Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC BÙI THỊ QUYÊN HÌNH THÁI VÀ CHỨC NĂNG THẤT TRÁI Ở BỆNH
NHÂN ĐÁI THÁO ĐƢỜNG TYP2 CÓ TĂNG HUYẾT
ÁP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƢƠNG
THÁI NGUYÊN
tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ tử vong và tàn phế vẫn còn cao, nguyên nhân hàng đầu
vẫn là các biến chứng về tim mạch, có đến 75% các trƣờng hợp tử vong ở
bệnh nhân ĐTĐ là do các biến chứng tim mạch [1]. Biến chứng tim mạch trên
bệnh nhân ĐTĐ tƣơng đối đa dạng và phức tạp, trên 50% bệnh nhân ĐTĐ có
biến chứng tim mạch ngay từ lần đầu phát hiện bệnh, nghĩa là biến chứng tim
mạch tiến triển một cách thầm lặng trong nhiều năm trƣớc khi có biểu hiện
lâm sàng. Đặc biệt, trên nền bệnh ĐTĐ mà có kèm tăng huyết áp (THA) thì
càng làm gia tăng các biến chứng tim mạch. ĐTĐ và THA là hai bệnh lý bề
ngoài có vẻ khác biệt nhƣng thực tế thƣờng xảy ra trên cùng bệnh nhân ĐTĐ,
đặc biệt ĐTĐ typ 2. Những nghiên cứu mới nhất về ĐTĐ và các yếu tố nguy
cơ cho thấy số ngƣời ĐTĐ kèm theo có tăng huyết áp lên tới 77,8% [79], sự
gia tăng huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thật sự là một yếu tố nguy cơ đặc
biệt đƣa đến suy tim, có thể coi THA là một yếu tố nguy cơ cao gây tai biến
tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ. Theo nghiên cứu Whitehall thực hiện tại Anh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 3
trên đối tƣợng bệnh nhân ĐTĐ đƣợc theo dõi trong vòng 10 năm, nguy cơ tử
vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ có THA tăng gấp 2 lần bệnh nhân
ĐTĐ không THA [81]. Trong đó suy chức năng tâm trƣơng thƣờng xuất hiện
trƣớc, thậm chí ngay cả giai đoạn bệnh chƣa có triệu chứng lâm sàng trong
khi chức năng tâm thu vẫn còn bình thƣờng. Do vậy, việc đánh giá hình thái
và chức năng tim ở bệnh nhân ĐTĐ có THA là rất cần thiết giúp cho ngƣời
thầy thuốc có thể đánh giá giai đoạn bệnh, tiên lƣợng đƣợc tiến triển của bệnh
và có thái độ điều trị thích hợp. Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học kỹ thuật về chẩn đoán hình ảnh có nhiều phƣơng pháp để khảo sát hình
thái và chức năng thất trái nhƣ thông tim, chụp buồng tim, xạ hình cơ tim ,
tuy nhiên siêu âm tim đã trở thành phƣơng pháp thăm dò có ƣu thế vì đây là
bài tiết insulin, khiếm khuyết trong hoạt động của insulin hoặc cả hai. Tăng
glucose máu mạn tính thƣờng kết hợp với sự huỷ hoại, sự rối loạn chức năng
và sự suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh,
tim và mạch máu".
1.1.2. Chẩn đoán đái tháo đường
Tổ chức y tế thế giới WHO đã đƣa ra tiêu chuẩn để giúp chẩn đoán đái
tháo đƣờng (1965 - 1979 - 1980 - 1985). Hiện nay tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh
đái tháo đƣờng, đƣợc hiệp hội Đái tháo đƣờng Mỹ kiến nghị vào năm 1997
đƣợc các nhóm chuyên gia về bệnh Đái tháo đƣờng công nhận và năm 1998,
tuyên bố áp dụng năm 1999, có ít nhất một trong ba tiêu chí:
- Glucose huyết tƣơng lúc đói ≥7,0 mmol/lít (126mg/dl) sau 2 lần xét nghiệm.
- Glucose huyết tƣơng bất kỳ thời điểm nào ≥ 11,1 mmol/lít (200mg/dl)
kèm theo triệu chứng tiểu nhiều, uống nhiều, sụt cân.
- Glucose huyết tƣơng 2 giờ sau uống 75g glucose ≥11,1 mmol/l (200mg/dl).
