Nghiên cứu sự liên quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương với biến đổi hình thái và chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 - Pdf 30

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
“Thế kỷ XXI là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa” dự báo của
các chuyên gia y tế từ những năm 90 của thế kỷ XX đã và đang trở thành hiện thực.
Trong đó đái tháo đường được xem là vấn đề cấp thiết của thời đại
[
3
]
. Bệnh đái tháo
đường chủ yếu là type 2 (85% - 95% trong tổng số bệnh nhân) đang là một trong
những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu với tốc độ phát triển nhanh
nhất hiện nay (Ung thư, Tim mạch và Đái tháo đường)
[
21
]
. Theo Liên đoàn đái tháo
đường quốc tế, đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ
năm ở các nước phát triển. Hàng năm nhân loại đã phải tiêu tốn hàng ngàn tỷ USD chi
phí trực tiếp cho bệnh
[
3
]
. Biến chứng của bệnh thường rất phổ biến, khi nói đến đái
tháo đường người ta liên tưởng ngay đến biến chứng tim mạch chiếm 75% bệnh nhân
và trên 50% bệnh nhân bị biến chứng tim mạch ngay lần đầu phát hiện bệnh. Điều đó
có nghĩa là biến chứng đã hình thành từ giai đoạn tiền đái tháo đường
[
22
]
. Bệnh
thường tiến triển âm thầm không có triệu chứng trong một thời gian dài, nếu không

cách nhanh chóng sẽ góp phần vào việc kiểm soát và điều trị suy tim có hiệu quả hơn.
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về dấu ấn sinh học này, Pudil R ghi nhận
nồng độ NT-proBNP liên quan một cách có ý nghĩa với đường kính cuối tâm thu, cuối
tâm trương thất trái và phân suất tống máu
[
75
]
.Theo Tschope C, nồng độ NT-proBNP
huyết tương là một yếu tố dự báo độc lập của rối loạn chức năng tâm trương [85].
Tại Việt Nam cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế - xã hội, tỉ lệ mắc bệnh
đái tháo đường đang có chiều hướng gia tăng
[
2
].
Việc định lượng NT-proBNP còn khá
mới mẽ và chưa được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng. Trong những năm gần đây, ở
nước ta đã có các công trình nghiên cứu nồng độ NT-proBNP trên bệnh nhân suy tim
[
10
],[
26
]
, suy thận mạn
[
27
]
, nhưng chưa có nghiên cứu trên người bệnh đái tháo đường.
Việc sử dụng dấu ấn sinh học này để phát hiện sớm suy tim ở giai đoạn im lặng có tầm
quan trọng đối với hiệu quả quản lý điều trị bệnh nhân đái tháo đường nhất là tại các
tuyến y tế cơ sở. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

[
1
].

Tỉ lệ mắc ở Việt Nam hiện nay khoảng 3,5
% trên toàn quốc và các thành phố lớn là 5,5 %
[
4
].
- Biến chứng cấp tính của ĐTĐ bao gồm các loại hôn mê (hạ đường huyết,
toan cetone, quá ưu trương, toan acid lactic). Biến chứng mãn tính như nhiễm trùng
(nhiễm trùng da, lao, nấm), mạch máu lớn (bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não,
mạch máu ngọai biên), mạch máu nhỏ (bệnh võng mạc, thận, thần kinh)
[
4
].

Biến chứng
mạn tính thường thấy ở người lớn tuổi khi mới phát hiện chiếm tỉ lệ 10 – 20 % bệnh lý
võng mạc, thận và 10 % biến chứng tim mạch và thần kinh. Trong đó bệnh tim mạch là
nguyên nhân chính gây tử vong ở người ĐTĐ
[
58
].

Bệnh lý tim mạch chiếm phần lớn tỉ
lệ tử vong ở BN ĐTĐ, biến chứng mạch máu nhỏ như thận, thần kinh, võng mạc và
mạch máu lớn như là xơ vữa động mạch vành, não, ngọai biên chiếm tỉ lệ xấp xỉ 80% tỉ
lệ tử vong và 75 % tỉ lệ nhập viện ở bệnh nhân đái tháo đường
[

