08
Fall
L Ớ P C A O H Ọ C Đ Ê M 8 - K 2 1 Đ Ạ I H Ọ C K I N H T Ế T P H C M
Nhóm TM03:
DIỆP NGUYỄN ANH UYÊN
NGUYỄN THỊ QUỲNH DAO
PHAN THÁI HOÀNG SƠN
Nghiên cứu này xem xét dự định tiêu dùng các sản phẩm xanh có mối liên hệ nào hay có chịu sự
ảnh hưởng từ xã hội, các mối quan tâm đến môi trường, mức thu nhập, giới tính, độ tuổi của
người tiêu dùng ở thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng Tư
2012
ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ NHÂN
KHẨU HỌC, SỰ QUAN TÂM ĐẾN MÔI
TRƯỜNG VÀ ẢNH HƯỞNG TỪ XÃ
HỘI ĐẾN DỰ ĐỊNH TIÊU DÙNG XANH
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2
Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học, sự quan tâm đến môi trường và ảnh hưởng từ xã hội đến
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
I. Vấn đề nghiên cứu
Trong ba thập kỷ vừa qua chứng kiến một sự thay đổi lớn trong nhận thức về môi
trường của người tiêu dùng khi các vấn đề môi trường trở thành một vấn đề đang được
quan tâm. (Kalafatis và các tác giả khác, 1999). Người tiêu dùng bắt đầu quan tâm nhiều
hơn về thói quen hằng ngày và những ảnh hưởng của các thói quen đó đến môi trường
(Krausee, 1993) và cũng bắt đầu nhận thức được hành vi tiêu dùng của họ thật sự có thể
gây ra ảnh hưởng rất lớn đến môi trường. Điều này dẫn đến sự thay đổi về hành vi tiêu
dùng. Sự thay đổi này bao gồm hành vi mua hàng dựa trên mức độ thỏa mãn mà sản
phẩm đem lại và mức ảnh hưởng của sản phẩm đó đến môi trường tự nhiên (GFK, 2007).
Ứng phó lại với vấn đề này, các nhà marketing đã tiến hành phát triển sản phẩm
mức sâu và xa hơn.
Trong thực tế sản phẩm xanh hiện nay đang có sẵn cho người tiêu dùng lựa chọn.
Tuy nhiên đa phần sản phẩm xanh đang được cung cấp rộng rãi cho người tiêu dùng ở
Bắc Mỹ và Châu Âu, trong khi điều này không phải xảy ra trong hầu hết các nước Châu
Á (Yam, 1998). Việt Nam là một điển hình. Cho đến thời điểm hiện nay, tại Việt Nam,
người tiêu dùng đã bắt đầu ý thức về việc bảo vệ môi trường. (Kết luận rút ra từ một cuộc
điều tra của tạp chí Thành Đạt, 2009). Một nghiên cứu của Vũ Thị Xuân (Sản phẩm thân
thiện với môi trường – xu thế tất yếu trong tiêu dùng hiện đại, 2009) chứng thực thêm
cho nhận định trên. Trong 200 mẫu khảo sát cho thấy kết quả khoảng 8% người biết rõ
sản phẩm thân thiện với môi trường, và 74% người có biết về sản phẩm thân thiện môi
trường. Cũng trong mẫu 200 quan sát này, có 25% người chọn sản phẩm sạch là tiêu chí
để mua hàng. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, tiêu chí lựa chọn sản phẩm thân thiện
môi trường của người tiêu dùng là: không có thành phần chất độc hại, sản phẩm được làm
từ nguyên liệu thân thiện với môi trường, sản phẩm giảm tác động tới môi trường bên
ngoài trong quá trình sử dụng và sản phẩm có bao bì được làm từ vật liệu tái chế. Như
vậy chứng tỏ người tiêu dùng Việt Nam đã bắt đầu có nhận thức về việc tiêu dùng sản
phẩm xanh. Mặc dù đề tài về sản phẩm xanh đã được nghiên cứu tại Việt Nam, nhưng
các nghiên cứu lại cho ra các kết quả khác nhau về việc tiêu dùng sản phẩm xanh khi tiến
hành nghiên cứu tại các sản phẩm khác nhau. Phạm Hồng Liên (2009) trong nghiên cứu
về “Hành vi của nhân viên văn phòng đối với các sản phẩm văn phòng xanh và các giải
pháp sản phẩm xanh dùng trong văn phòng” từ quy mô mẫu 225 người cho thấy kết quả
4
Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học, sự quan tâm đến môi trường và ảnh hưởng từ xã hội đến