Ngoài tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ của WHO năm 1998 dựa vào glucose
máu, Hiệp hội đái tháo đƣờng Hoa Kỳ (ADA) đề nghị đƣa thêm tiêu chuẩn
chẩn đoán dựa vào HbA1c. Ngƣời bệnh ĐTĐ có tăng glucose máu (nhƣ tiêu
chuẩn của WHO) và HbA1c ≥ 6,5% [25],[34].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 5
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh Đái tháo đường typ 2
ĐTĐ typ 2 là một bệnh không đồng nhất, không phải là một bệnh duy
nhất mà là một tập hợp các hội chứng khác nhau. Bệnh căn do nhiều yếu tố
gây nên. Tình trạng kháng insulin có thể thấy đƣợc ở hầu hết các đối tƣợng bị
ĐTĐ typ 2 và tăng đƣờng huyết xảy ra khi khả năng bài xuất insulin của các
tế bào beta của tụy không đáp ứng thoả đáng nhu cầu chuyển hoá. Tình trạng
kháng insulin đƣợc cho là vẫn tƣơng đối ổn định ở những ngƣời trƣởng thành
insulin thƣờng có tăng nồng độ insulin và C- peptid để đáp ứng gia tăng nhu
cầu chuyển hoá của cơ thể. Tình trạng thiếu hụt insulin tƣơng đối so với nhu
cầu đƣợc đòi hỏi để bù trừ cho tình trạng kháng insulin dẫn tới tăng đƣờng
huyết và chẩn đoán bệnh ĐTĐ typ 2. Khiếm khuyết khởi đầu trong tiết insulin
là tình trạng mất phóng thích insulin pha đầu và mất dạng tiết giao động của
insulin. Mối liên hệ lâm sàng của các khiếm khuyết sớm nói lên tình trạng
tăng đƣờng huyết sau ăn. Suy giảm bài tiết insulin thêm nữa dẫn tới tình trạng
ức chế không thoả đáng sản xuất glucose của gan và đƣợc biểu hiện trên lâm
sàng bằng tình trạng tăng đƣờng huyết lúc đói. Tăng đƣờng huyết tham gia
vào quá trình gây suy giảm chức năng tế bào beta và làm tình trạng thiếu hụt
insulin tồi đi- một hiện tƣợng đƣợc biết dƣới tên gọi “ngộ độc glucose”
(glucose toxicity). Tăng mạn tính các acid béo tự do- một đặc trƣng khác của
ĐTĐ typ 2, có thể góp phần làm giảm tiết insulin và gây hiện tƣợng chết tế
bào đảo tụy theo chƣơng trình. Các thay đổi mô bệnh học trong tụy đảo
Langerhans ở bệnh nhân bị ĐTĐ typ 2 lâu ngày bao gồm tình trạng tích tụ
amyloid và giảm số lƣợng các tế bào beta sản xuất insulin. Các dữ liệu theo
dõi dọc từ nghiên cứu tiến cứu bệnh ĐTĐ tại Anh ( UK Prospecitive Diabetes
Study) gợi ý mất khả năng tiết insulin theo thời gian là điều thƣờng gặp trong
ĐTĐ typ 2.
Hiệp hội ĐTĐ Mỹ (ADA) phân ra một nhóm không đồng nhất các rối
loạn tăng đƣờng huyết nhƣ: “các loại đặc biệt khác của đái tháo đƣờng”
(“Other specific types of diabetes”). Thƣờng gặp nhất của nhóm rối loạn này
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 7
là các thể ĐTĐ do thuốc hoặc hoá chất gây nên. Các tác nhân gây bệnh điển
hình bao gồm glucocorticoid, acid nicotinic, thiazid, thuốc chủ vận beta-
adrenergic, các thuốc chống loạn thần không điển hình thế hệ mới và một số
dõi trong vòng 10 năm, nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ
có tăng huyết áp tăng gấp đôi bệnh nhân ĐTĐ không tăng huyết áp[72].
- Xác định tăng huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ:
Theo Hiệp hội đái tháo đƣờng Hoa Kỳ (ADA) năm 2009 xác định tăng
huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ là ≥ 130/80 mmHg.
Do tầm quan trọng của chỉ số huyết áp đối với bệnh nhân ĐTĐ vì thế khi
đánh giá tăng huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ cần tuân thủ theo một số quy định:
+ Sử dụng máy huyết áp thủy ngân.
