây là loại vườn ươm cố định. Nền luống xây dựng hoặc láng xi măng,
hoặc trải bạt, nilon. Hệ thống tưới nước tự động, cây con tạo từ hạt hoặc từ hom
ươm trong bầu. Loại vườn ươm này chi phí đầu tư lớn, chỉ áp dụng cơ sở lớn có
điều kiện đầu tư.
20
Ưu điểm:
- Tạo được cây con đồng đều ít sâu bệnh
- Chủ động nước tưới, hạn chế xói mòn và rửa trôi
- Hạn chế cỏ dại
Nhược điểm:
- Đầu tư tốn kém
- Sản xuất cố định không di chuyển được

1.2.3. Nguồn nước
Yêu cầu nguồn cung cấp đủ nước tưới cho cả các tháng trong năm, đảm nảo
yêu cầu về chất lượng. Nước tưới không được nhiễm phèn, mặn, các chấ thải công
nghiệp hoặc các hóa chất bảo vệ thực vật quá ngưỡng cho phép
1.2.4. Điều kiện kinh doanh
- Vị trí vườn ươm: Vườn ươm xây dựng ở trung tâm khu rừng để tiện cho
việc vận chuyển và cây con dễ thích nghi với điều kiện hoàn cảnh. Nên xây dựng
ở gần khu dân cư, thuận tiện giao thông, thuận lợi sinh hoạt, mua sắm vật tư và sử
dụng được nhân lực tại chỗ để tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Vườn ươm phải có vị trí đặt thuận lợi về giao thông, bằng phẳng, không bị
úng nước, cách nơi tiêu thụ cây giống trong phạm vi bán kính 100km là tốt nhất
đối với vườn ươm cố định, < 50km đối với vườn ươm tạm thời (đối với vườn ươm
tạm thời càng gần càng tốt)
- Hình dạng: Hình chữ nhật hoặc vuông để dễ quy hoạch và sử dụng cơ giới.
- Diện tích vườn ươm đủ lớn đảm bảo được số lượng cây con cần gieo ươm,
tránh nơi có nhiều mầm mống sâu bệnh hại.
- Nguồn cung cấp điện: Trong quá trình sản xuất cây giống cần dùng đến
điện để chạy một số loại máy móc như máy bơm, điện thắp sang do đó địa điểm
đặt vườn ươm phải có nguồn cung cấp điện.
Bảng 2.1.1: Tiêu chuẩn điều kiện vườn ươm
CHỈ TIÊU
THÍCH HỢP
CHẤP NHẬN ĐƯỢC
ĐỐI TƯỢNG
ÁP DỤNG
1. Nguồn
nước
Cách vườn < 20m, đủ
tưới mùa khô
Cách vườn <50m, đào

tư xây dựng đường
Cách trục giao thông <
100m, xe tải 2,5 tấn có
thể vào vườn, phải đầu
tư ít để sửa đường
Vườn ươm lớn,
trung bình.
5. Độ thoát
nước
Sau cơn mưa nước tiêu
thoát ngay
Sau cơn mưa nước úng
không quá 3-4 giờ/ngày
Tất cả các loại
vườn ươm
6. Độ dày
tầng đất mặt
> 50cm
>30m
Vườn giống lấy
hom
Khu luân canh
7. Thành
phần
Thịt trung bình
Thịt nhẹ đến sét nhẹ
Vườn giống lấy
hom
Khu luân canh
8. Mầm

+ Vườn ươm lớn: diện tích đất phục vụ sản xuất: 30% diện tích đất sản xuất.
- Ngoài ra khi quy hoạch mặt bằng vườn ươm cần chú ý các vấn đề:
+ Khu vực dành cho gieo ươm cây mạ chiếm khoảng 10% diện tích toàn
vườn ươm
+ Khu vực dành cho cấy cây, huấn luyện cây con chiếm ≥ 70% diện tích
vườn ươm
+ Đường đi, hàng rào và cổng chiếm 1-3% diện tích vườn ươm
+ Nhà để phân, đóng bầu, kho chứa và văn phòng làm việc chiếm 10%
vườn ươm
+ Nguồn nước tưới, hệ thống tưới
- Diện tích đất liên canh tính theo công thức sau:
P =
n
N
A
- Diện tích luân canh:
P =
n
NxA
x
c
B

Trong đó:
P: là diện tích đất sản xuất cho 1 loại cây (m
2
; ha)
N: số cây con phải sản xuất hàng năm (cây)
n: sản lượng cây con hợp lý∕ 1 đơn vị diện tích
A: số năm nuôi cây ươm

cao 15-20cm và trát vữa xi măng cẩn thận. Tùy theo địa hình cụ thể của nơi đặt
vườn ươm mà xây luống dài ngắn khác nhau. Một luống bình thường có kích
thước 10m dài x 1 mét rộng có thể xếp được 1.300 bầu cây với đường kính bầu
13cm. Luống cây nên xây thành từng cụm 4-5 luống, các cụm cách nhau 1,5m và
giữa các luống các nhau khoảng 50cm là phù hợp trong quá trình sản xuất cây con.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status