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
là có 41, 96% chấp nhận chênh lệch giá 5% - 10% cho việc sử dụng thiết bị văn phòng
xanh và 75,68% người ủng hộ sử dụng sản phẩm tái chế và phần lớn đều ưu tiên cho việc
sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường, và đa số những người ủng hộ việc tiêu dùng
sản phẩm xanh là những người có kiến thức về môi trường và có thái độ bảo vệ môi
trường. Nhưng kết quả trong một nghiên cứu khác về hành vi người tiêu dùng đối với sản
phẩm túi vải thân thiện môi trường của Nguyễn Ngọc Thùy Vân (2009) với quy mô mẫu
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là mối quan hệ giữa các yếu tố nhân khẩu
học, sự quan tâm về môi trường, sự ảnh hưởng từ xã hội với dự định tiêu dùng xanh
3. Phạm vi nghiên cứu
Tiến hành khảo sát trực tiếp người tiêu dùng đang sinh sống và làm việc tại thành
phố Hồ Chí Minh về dự định tiêu dùng sản phẩm xanh.
II. Cơ sở lý thuyết
1. Dự định tiêu dùng xanh
Sản phẩm xanh là sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn đối với
sức khỏe. (Pi C&E)
Tiêu dùng xanh là sự tiêu dùng những sản phẩm không chỉ tốt về chất lượng mà
còn phải an toàn cho sức khoỏe và thân thiện với môi trường. Lee (2004)
Hành vi tiêu dùng xanh là việc tiêu dùng những sản phẩm có lợi cho môi trường,
có thể tái chế hoặc có thể lưu giữ, nhạy cảm hoặc đáp lại những mối quan ngại về môi
trường. Mostafa (2007). Người tiêu dùng ra quyết định dựa vào lý trí của họ để tối đa hóa
giá trị sử dụng. Để thực hiện điều này, người tiêu dùng trải qua quá trình nhận thức bao
gồm việc xác định những thuộc tính quan trọng của sản phẩm, thu thập thông tin và đánh
giá các thuộc tính của sản phẩm để lựa chọn sản phẩm tối ưu. Đối với trường hợp tiêu
dùng xanh, người tiêu dùng sẽ xem xét độ “xanh” của sản phẩm như là một thuộc tính để
lựa chọn sản phẩm.
Dự định tiêu dùng xanh là khả năng và sự sẵn lòng của một người ưu tiên cho dự
định chọn lựa sản phẩm có đặc trưng thân thiện với môi trường hơn các sản phẩm thông
thường khác trong tiêu dùng (Rashik, 2009). Dự dịnh tiêu dùng xanh còn là dự định lựa
chọn có cân nhắc tiêu dùng các sản phẩm gây tác hại lên môi trường ít nhất khi mua hàng
6
Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học, sự quan tâm đến môi trường và ảnh hưởng từ xã hội đến
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
hóa (MOE, 2007). Theo nhiều cách định nghĩa như trên, có thể nói rằng dự định tiêu
dùng xanh đó là dự định mua các sản phẩm thân thiện với môi trường, các sản phẩm
không gây hại hoặc gây hại ít đến môi trường sống.
việc bảo vệ môi trường (Cosby, Gill&Taylor,1981). Dựa trên nghiên cứu của Dunlap và
Va Liere (1978), quan tâm đến môi trường cũng được định nghĩa là một thái độ toàn cầu
với các hiệu ứng gián tiếp về hành vi thông qua ý định hành vi. Sự quan tâm đến môi
trường đề cập đến độ xúc động, số lượng kiến thức cụ thể và mức độ sẵn sàng của những
hành vi thực tế về các vấn đề ô nhiễm môi trường (Maloney&Ward, 1973). Maloney,
Ward và Braucht (1975) phát triển thang đo EAKS bao gồm 4 tiêu chí: tình cảm (A), kiến
thức (K), lời nói cam kết (VC), cam kết thực sự (AC) để đo lường mối quan tâm đến vần
đề môi trường. Thang đo này đề cập đến nhận thức, độ xúc động và mức độ ý định hành
vi của mối quan tâm đến môi trường của con người càng cao thì tần số cam kết thực tế về
môi trường sẽ càng cao hơn (Kinnear&Taylor, 1973).