hơn, thành thất trái dày hơn và khối cơ thất lớn hơn. Trong nghiên cứu Framingham off
spring, ghi nhận 2.623 BN không có tiền sử nhồi máu cơ tim hay suy tim, kiểm soát
glucose máu kém liên quan với tình trạng tăng khối cơ thất trái (p < 0,001), nữ nhiều
hơn nam (p = 0,054)
[
69
].
- Bệnh cơ tim ĐTĐ là bệnh lý tác động trên cơ tim BN ĐTĐ gây ra sự giãn rộng
bất thường về cấu trúc đưa đến phì đại thất trái và rối loạn chức năng tâm thu, tâm
trương hoặc cả hai. Đây là một thể bệnh cơ tim giãn gần như độc lập với tổn thương
động mạch vành và tăng huyết áp. Bệnh lý này liên quan đến rối loạn chuyển hóa gây
tổn thương vi mạch, thường xảy ra âm thầm nhiều năm trước khi có triệu chứng lâm
sàng
[
23
]
. Trên BN ĐTĐ, suy tim thường xảy ra thứ phát sau bệnh lý mạch vành (thiếu
máu cơ tim cục bộ, nhồi máu cơ tim) hay tăng huyết áp (THA) gây nên phì đại thất
trái. Ngược lại với 2 bệnh lý cơ tim nêu trên là bệnh lý cơ tim ĐTĐ là bệnh cơ tim phì
đại do tăng sản mô liên kết và thường liên quan đến bệnh lý vi mạch (tổn thương vi
mạch nội mạc)
[
23
]
. Phì đại cơ tim có thể gây hậu quả trên chức năng co bóp và tăng sự
5
nhạy cảm của cơ tim phì đại do thiếu máu, bên cạnh đó các tế bào cơ tim phì đại có sự
đề kháng với insulin
[
22

[
22
]
.
- Rối loạn chuyển hóa acide béo: Do nồng độ insulin thấp hoặc do giảm tác
dụng sinh học của insulin (đề kháng insulin) do thoái biến chất mỡ ở trong tế bào mỡ ít
bị ức chế làm gia tăng nồng độ acid béo tự do huyết tương. Điều này dẫn đến sự gia
tăng thu nhận acid béo tự do, thu nhận và oxy hóa glucose lactate đều bị giảm. Nồng
độ cao của acide béo và rối loạn sự kiểm soát oxy hóa acid béo là những yếu tố chính
làm gia tăng oxy hóa acid béo
[
22
]
.
1.2.2. Thay đổi cấu trúc cơ tim Đái Tháo Đường
6
- Về phương diện giải phẫu bệnh lý, bệnh cơ tim ĐTĐ có thể nguyên phát với
sự lắng đọng glycoprotein và collagene bất thường trong tổ chức kẽ của cơ tim làm gia
tăng sự cứng cơ tim. Có tổn thương cơ chất ngoài tế bào do sự tích lũy collagen không
hòa tan và gia tăng tân sinh mạch máu ngoại biên và xơ hóa tổ chức kẽ mà không có
tổn thương động mạch vành và THA. Có sự hiện diện chất glycoprotein trong thành
các tiểu động mạch nhưng lại không tìm thấy ở mao mạch. Về phương diện vi thể cơ
tim bị xơ hóa từng vùng và hiện tượng tiêu hủy các tế bào cơ lân cận, dày màng đáy
mao mạch, thâm nhiễm tế bào nội mạc và lắng đọng các chất mucopolysaccharide, các
phình vi mạch ở các tiểu động mạch vành trong cơ tim. Có sự gia tăng chết tế bào theo
chương trình, như thể là một trong những cơ chế góp phần vào dự hậu xấu của BN
ĐTĐ sau nhồi máu cơ tim
[
22
]

13
]
.
7
- So với người không bị ĐTĐ, BN ĐTĐ thường có nguy cơ cao về tỉ lệ mắc
bệnh và tử vong do suy tim tại bệnh viện. Mặc dù bệnh lý mạch vành thường nặng ở
BN ĐTĐ với tần suất tăng gấp đôi, thường không thấy nhồi máu rộng khi đánh giá qua
sự phóng thích creatine kinase, xạ hình tâm thất hoặc siêu âm tim. Tuy nhiên qua nhiều
nghiên cứu ghi nhận suy tim sung huyết thường gặp ở BN ĐTĐ và trầm trọng hơn là
nếu chỉ dự đoán qua kích thước của ổ nhồi máu
[
23
]
.
1.2.4. Suy tim và đái tháo đường
- Suy tim ứ huyết là 1 hội chứng hay một nhóm các dấu hiệu và triệu chứng gây
ra bởi tim không còn khả năng đáp ứng các nhu cầu chuyển hóa của cơ thể mà chủ yếu
là nhu cầu oxy, bằng các cơ chế bù trừ thường dùng khác nhau của cơ thể và tim
[
19
]
.
Triệu chứng của suy tim gây ra bởi bất thường chức năng tâm thu dẫn đến giảm khả
năng tống máu hay bất thường chức năng tâm trương làm giảm khả năng đổ đầy thất
hay cả hai
[
48
]
.
- Suy tim là vấn đề lớn của nhân loại vì số người suy tim ngày càng tăng. Tại