+ Thực hiện đo huyết áp ít nhất 2 lần.
+ Bệnh nhân đƣợc nghỉ ngơi ít nhất 5 phút trƣớc khi đo huyết áp.
+ Đo huyết áp tƣ thế để phát hiện hạ huyết áp tƣ thế.
+ Cần loại trừ tăng huyết áp phản ứng nhƣ tăng huyết áp do áo choàng
trắng, do tác dụng của thuốc điều trị ĐTĐ (insulin, sunfonylurea), tai biến tim
mạch, do stress…
+ Nếu có điều kiện có thể theo dõi huyết áp 24 giờ (Holter huyết áp 24 giờ).
+ Siêu âm Doppler động mạch hai chi dƣới, động mạc cảnh.
+ Siêu âm tim
+ Microalbumin niệu.
+ Soi đáy mắt.
+ Đo chỉ số huyết áp tâm thu còn gọi là chỉ số huyết áp cổ chân/ cánh
tay (ABI)[41].
1.2.1. Đặc điểm động học và chuyển hoá trong tăng huyết áp ở bệnh nhân
đái tháo đường
So với bệnh nhân không ĐTĐ, THA ở bệnh nhân ĐTĐ những đặc điểm
bao gồm tăng nhạy cảm muối, mất đi khoảng trũng huyết áp và nhịp tim sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 9
10
tiến triển microalbumin niệu. Thêm vào đó có sự gia tăng minh chứng
microalbumin niệu là thành phần của hội chứng chuyển hoá phối hợp với THA.
* Tăng huyết áp tâm thu đơn độc
Sự tiến triển của xơ vữa động mạch ở bệnh nhân ĐTĐ, tại các động
mạch lớn mất dần tính dàn hồi và trở nên cứng và huyết áp tâm thu gia tăng
một cách tƣơng ứng do hệ thống thành động mạch không còn khả năng giãn
ra khi lƣợng máu gia tăng từ thất trái đƣa đến THA tâm thu đơn độc. Thêm
vào đó có sự liên quan giữa THA tâm thu với bệnh lý vi mạch và mạch máu
lớn ở bệnh nhân ĐTĐ.
1.2.2. Sinh lý bệnh THA ở bệnh nhân ĐTĐ
Sự liên quan giữa THA, béo phì, kháng insulin và ĐTĐ rất phức tạp.
THA chiếm tỷ lệ cao ở ngƣời ĐTĐ hơn là ngƣời không ĐTĐ. Các lý do có
thể làm gia tăng ƣu thế để phát triển thành ĐTĐ ở ngƣời THA nguyên phát
cũng đã đƣợc nghiên cứu. Chúng bao gồm rối loạn thành phần tổ chức cơ vân
(nhiều mỡ và giảm các sợi cơ co nhạy cảm chậm với insulin), giảm lƣu lƣợng
máu đến tổ chức cơ là kết quả của sự phì đại mạch máu, thƣa thớt mạch máu,
co mạch và rối loạn đáp ứng điều hòa hậu thụ thể đối với insulin.
Trong những bệnh nhân này, tăng huyết áp thƣờng phối hợp với các
thành tố của hội chứng chuyển hóa nhƣ béo phì, tăng triglycerid. Tỷ lệ
microalbumin niệu ở nhóm tăng huyết áp là 24%. Các dấu chứng này là sự
khác biệt về sinh lý bệnh tăng huyết áp giữa ĐTĐ type 1 và 2, trong đó tăng
huyết áp của ĐTĐ type 2 liên quan chặt chẽ với các thành tố của hội chứng
chuyển hóa tim [35].