Trong đa số các nghiên cứu, sự quan tâm đến môi trường được tìm thấy là một yếu
tố ảnh hưởng lớn đến tiêu dùng sản phầm xanh (Grunert, 1993) Mức độ quan tâm đến
môi trường càng lớn càng tác động mạnh đến các dự định tiêu dùng sản phẩm xanh của
người tiêu dùng (Biswas etal, 2000; Mainieri và các tác giả khác, 1997; Schwep &
Corwel, 1991). Kim & Choi (2005) và Mostafa (2009) tìm ra sự quan tâm đến môi
trường ảnh hưởng trực tiếp đến dự định tiêu dùng sản phẩm xanh. Angela (2001) tìm thấy
rằng những yếu tố quan trọng quyết định ý định mua các sản phẩm xanh được biểu hiện
thông qua thái độ đó là sự quan tâm đến môi trường. Điều này chỉ ra rằng những người
tiêu dùng quan tâm đến môi trường có thái độ tích cực đến vấn đề môi trường. Một
nghiên cứu khác vào năm 1995 đã xác định có mối quan hệ nhân quả giữa sự quan tâm
đến môi trường với dự định tiêu dùng được biểu hiện qua thái độ (Taylor&Todd, 1995).
Kết quả nghiên cứu của Lee (2008) đã cho thấy rằng mối quan tâm đến vấn đề môi
trường cũng có mặt trong lần dự đoán thứ hai của hành vi tiêu dùng xanh sau sự ảnh
hưởng của xã hội. Tuy nhiên cũng có một số nghiên cứu cho ra kết quả sự quan tâm đến
môi trường chỉ cho ra mức ảnh hưởng trung bình đến dự định tiêu dùng xanh và hành vi
tiêu dùng xanh (Axelrod & Lehman, 1993; Smith và các tác giả khác, 1994) hoặc cho ra
kết quả có mối liên hệ rất yếu (Berger & Corbin, 1992).
8
Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học, sự quan tâm đến môi trường và ảnh hưởng từ xã hội đến
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
(Panic, 2006; Arif, 2008) Trong nghiên cứu này, chỉ giới hạn nghiên cứu ở ba biến đầu
tiên là giới tính, độ tuổi và thu nhập.
5.1 Giới tính
Phần lớn các học giả đều đồng ý rằng giới tính và vấn đề tiêu dùng xanh có mối
quan hệ mật thiết. (Arcas & Cuestar, 2001). Jain và các tác giả khác (2006) và Mostafa
(2007) chứng minh rằng phụ nữ có nhận thức ít hơn về vấn đề môi trường so với nam
giới. Nhưng ngược lại, nữ giới lại có mức ảnh hưởng quan trọng hơn nam giới trong hai
khía cạnh tiêu dùng xanh và thái độ đối với môi trường (Mainieri và các tác giả khác,
1997; Laroche 2001) Straughan và các tác giả khác (1999) thêm vào rằng phần lớn các
nhà nghiên cứu đặt vấn đề rằng nữ giới có phần hơn nam giới trong việc giữ thái độ kiên
định với tiêu dùng xanh. Về mối tương quan giữa giới tính và vấn đề tiêu dùng xanh,
McDonal & Hara (1994) tìm ra rằng mối quan hệ này là có ý nghĩa. Hơn nữa nghiên cứu
của Bergeron & Barbaro (2001) cho thấy giới tính ảnh hưởng đến sự sẵn sàng trả thêm
cho sản phẩm xanh. Mặt khác, Sandahl & Robertsn (1989) tìm thấy mối quan hệ giữa
giới tính và ý định tiêu dùng xanh là không có ý nghĩa. Vì vậy, ảnh hưởng của biến giới
tính đến dự định tiêu dùng xanh vẫn còn là một câu hỏi.
