Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Cơ cấu kinh tế của một quốc gia không những thể hiện đặc điểm của nền kinh tế đó
mà còn thể hiện trình độ phát triển của nền kinh tế. Một cơ cấu kinh tế hiện đại báo hiệu
quốc gia đó có trình độ phát triển kinh tế cao. Hiện nay xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế
chung trên toàn thế giới là tăng dần tỷ trọng của công nghiệp dịch vụ và giảm dần tỷ trọng
của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên ở một số quốc gia có nền kinh tế phát triển cao, quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra theo hướng tăng dần tỷ trọng của các ngành sản
xuất phi vật chất và giảm dần tỷ trọng của các ngành sản xuất vật chất. Qua nghiên cứu
chúng tôi nhận thấy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc từ 1962 đến nay
cũng tuân theo những xu hướng trên. Chính vì thế chúng tôi đã chọn đề tài “Phân tích quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Hàn Quốc từ 1962 đến nay-Nguyên nhân và những bài
học kinh nghiệm”. Đề tài của chúng tôi bao gồm 3 phần. Phần thứ nhất, chúng tôi cung cấp
một số thông tin về các thành tựu kinh tế của Hàn Quốc trong những năm gần đây trong đó
có đề cập đến tính hiện đại trong cơ cấu kinh tế hiện nay của Hàn Quốc. Phần thứ hai
chúng tôi tiến hành phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc từ 1962
đến nay. Chúng tôi chia quá trình này ra làm 3 giai đoạn : 1962-1979, 1980-1989, 1990-
2005. Cơ sở của sự phân chia này chủ yếu dựa trên nhừng thay đổi về tỷ phần ngành công
nghiệp. Giai đoạn 1962- 1979: quá trình công nghiệp hoá trong giai đoạn đầu dẫn tới sự gia
tăng về tỷ trọng của ngành công nghiệp. Giai đoạn 1980-1989: sự gia tăng của tỷ trọng
ngành công nghiệp gắn với sự phát triển của các ngành công nghiệp có hàm lượng kĩ thuật
cao. Giai đoạn 1990-2005: Sự giai tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, ngành công nghiệp có xu
thế giảm dần tỷ trọng. Trong mỗi giai đoạn này việc dẫn ra các số liệu biểu diễn quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chúng tôi còn chỉ ra tình trạng kinh tế của hàn Quốc trong giai
đoạn đó để cho thấy sự thay đổi về cơ cấu kinh tế cũng phản ánh phần nào sự thay đổi bộ
mặt kinh tế quốc gia. Ngoài ra, chúng tôi cũng nêu lên một số chính sách của chính phủ
Hàn Quốc giúp đẩy mạnh quá trình chuyển dịch đó. Ở phần 3, chúng tôi phân tích những
nguyên nhân thành công trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc trong đó
nhấn mạnh vai trò tác động tích cực của Chính phủ từ đó nêu ra một số bài học kinh
nghiệm chúng ta cần học hỏi ở Hàn Quốc để áp dụng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong nước.
lợn, 102 triệu con gà. Sản lượng cao nhưng lượng các trang trại chăn nuôi lại giảm. Nếu
năm 1980 cả nước có hơn 2 triệu trang trại thì đến năm 2001 chỉ còn khoảng 469 000 trang
trại. Điều này cho thấy các trang trại chăn nuôi ở Hàn Quốc hiện nay được đầu tư với quy
mô lớn, hiện đại, cho năng suất cao. Còn đối với ngành lâm nghiệp, Hàn Quốc là nước
nhập khẩu gỗ. Nguồn gỗ tự cấp trong nước chỉ chiếm 6%. Năm 2001, Hàn Quốc nhập tổng
cộng 7,1 triệu m3 gỗ với giá trị vào khoảng 1,7 tỷ USD. Tuy nhiên, các sản phẩm lâm sản
khác như nấm thông, hạt dẻ lại có sản lượng cao và dùng để xuất khẩu. Năm 2001, kim
ngạch xuất khẩu lâm sản đạt 210 triệu USD.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Về công nghiệp, đây là lĩnh vực quan trọng duy trì sự phát triển của nền kinh tế