Microalbumin niệu là dấu chứng lâm sàng đầu tiên của bệnh thận
ĐTĐ. Đây không những là yếu tố nguy cơ của bệnh thận ĐTĐ mà cũng là yếu
tố nguy cơ của bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ. Microalbumin niệu phản
ánh rối loạn chức năng tế bào nội mạc toàn thể trong đó bao gồm cả thận.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 12
1.3. Hình thái và chức năng thất trái ở bệnh nhân ĐTĐ
ĐTĐ typ 2 là một bệnh lý đa dạng, liên quan đến nhiều tổ chức và cơ
quan trong cơ thể, đặc biệt là hệ thống tim mạch. Trong ĐTĐ có những biến
đổi nhất định đến cấu trúc của cơ tim, tăng chiều dày vách liên thất ( IVS) và
thành sau thất trái (LPW). Khối lƣợng cơ thất trái và chỉ số khối cơ thất trái
có nhiều biến đổi, sự biến đổi này phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có do
ảnh hƣởng của nồng độ đƣờng máu cao kéo dài gây tổn thƣơng các mạch máu
nhỏ trong cơ tim, thành của mao mạch có những thay đổi nhƣ dày lớp nội
mạc. Ngoài ra ĐTĐ còn đồng thời ảnh hƣởng đến thần kinh tự động của tim
và 2 yếu tố này đã gây rối loạn cấu trúc của cơ tim làm cho các tế bào cơ tim
có xu hƣớng dãn và phì đại mà kết quả là tăng khối lƣợng cơ tim [9].
.
Blumenthal và Zoneraich thấy có t
(microaneurysm) ở cơ tim bệnh nhân ĐTĐ.
Sự biến đổi hình thái thất trái dẫn đến biến đổi chức năng tâm trƣơng
thất trái. Các chỉ số hình thái và chức năng tâm trƣơng xuất hiện sớm hơn các
chỉ số chức năng tâm thu. Rối loạn chức năng tâm trƣơng thất trái là hậu quả
của phì đại, xơ hóa tế bào cơ tim gây giảm độ đàn hồi thất trái dẫn đến giảm
sức chứa của thất trái trong thời kỳ tâm trƣơng. Lúc này thể tích thất trái chỉ
cần tăng nhẹ (do giữ muối nƣớc) cũng làm tăng áp lực buồng thất trái, gây
triệu chứng suy thất trái trên lâm sàng mặc dù chức năng thất trái vẫn còn
trong giới hạn bình thƣờng. Chức năng tâm trƣơng thất trái là khả năng nhận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Angiotensin2 làm tăng sinh các sợi cơ tim và tăng sinh tổ chức xơ quanh tế
bào cơ tim gây phì đại cơ tim. Những yếu tố thể dịch kích thích tế bào cơ tim
phì đại và tăng sản xuất Collagen dẫn đến tăng khối lƣợng cơ tim và tái cấu
trúc thất trái. Hậu quả những rối loạn trên làm giảm thƣ giãn và tăng độ cứng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 14
của cơ tim. Rối loạn thƣ giãn đơn thuần hoặc kết hợp với sự thay đổi tính
chun giãn thụ động của thất trái sẽ dẫn đến rối loạn đổ đầy thất trái và sau đó
là suy chức năng tâm trƣơng.
Khi có giảm đổ đây tâm trƣơng, nhĩ thu bù trừ, song vẫn có một lƣợng
máu ứ lại dân làm tăng kích thƣớc nhĩ trái. Nhĩ trái giãn sẽ làm giảm chức năng
co bóp của nhĩ, tăng nguy cơ rung nhĩ. Khi phân suất đổ đầy tâm trƣơng tăng
>40% thƣờng xuất hiện rung nhĩ có thể đẩy nhanh đến suy tim và bệnh nhân có
suy chức năng tâm trƣơng.
Bệnh ĐTĐ làm biến đổi hình thái và chức năng tâm trƣơng thất trái, song
chức năng tâm thu thất trái chƣa có ảnh hƣởng đáng kể nếu không có kèm THA.
Bệnh cơ tim ĐTĐ. Factor và Van
. Sự phối hợp
với THA ở bệnh nhân ĐTD sẽ làm tăng nguy cơ suy tim và những biến chứng
năng nề của tim mạch[41], [46].
1.4. Siêu âm Doppler tim và vai trò của siêu âm Doppler trong đánh giá
hình thái, chức năng thất trái
Năm 1842 lần đầu tiên nhà vật lý học ngƣời Áo Johann Christian
Doppler đã phát hiện và thiết lập một cách khoa học giữa hiện tƣợng sóng và
tốc độ di chuyển tƣơng đối của nguồn phát sóng so với ngƣời quan sát. Ngƣời
đầu tiên áp dụng siêu âm vào trong y học là Dussik, năm 1932, với ý đồ khảo
sát về não. Nhờ những thành tựu đạt đƣợc về RADAR SONAR trong đại chiến
* Quan sát hình thể ngoài của tim, chúng ta thấy các buồng tim có một
số liên quan đáng chú ý với thành ngực nhƣ sau:
- Mặt trƣớc tim: liên quan trực tiếp với xƣơng ức, các sụn sƣờn III, IV,
V, VI và các khoang liên sƣờn tƣơng ứng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 16
- Mặt hoành: nhĩ phải, thất phải và một phần thất trái liên quan trực tiếp
với cơ hoành và nằm rất gần với vùng thƣợng vị dƣới mũi ức.