5.2 Độ tuổi
Nhìn chung, về độ tuổi, các nghiên cứu trước cho thấy thanh niên hoặc những
người trong độ tuổi tiền trung niên là những người tiêu dùng có quan tâm đến vấn đề tiêu
dùng hoặc là những đối tượng của tiêu dùng xanh (Bourgeois & Barner, 1979; Robert &
Bacon, 1997; Diannantopulos ,2003; Gam, 2011) Trong khi Guagnano & Markee (1995)
lại có khám phá ngược lại rằng người lớn tuổi ủng hộ cho việc tiêu dùng các sản phẩm
thân thiện với môi trường hơn thanh niên. Laroche (2001) cũng thêm vào rằng nhóm nữ
giới trung niên thuộc nhóm phân khúc thị trường người tiêu dùng sẵn sàng chi trả thêm
chênh lệch để tiêu dùng sản phẩm xanh. Robert (1996) tìm thấy rằng có môi tương quan
tuyệt đối và quan trọng giữa độ tuổi và ý định tiêu dùng xanh. Nhưng Van & Dunlap
(1981) lại tìm thấy rằng mối quan hệ giữa độ tuổi và độ nhạy cảm với vấn đề môi trường
và với dự định tiêu dùng xanh là không có, người tiêu dùng xanh có độ tuổi lớn hơn.
McEvoy (1972) tìm thấy không có mối quan hệ giữa độ tuổi và thái độ tiêu dùng và dự
dụng tại mô hình nghiên cứu này là yếu tố nhân khẩu học.
11
Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học, sự quan tâm đến môi trường và ảnh hưởng từ xã hội đến
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
Tóm lại mô hình đề xuất mô tả sự ảnh hưởng của các biến độc lập gồm biến nhân
khẩu học, sự quan tâm đến vấn đề môi trường, sự ảnh hưởng từ xã hội đến biến phụ thuộc
là dự định tiêu dùng sản phẩm xanh.
Bảng 1: Mô hình nghiên cứu
2. Các giả thuyết nghiên cứu
H1: “Sự quan tâm đến môi trường” có ảnh hưởng tích cực đến dự định tiêu dùng
xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
H2: Yếu tố “sự ảnh tưởng từ xã hội” có ảnh hưởng tích cực đến dự định tiêu dùng
xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
H3: Giới tính có mối liên hệ mật thiết đến dự định tiêu dùng xanh của người tiêu
dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
H4: Độ tuổi có mối liên hệ mật thiết đến dự định tiêu dùng xanh của người tiêu
dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
12
Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học, sự quan tâm đến môi trường và ảnh hưởng từ xã hội đến
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
H5: Thu nhập có mối liên hệ mật thiết đến dự định tiêu dùng xanh của người tiêu
dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
V. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài này sử dụng nghiên cứu định lượng xem xét mối quan hệ nhân quả giữa các
yếu tố sự quan tâm đến môi trường, ảnh hưởng từ xã hội và nhân khẩu học đến dự định
tiêu dùng xanh. Nghiên cứu nhân quả khảo xác mức độ ảnh hưởng của một yếu tố hoặc
một biến lên biến khác. (DJS Research Ltd, 2009). Một quan hệ nhân quả tồn tại khi có
một sự tương quan giữa một biến độc lập và biến phụ thuộc. Trong nghiên cứu này, biến
độc lập là nhân khẩu học, sự quan tâm về môi trường, sự ảnh hưởng từ xã hội và biến phụ
1000 hoặc nhiều hơn Tuyệt đối
Dựa trên các quy luật trên, kích thước mẫu được chọn khoảng 200.
5.3 Đo lường các khái niệm nghiên cứu
Đo lường khái niệm nhân khẩu học:
Để đo lường yếu tố nhân khẩu học có ảnh hưởng như thế nào, thì đề tài sẽ xem xét
các biến: độ tuổi, giới tính, thu nhập. Thông qua các câu hỏi để khảo sát về độ tuổi, giới
tính, thu nhập của người tham gia khảo sát, sử dụng thang đo định danh để xác định mối
liên quan của các biến này và dự định tiêu dùng sản phẩm xanh.