Hàn Quốc. Các ngành công nghiệp nổi bật của Hàn Quốc là : đóng tàu, sản xuất chất bán
dẫn, ô tô, hàng điện tử. Hàn Quốc là quốc gia đóng tàu lớn nhất thế giới, chiếm 40% đơn
đặt hàng của cả thế giới..Chiếm khoảng 11% thị phần toàn cầu, ngành sản xuất chất bán
dẫn của Hàn Quốc là một ngành công nghiệp mũi nhọn đặc biệt là khi nói tới bộ nhớ động
và chíp hệ thống (SOC) .Năm 2002, xuất khẩu thanh DRAM (bộ nhớ truy xuất động) đạt
giá trị 16,6 tỷ USD, tăng 16% so với năm 2001. Đến năm 2004, thanh DRAM của Hàn
Quốc đứng thứ nhất trên thế giới với thị phần 47.1%. Hàn Quốc là nhà sản xuất ô tô lớn
thứ 6 thế giới, sản xuất trên ba triệu xe hàng năm. Kể từ khi Hàn Quốc lần đầu tiên xuất
khẩu xe năm 1976, ngành công nghiệp ô tô của nước này đã phát triển với tốc độ kinh
ngạc. Trên đà uy tín của ôtô Hàn Quốc ngày càng tăng cao trên thế giới, các công ty ôtô
Hàn Quốc hàng đầu đã bắt đầu mở rộng cơ sở sản xuất ra nước ngoài. Trên lĩnh vực sản
xuất hàng điện tử, Hàn Quốc cũng thu được những thành công lớn. Từ năm 1996 tới năm
1999, sản lượng và giá trị xuất khẩu hàng điện tử tăng trưởng hàng năm 15,9% và 15,5%.
Năm 1999, sản xuất máy tính và thiết bị ngoại vi đạt giá trị 12,3 tỷ USD , xuất khẩu đạt 7,2
tỷ USD; sản xuất hàng điện tử lâu bền đạt giá trị 17,6 tỷ USD, xuất khẩu đạt 10,7 tỷ USD.
Hàn Quốc đứng thứ tư thế giới về sản xuất hàng điện tử.
Về dịch vụ, đây đang là lĩnh vực phát triển mạnh mẽ ở Hàn Quốc với tỷ trọng ngày
càng tăng.Năm 2001, tỷ trọng của khu vực dịch vụ đã là 54,1 % là khu vực có tỷ trọng lớn
nhất. Trong năm 2005, giá trị thương mại Hàn Quốc đạt tới 545 tỷ đôla, đứng 12 trên thế
giới.Chi tiêu nội địa tăng mạnh từ 50% GDP năm 1987 lên mức 58% năm 2000. Với hơn 1
Sơ đồ 1 : Cơ cấu kinh tế Hàn Quốc
1965 1970 1980
ghi chú
: Dịch vụ : Công nghiệp : Nông nghiệp
Qua 3 biểu đồ trên ta thấy: ngành dịch vụ là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 3 ngành,
tuy nhiên tỷ trọng của ngành này biến đổi qua các năm không theo một xu hướng. Trong
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khi đó một ngành khác có tỷ trọng cao vào những năm 60 là nông nghiệp thì có tỷ trọng
ngày càng giảm. Ngành công nghiệp trong giai đoạn từ 1965-1970 có tỷ trọng thấp hơn
ngành nông nghiệp và là ngành có tỷ trọng nhỏ nhất tuy nhiên có xu hướng gia tăng và đến
năm 1980 đã trở thành ngành có tỷ trọng cao thứ nhì và có tỷ trọng cao hơn hẳn ngành
nông nghiệp. Qua biểu đồ, ta cũng nhận thấy sự thay đổi cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ
nhất trong những năm từ 1970 đến 1980. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
(được hiểu như sự to ra của “chiếc bánh”) ta có thể suy ra được tốc độ tăng trưởng mạnh
mẽ của ngành công nghiệp và giá trị ngày càng lớn của nó.
Thời kỳ này, các sản phẩm công nghiệp chủ yếu là các sản phẩm có hàm lượng kĩ thuật
thấp. Các ngành được ưu tiên phát triển là: điện năng, phân bón, sợi tổng hợp, sợi nylon,
lọc dầu, gỗ dán, thiết bị điện (trong giai đoạn 1962-1971) và công nghiệp nặng, hoá chất
(trong giai đoạn 1972-1979). Chính vì thế, thời kỳ này chứng kiến sự tăng lên nhanh chóng
của tỷ trọng ngành công nghiệp nặng và hoá chất trong giá trị toàn ngành công nghiệp từ
24,8% năm 1971 lên 48,1 % năm 1981.Trong khi đó, công nghiệp khai thác giảm từ 34,8%
năm 1966 xuống 23,5% năm 1976.