- Mặt sau tim: thành sau nhĩ trái liên quan trực tiếp với thực quản nhờ
đó có thể làm siêu âm tim đầu dò thực quản.
- Đình tim (mỏm tim) nằm sát thành ngực ở khoang liên sƣờn V.
- Đáy tim có các cuống mạch lớn nằm gần với hõm trên xƣơng ức.
* Ứng dụng: Nắm đƣợc giải phẫu tim trong lồng ngực, chúng ta có thể
xác định đƣợc các vùng trên thành ngực (cửa sổ siêu âm) để dặt đầu dò siêu
âm. Ở mỗi vị trí đặt đầu dò lại liên quan đến các câu trúc khác nhau của tim.
- Vùng cạnh ức trái: cho phép thăm dò nhiều cấu trúc nhƣ vách liên
thất, nhĩ trái, van hai lá, thất trái, động mạch chủ.
- Vùng mỏm tim trái: Thăm dò 4 buồng tim, van nhĩ thất, vách liên thất
của buồng tiếp nhận.
- Vùng dƣới mũi ức: Thăm dò nhiều cấu trúc tim
- Vùng trên hõm ức: Thăm dò cấu trúc gần nhƣ các cuống mạch lớn.
* Tim hoạt động co dãn theo từng giai đoạn nhịp nhàng, lặp đi lặp lại
không ngừng tạo chu kỳ. Bình thƣờng nhịp tim đập khoảng 75 chu kỳ/ phút,
một chu chuyển tim kéo dài khoảng 0,80s.
- Giai đoạn tâm nhĩ thu: kéo dài khoảng 0,10s.
- Giai đoạn tâm thất thu: kéo dài 0,30s, chia 2 thời kỳ
Thời kỳ co đẳng thể tích dài 0,05s
1.4.3. Thất trái
1.4.3.1. Hình thái của thất trái
Trên thiết diện cắt dọc, thất trái có dạng hình trứng mà cực nhỏ là mỏm
tim, cực lớn ( đáy thất trái) là van hai lá và đƣờc ra thất trái.
Thiết diện cắt ngang của buồng thất trái có dạng hình tròn.
Lớp cơ thất trái dày hơn nhiều so với thất phải, trung bình 10mm, trong
lòng đƣợc phủ bởi lớp nội tâm mạc.
Thất trái và thất phải ngăn cách nhau bởi vách liên thất, là một vách
màng và cơ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 18
Hình thái thất trái đƣợc thăm dò chủ yếu trên các thiết đồ: Cạnh ức trái
(trục dài, ngắn), bốn buồng tim từ mỏm và dƣới mũi ức. Thất trái đƣợc chia
thành 9 vùng qui ƣớc trên siêu âm để định khu trú vị trí tổn thƣơng.
Thiết đồ cạnh ức trái trục dài và ngắn là vị trí chuẩn nhất để đo đạc các
kích thƣớc của thất trái. Trên thế giới, đa số các trung tâm tiến hành đo trên
siêu âm TM theo phƣơng pháp của Hội siêu âm tim mạch Hoa Kỳ:
+ Các kích thƣớc tâm trƣơng đƣợc đo ở vị trí tƣơng ứng với thời điểm
khởi đầu của sóng R trên điện tâm đồ.
+ Các kích thƣớc tâm thu đƣợc đo ở vị trí vách liên thất đạt độ dày tối đa.
+ Bề dày thành thất trái:
- Bề dày cuối tâm trƣơng của vách liên thất: IVSd= 7,7± 1,3mm.
- Bề dày cuối tâm thu của vách liên thất: IVSs= 10,4± 1,8mm.
- Bề dày cuối tâm trƣơng của thành sau thất trái: LVPWd= 7,1± 1,1mm.
- Bề dày cuối tâm thu của thành sau thất trái: LVPWs= 11,7± 1,6mm.
+ Đƣờng kính buồng thất trái.