Đo lường khái niệm sự quan tâm đến môi trường
Đề tài này sử dụng 4 tiêu chí tình cảm, kiến thức, lời nói cam kết, cam kết thực sự
trong thang do EAKS của Maloney, Ward và Braucht đã phát triển năm 1975 để đo lường
mối quan tâm đến vấn đề môi trường. Thông qua các nhận định trong bản câu hỏi, ví dụ
như “Anh/chị thường xuyên tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường” với thang đo
Likert 5 điểm (mức độ thấp nhất là 1, đến mức độ cao nhất là 5) để đo lường mức độ ảnh
hưởng của mối quan tâm đến môi trường đến dự định tiêu dùng xanh.
Đo lường khái niệm sự ảnh hưởng từ xã hội
Đối với khái niệm sự ảnh hưởng xã hội, thì nghiên cứu này sử dụng các biến quan
sát trong nhóm tham khảo gồm bạn bè, gia đình, truyền thông để đo lường. Cũng bằng
cách đưa ra các nhận định, chẳng hạn như “Anh/chị sẽ mua các sản phẩm xanh mà bạn bè
của mình đã sử dụng.” và sử dụng thang do Likert 5 điểm để thống kê mức độ đồng ý
của những người tham gia khảo sát.
Đo lường khái niệm dự định tiêu dùng xanh
14
Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học, sự quan tâm đến môi trường và ảnh hưởng từ xã hội đến
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
Dự định tiêu dùng xanh là dự định mua các sản phẩm thân thiện với môi trường,
các sản phẩm không gây hại hoặc gây hại ít đến môi trường sống. Như vậy đề đo lường
khái niệm dự định tiêu dùng xanh phải khảo sát thông qua thuộc tính “xanh” của sản
phẩm. Thang đo Likert 5 điểm cũng được sử dụng để đo lường khái niệm nghiên cứu này
cũng thông qua các nhận định được đưa ra trong bản câu hỏi, chẳng hạn như nhận định
ConferenceProceedings, 36 (Spring and Fall), 304-11
Arif Hartono (2008), Adopting socio – demographic characteristics in profiling green
consumers: a review of hyphotheses, Jurnal Siasat Bisnis, 12 (1), 55-62
Arminda do Paco & Mário Raposo (2009), “Green segmentation: an application to the
Portuguese consumer market, Marketing Intelligence & Planning, 27 (3)
Banerjee, B. and McKeage, K. (1994), “How green is my value: exploring the
relationship between environmentalism and materialism”, in Allen C.T. and John,
D.R. (Eds) Advances in Consumer Research, Association for Consumer Research,
Provo, UT (21),147 – 52.
Berger, I.E. and Corbin, R.M. (1992), “Perceived consumer effectiveness and faith in
others as moderators of environmentally responsible behavior”, Journal of Public
Policy & Marketing, 11(2), 79 – 88.
Chan, R. Y. K., & Lau, L. B.Y. (2000). Antecedents of green purchase: A survey in
China. Journal of Consumer Marketing, 17(4), 338-357.
Chan, R. Y. K., & Yam, E. (1995). Green movement in a newly industrializing area:
Asurvey on the attitudes behavior of Hong King citizens. Journal of Community
and Applied Social Psychology, 5(1), 273-84
Cheah Ching Mun (2009) A study on consumer’s green purchasing intention, University
Utara Malaysia
Cheah, I. & Phau, I. (2005). Toward a framework of consumers’ willingness to purchase
environmentally friendly products: a study of antecedents and moderator
Crosby, L.A., Gill, J.D. & Taylor, J.R. (1981). Consumer / voter behaviour in the passage
of the Michigan container law
16
Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học, sự quan tâm đến môi trường và ảnh hưởng từ xã hội đến
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
Diamantopoulos, A., Schlegelmilch, B.B., Sinkovics, R.R. & Bohlen, G.M. (2003). Can
socio-demographics still play a role in profiling green consumers? A review of the
evi dence and an empirical investiga-tion. Journal of Business Research, 56(2),
465-80.