Đây là giai đoạn kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng cao.GNP từ chỗ chỉ có 2,3 tỷ USD
năm 1962 tăng lên thành 62,37 tỷ USD năm 1979.GNP bình quân đầu người tăng từ 87
USD lên 1662 USD. Loại trừ sự tăng lên của giá cả thì tốc độ tăng GNP thực tế trong thời
kì 1962-1971 là 8,7 % /năm và 8,9% /năm trong thời kì 1972-1979. W. W.Rostow , một
cựu cố vấn kinh tế của tổng thống Kenedy và Johnson đã dự báo đây là thời kỳ Hàn Quốc
bước vào “giai đoạn cất cánh”. Ông dự tính giai đoạn cất cánh của kinh tế Hàn Quốc sẽ
hoàn thành trong 7 năm (1961-1968). Ông cũng dự đoán sự “chín muồi về kĩ thuật” sẽ
chuyển sang ngày càng tăng. Điều này giải thích sự giảm nhanh tỷ trọng nông nghiệp cũng
như giải thích sự thiếu hụt lao động xảy ra đầu tiên ở khu vực nông thôn. Nhưng quá trình
phát triển mạnh mẽ của công nghiệp mà giai đoạn này chủ yếu là những ngành sử dụng
nhiều lao động thì cung về lao động không thể đáp ứng kịp, do đó dến năm 1977 thì thiếu
hụt lao dộng diễn ra trên quy mô toàn quốc. Đây cũng chính là một phần nguyên nhân mà
ở giai đoạn sau công nghiệp Hàn Quốc hướng vào những ngành có hàm lượng kĩ thuật cao
không cần nhiều lao động giản đơn mà thiên về lao động công nghệ cao.
Nguyên nhân của sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cũng như sự biến đổi sâu
sắc trong cơ cấu kinh tế Hàn Quốc là do chính phủ nước này đã áp dụng nhiều chính sách
khuyến khích và đẩy mạnh công nghiệp hoá cụ thể là công nghiệp hoá theo hướng ra xuất
khẩu. Trong thời gian này, chính phủ Hàn Quốc sử dụng chính sánh huy động vốn, ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng (1972 – 1979) và khuyến khích xuất khẩu hiệu quả.
Để huy động vốn, Chính phủ chủ trương phải huy động tối đa nguồn vốn trong
nước bằng cách thực hiện các chính sách như: nâng lãi xuất tiền gửi lên 12%(năm 1965),
đa dạng hoá hệ thống tài chính nhờ đó mà tỷ lệ tiết kiệm trong GDP tăng từ 11% năm 1962
lên 17,3 % năm 1972 và 28,5% năm 1979. Tỷ lệ đầu tư trong nước tăng từ 11,8% năm
1962 lên 20,9% năm 1972 và 35,8% năm 1979. Ngoài ra Chính Phủ cũng chú trọng đến
thu hút nguồn vốn từ bên ngoài, Thời kì này, chính phủ đã cho điều chỉnh lại hệ thống tỷ
giá thay chế độ tỷ giá cố định bằng tỷ giá linh hoạt, đồng Won bị phá giá do đó nó được
Website: Email : Tel : 0918.775.368
gắn với đồng USD và bị chi phối bởi những quy định của IMF cho nên các nhà đầu tư
nước ngoài có thể an tâm khi đầu tư vào đây, đồng thời Chính phủ cũng ban hành luật tổng
hợp về thúc đẩy vốn đầu tư nước ngoài trong đó cam kết bảo hiểm rủi ro. Chính những
biện pháp kể trên của Chính phủ Hàn Quốc đã làm cho nền kinh tế nước này có đủ tiềm
lực tài chính để tiến hành thành công công cuộc công nghiệp hoá.
Không những vậy, Chính phủ còn sử dụng nhiều biện pháp để khuyến khích
những người có vốn đầu tư vào công nghiệp. Cụ thể: cho vay với lãi suất thấp, được phép
chuyển đổi ngoại hối; miễn, giảm thuế nhập khẩu máy móc thiết bị dể xây dựng nhà máy
mới; cho doanh nghiệp mua đất công với giá rẻ, bảo hộ mậu dịch với hàng công nghiệp
trong nước; ưu tiên các ngành ít vốn, quay vòng nhanh, tỷ suất lợi nhuận cao. Năm 1973,