- Đƣờng kính cuối tâm trƣơng của thất trái: LVDd= 46,5± 3,7mm.
cuối tâm thu. Viền theo nội mạc của buồng thất để tính diện tích của thiết diện
thất trái, đo chiều dài buồng thất từ điểm ngang vòng van hai lá đến mỏm tim.
1.4.3. 2. Chức năng tâm thu thất trái
* Chức năng co bóp của tim
- Siêu âm 2D cho thấy vận động thành thất trái trong chu chuyển tim
Khảo sát vận động thành đƣợc tiến hành chủ yếu trên các thiết đồ:
+ Cạnh ức trái trục dài: vách liên thất và thành sau thất trái.
+ Cạnh ức trái trục ngắn: Vách liên thất, thành trƣớc, thành sau- dƣới
và thành bên.
+ Thiết đồ 4 buồng từ mỏm: vách liên thất, thành bên, mỏm tim.
+ Thiết đồ 2 buồng tim từ mỏm: thành sau dƣới, thành trƣớc thất trái.
- Siêu âm TM cũng cho những chỉ số đánh giá vận động thành, bao gồm:
+ Độ dày lên của cơ tim (vách liên thất và thành sau thất trái) trong thì
tâm thu: 3,5mm.
+ Biên độ di động các thành tim: vách liên thất: 7,9± 1,9mm; thành sau
thất trái: 10± 1,7mm
+ Khoảng cách các đỉnh E của van hai lá đến vách liên thất: 5,5± 2mm.
* Chức năng tâm thu thất trái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 20
Chức năng tâm thu thất trái đƣợc tính từ các chỉ số hình thái và bao
gồm các chỉ số chính sau:
- Chỉ số co ngắn sợi cơ (%D) đƣợc tính từ các đƣờng kính tâm trƣơng
và tâm thu thất trái. Chỉ số này phản ánh khá chính xác chức năng tâm thu
thát trái và đƣợc hầu hết các trung tâm tim mạch trên thế giới sử dụng nhƣ
một trong những chỉ số tâm thu chính.
Dd -Ds
Trong đó TS: tần số tim
Q
Qi =
Sda
Trị số bình thƣờng: Q là 4-5 lít/ phút và Qi là 3-3,5 lít/ Phút/m
2
Các chỉ số Q và Qi thể hiện cung lựng tim, tức là một phần nào đánh
giá chức năng tống máu của thất trái. Song giá trị tuyệt đối của chúng còn tùy
thuộc vào bệnh chính: có những bệnh suy tim nhƣng với cung lƣợng tim tăng,
ví dụ thiếu máu, Beri- Beri, suy thận chạy thận chu kỳ…
- Các chỉ số dòng chảy qua van động mạch chủ là các chỉ số gián tiếp biểu
hiện chức năng thất trái thông qua dòng chảy từ thất trái lên động mạch chủ:
+ Thời gian tiền tống máu (T ttm): là thời gian từ chân sóng R trên điện
tâm đồ đến điểm bắt đầu của dòng tống máu vào động mạch chủ, bình thƣờng
75,5± 13,3ms). Khi chức năng tâm thu thất trái giảm thì T ttm thƣờng tăng, do
cơ tim phải mất khoảng thời gian dài hơn để co tạo 1 áp lực đủ để mở đƣợc
van động mạch chủ, đƣa máu vào động mạch chủ.
+ Thời gian tống máu (T tm) là thời gian từ điểm đầu đến điểm cuối
của dòng tống máu vào động mạch chủ (bình thƣờng: 30,3± 26,5ms). Khi
chức năng tâm thu thất trái giảm thì T tm thƣờng giảm, do sức cơ kém, chỉ
giữ đƣợc áp lực tống máu trong một khoảng thời gian ngắn.
+ Phân số huyết động (tỉ lệ T ttm/ T tm): bình thƣờng là 0,25± 0,05.
Khi chức năng tâm thu thất trái giảm, T ttm tăng và T tm giảm nên tỷ lệ
T ttm/ T tm tăng.
+ Cung lƣợng tim: tính trên phổ Doppler dòng chảy qua van động
mạch chủ (dựa vào vận tốc dòng chảy, thiết diện dòng chảy và tần số tim)
Q = VTI đmcx (d/2)
2
trƣơng và tính đàn hồi của cơ tim. Chức năng này chủ yếu đƣợc đánh giá qua
vận động của van hai lá ( trên TM), dòng chảy từ nhĩ xuống thất trái qua lỗ van
hai lá và dòng chảy của tĩnh mạch phổi đổ về nhĩ trái( Doppler xung).