Marketing, (17) 6, 500-22.
Lee, K.L. (2004, October 6). Green purchasing in ASEAN – the role of government. 1st
International Conference on Green Purchasing, Sendai.
Lee, K. (2008). Opportunities for green marketing: young consumers. Marketing
Intelligence & Planning.
Lê Ngọc Đức (08/2008). Cơ sở lý thuyết của Luận văn Thạc sĩ "Khảo sát một số yếu tố
ảnh hưởng đến xu hướng sử dụng thanh toán điện tử (e-Payment) “. Link:
http://www.mbavn.org/view_news.php?id=1256
MacDonald, W.L. and Hara, N. (1994), “Gender differences in environmental concern
among college students” Sex Roles, 33 (5/6),369 –374.
Mainieri, Tina; Barnett, Elaine G. (1997), “Green buying: The influence of
environmental concern on consumer behavior”, Journal of Social Psychology,
137(2),189 –205
McCarty, J.A. and Shrum, L.J. (1994), The recycling of solid wastes: personal values,
value orientations, and attitudes about recycling as antecedents of recycling
behavior”, Journal of Business Research, 30 (1),53 – 62.
McEvoy, J. III (1972), “The American concern with the environment”, Social Behavior,
Natural Resources and the Environment.
Maloney, Michael P., Micheal P. Ward, and G. Nicholas Braucht, (1975, July).
Psychology in Action: A Dunlap, R.E. & Van Liere, K.D. (1978). The new
environment paradigm: a proposed measuring instrument and preliminary results
Revised Scale for the Measurement of Ecological Attitudes and Knowledge
MOE. (2007, March). Japan’s Green Purchasing Policy: Tackling Illegal Logging.
Ministry of Environment, Government of Japan.
Morris, L. A., Hastak, M., and Mazis, M.B. (1995). “Consumer Comprehension of
environmental advertising and labeling claims”, Journal of Consumer Affairs, 29,
328 –350.
18
Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học, sự quan tâm đến môi trường và ảnh hưởng từ xã hội đến
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học, sự quan tâm đến môi trường và ảnh hưởng từ xã hội đến
dự định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh
Schlegelmilch, B.B., Bohlen, G.M. & Dia-mantopoulos, A. (1996). The link between
green purchasing deci-sions and measures of environ-mental consciousness.
European Journal of Marketing, 30(5), 35-55.
Straughan, R.D. & Roberts, J.A. (1999). Environmental segmentation alter-natives: A
look at green consumer behaviour in the new millennium. Journal of Consumer
Marketing, 16(6), 558-575.
Sudiyanti (2010) Predicting women purchase intention for green products in Indonesia,
University of Adger, http://brage.bibsys.no/hia/handle/URN:NBN:no-
bibsys_brage_10520)
Tahir Albayrak, Meltem Caber, Luiz Moutinho, Ram Herstein (2011), The influence of
skepticism on green purchase behavior, Journal of Business and Social Sceince,
2(13)
Van Liere, K. and Dunlap, R. (1981), “The social bases of environmental concern: a
review of hypotheses, explanations, and empirical evidence”, Public Opinion
Quarterly, Vol. 44, No. 2, pp. 181 – 97.
Vining, J. and Ebreo, A. (1990), “What makes a recycler? A comparison of recyclers and
nonrecyclers”, Environmental Behavior, Vol. 22, pp. 55 – 73
Vũ Thị Xuân (2009), Sản phẩm thân thiện với môi trường – Xu thế tất yếu trong tiêu
dùng hiện đại, Đại học Cần Thơ
Yam-Tang, E. P. Y. & Chan, R. Y. K., 1998, Purchasing Behaviours and Perceptions of
Environmentally Harmful Products, Marketing Intelligence and Planning, 16:
356–362
Webster, F.E. Jr. (1975). Determining the characteristics of the socially con-scious
consumer. Journal of Con-sumer Research, 2(3), 188-96.
Zikmund, W. (2000). Business Research Methods, 6th ed, The Dryden Press, Harcourt
College Publishers
Pi – C&E: http://pi-company.com.vn/Default.aspx