[
19
]
.
. Phì đại tâm thất: Lực căng thành thất là một trong những yếu tố chủ yếu
tiêu thụ oxy cơ tim, và bất kỳ một sự tăng lực căng thành thất nào gây ra bởi sự tăng áp
lực cuối tâm thu (quá tải áp lực, thể tích) sẽ kích thích tim tạo ra nhiều đơn vị hơn.
Tổng số các sợi cơ vân trong tim tăng lên làm cho chiều dày của thành tâm thất tăng.
Do đó lực căng thành thất sẽ giảm xuống. Các kiểu dày thất:
. Quá tải áp lực mạn tính đáp ứng với kiểu gọi là dày thất đồng tâm. Tâm thất có
thể tích cuối tâm trương bình thường, nhưng thành tâm thất dày hơn bình thường.
. Quá tải thể tích tim thì biểu hiện kiểu dày thất xa tâm, tăng thể tích cuối tâm
trương, áp lực cuối tâm thu bình thường. Như vậy độ dày của thành thất cần thiết để
điều chỉnh lại lực căng thành thất, không cần nhiều bề dày thành thất chỉ tăng nhẹ mặc
dù khối lượng toàn bộ cơ tim tăng lên đáng kể
[
19
]
.
+ Bù trừ ngoài tim:
. Kích thích hệ thần kinh giao cảm: Khi có suy tim hệ thần kinh giao cảm bị
kích thích, lượng catecholamin từ các đầu tận cùng các sợi giao cảm hậu hạch được tiết
ra nhiều làm tăng sức co bóp của cơ tim và tăng tần số tim. Cường giao cảm sẽ co
mạch ngọai vi như da, cơ, thận, các tạng bụng để ưu tiên tưới máu cho não và tim

[
19
]
.
. Kích thích hệ Renin – Angiotensin – Aldosteron: tăng hoạt hóa giao cảm và


- Phân loại suy tim:
+ Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, là hậu quả của tổn thương thực
thể hay rối loạn chức năng quả tim dẫn đến tâm thất không đủ khả năng tiếp nhận máu
(suy tim tâm trương) hoặc tống máu (suy tim tâm thu)
[
15
],[
19
]
. Có nhiều cách phân loại
suy tim: suy tim cấp và suy tim mạn, suy tim phải và suy tim trái, suy tim phía trước và
suy tim phía sau, suy tim cung lượng cao và suy tim cung lượng thấp, suy tim tâm thu
và suy tim tâm trương.
+ Suy tim tâm trương xảy ra khi thất mất khả năng nhận máu bình thường từ nhĩ
trái. Khi sự thư giãn thất không bình thường thì sự đổ đầy thất sẽ bị kéo dài
[
80
]
. Suy
tim tâm trương thường khởi đầu bằng rối loạn chức năng thất trái trong khi chức năng
tâm thu còn bình thường. Trên lâm sàng phần lớn tình trạng RLCNTTr âm thầm
không có triệu chứng kéo dài nhiều năm rồi mới xuất hiện triệu chứng suy tim sung
huyết
[
23
].

+ Suy tim tâm thu khởi đầu là RLCNTT thất trái ở BN ĐTĐ chỉ xảy ra khi số
lượng tế bào cơ tim bị mất chức năng đáng kể

giai đoạn tiến triển của bệnh. Việc phân chia giai đoạn theo ACC/AHA là bức tranh
toàn cảnh trong tiến trình suy tim từ nguy cơ suy tim đến suy tim giai đoạn kháng trị.
Do đó Hunt SA và c/s (2001) phân suy tim ra nhiều giai đoạn.
Có nguy cơ suy tim Suy tim
Giai đoạn A
Sơ đồ 1.1. Các giai đoạn tiến triển của suy tim
[
15
]
Giai đoạn A
Nguy cơ cao suy tim
không bệnh tim thực
thể hoặc triệu chứng
cơ năng suy tim
Giai đoạn B
Có bệnh tim thực
thể nhưng không
triệu chứng suy tim

Giai đoạn C
Có bệnh tim thực
thể trước kia hoặc
hiện tại có triệu
chứng cơ năng
suy tim
Giai đoạn D
Suy tim kháng trị
cần can thiệp đặc
biệt
Td:

nặng lúc
nghĩ , mặc
dù điều trị
nội tối đa
(nhập viện
nhiều lần )
Thực
Thể
kháng
trị lúc
nghỉ
Tiến
triển đến
triệu
chứng cơ
năng suy
tim
T/c

năng
Bệnh
tim
11
1.3. CÁC PHƯƠNG TIỆN CẬN LÂM SÀNG ĐÁNH GIÁ CƠ TIM ĐTĐ
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.3.1. Xquang ngực thẳng sau trước
1.3.2. ECG: Điện tim chuẩn giúp ích việc đánh giá loạn nhịp, thiếu máu cơ tim cục bộ
và phì đại thất trái
[
12