- Siêu âm TM:
+ Trong các chỉ số TM của vận động van hai lá, dốc tâm trƣơng EF
đƣợc coi là chỉ số đánh giá chức năng tâm trƣơng thất trái, bình thƣờng dốc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 23
EF là 100,5± 23,8 mm/s. Trong rối loạn chức năng tâm trƣơng thất trái, dốc
tâm trƣơng này giảm.
- Siêu âm Doppler:
+ Các chỉ số dòng chảy qua van hai lá từ nhĩ trái xuống thất trái trong
thì tâm trƣơng đƣợc coi là những chỉ số chính trong đánh giá chức năng tâm
trƣơng thất trái, bao gồm:
Vận tốc dòng hai lá đầu tâm trƣơng ( sóng E): bình thƣờng 77,74±
16,95cm/s.
Vận tốc dòng đổ đầy cuối tâm trƣơng do nhĩ trái bóp ( sóng A):
62,02± 14,68 cm/s.
Tỷ lệ E/A: 1,33± 0,45.
Bình thƣờng biên độ sóng E lớn hơn sóng A. Do đó tỷ lệ E/A>1. Khi
luồng máu vào thất trái bị giảm trừ ở giai đoạn đổ đây sơm tâm trƣơng sẽ làm
biên độ sóng E giảm. Để bù trừ, nhĩ trái bóp mạnh hơn ở giai đoạn cuối tâm
trƣơng làm biên độ sóng A tăng lên do đó tỷ lệ sóng E/A<1.
Dốc giảm tốc sóng E: 435,57± 140,9 cm/s
2
Thời gian giảm tốc sóng E (dốc xuống- T dx): 187,33± 42,8 ms.
nhiều nghiên cứu tìm hiểu về chức năng tim trên bệnh nhân ĐTĐ.
Ilercil A và cộng sự ( 2001) nghiêm cứu 457 bệnh nhân ngƣời da đỏ có
rối loạn dung nạp glucose ở Hoa Kỳ nhận thấy tăng chiều dày thành thất trái
tâm trƣơng, VE/VA giảm [64].
Poirier P, Bogaty P, Garneau C nghiên cứu các rối loạn chức năng thất
trái ở bệnh nhân ĐTĐ không có THA ghi nhận bệnh cơ tim- ĐTĐ là một bệnh
cơ tim độc lập với bệnh mạch vành và THA, rối loạn chức năng tâm trƣơng
chiếm tỷ lệ 60% [75].
Alexander Tenenbaum và cs (2003) ghi nhận tăng đáng kể khối cơ thất trái ở
bệnh nhân nữ ĐTĐcó THA so không ĐTĐ là( 112,5± 29 so với 105±24 [54].
Bajrakatari (2006) ghi nhận ở bệnh nhân rối loạn dung nạp glucose có
sự khác biệt một số chỉ số siêu âm so với nhóm chứng: VE giảm, VA tăng,
VE/VA giảm [55].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 25
SM Shohail Ashraf R, Wachter và cộng sự ( 2007) cho thấy giá trị
trung bình của EF không biến đổi nhiều nhƣng rối loạn chức năng tâm trƣơng
thất trái chiếm tỷ lệ cao [77].
Nhƣ vậy, qua các nghiên cứu trên chứng minh có liên quan giữa tăng
glucose máu với rối loạn chức năng thất trái, đặc biệt rối loạn chức năng tâm trƣơng
1.5.2. Ở Việt Nam
Bắt đầu từ những năm 70, ở nƣớc ta đã áp dụng siêu âm tim trƣớc tiên
là ở Hà Nội, đến những năm 80 phát triển trên phạm vi cả nƣớc. Cho đến nay,
siêu âm Doppler tim đã trở thành phƣơng pháp quan trọng để đánh giá hình
thái và chức năng tim. Đã có nhiều tác giả đi đầu trong nghiên cứu về bệnh
ĐTĐ và biến chứng tim mạch trên bệnh nhân ĐTĐ.
Nguyễn Kim Thủy, Trần Văn Riệp đánh giá những thay đổi chức năng