16
],[
33
]
Đo
M-mode
Nữ Nam
Bình
thường
Tăng nhẹ
Tăng
vừa
Tăng
nặng
Bình
thường
Tăng nhẹ Tăng vừa
Tăng
nặng
LVMI 43- 95 96 - 108 109-121 ≥122 49 – 115 116 -131 132- 148 ≥ 149
Độ dày
thành
tương
đối
0,22- 0,42 0,4- 0,47 0,4-0,52 ≥0,53 0,24-0,42 0,43-0,46 0,47-0,51 ≥ 0,52
Độ dày
vách
0,6- 0,9 1,0 - 1,2 1,3-1,5 ≥1,6 0,6 – 1.0 1,1-1,3 1,4- 1,6 ≥ 1,7
Độ dày
thành sau

33
]
:
Tuổi già thì biên độ E giảm có thể làm đảo ngược E/A. Đặc biệt ở người
già không có bệnh tim, phải cân nhắc khi kết luận rối loạn chức năng tâm trương độ I.
Bởi vì thường khi > 60 tuổi hay có tỉ E/A <1 và Dt > 200 ms. Trong trường hợp này,
nếu như không có phì đại thất trái chỉ nên coi đó là bình thường theo tuổi
[
34
].
Nhịp tim nhanh làm sóng E và A chập vào nhau, vận tốc sóng E và tỉ
lệ E/A sẽ giảm khi tần số tim tăng lên.
Tiền gánh giảm làm biên độ sóng E giảm theo và kéo dài thời gian giảm
tốc, và ngược lại. Theo ASE - 2005 bình thường 0,75 < tỉ lệ E/A <1,5 và không có đảo
ngược tỉ lệ E/A khi làm nghiệm pháp Valsava
[
27
] .
+ Thao tác Valsalva: Sẽ làm thay đổi tiền gánh và là biện pháp đơn giản nhất để
làm giảm sự đầy máu của nhĩ trái (làm giảm áp lực nhĩ trái). Biên độ sóng E khi đó sẽ
13
giảm 20 % trong khi sóng A giảm ít hơn. Ở người có mẫu giả bình thường trên phổ
Doppler dòng chảy qua van 2 lá (E/A >1) nghiệm pháp này sẽ làm rõ sự suy giảm chức
năng giãn của thất trái, kết quả là trở lại dạng E/A. Đối với người có mẫu Doppler kiểu
giới hạn làm đầy máu thất nhưng còn nhạy cảm với gánh (tức loại có hồi phục) thì thao
tác này sẽ đưa mẫu Doppler về dạng giả bình thường hoặc dạng giảm thư giãn. Loại
hạn chế không hồi phục thì không thay đổi khi làm nghiệm pháp

[
33

Sơ đồ 1.2. Phân độ rối loạn chức năng tâm trương thất trái theo ASE - 2009
[
34
].
Dòng chảy van 2 lá
15
Sơ đồ 1.3. Phân độ rối loạn chức năng tâm trương thất trái
[
33
]
Art : Thời gian sóng A/dòng chảy tĩnh mạch phổi
At : Thời gian sóng A/dòng chảy qua van 2 lá
Em : Sóng E Doppler mô
E : Sóng E /dòng chảy qua van 2 lá
1.3.4. NT – proBNP trong huyết tương
- Peptide lợi niệu ảnh hưởng đến sự cân bằng nước và muối
[
47
].

Peptide lợi niệu
type-B còn được gọi là peptide lợi niệu não (BNP: Brain natriuretic peptide), được phát
E/A > 1,5
Dòng chảy TMP hoặc thao
tác valsalva , M mode hoặc
Doppler mô
Một dấu chứng sau
AR > 0,35
ARt > At + 30 ms
Đảo ngược E/A

phục
0,75 < E/A <1,5
16
hiện năm 1988 sau khi phân lập não heo. BNP có nguồn gốc từ tim được phóng thích
từ tâm nhĩ và thất, nguồn BNP ngoài tim còn được tìm thấy ở não, phổi, thận, động
mạch chủ
[78]
. BNP thuộc nhóm peptide lợi niệu gồm 6 lọai: peptide lợi niệu nhĩ (ANP:
atrial natriuretic peptide), peptide lợi niệu type-C (CNP: C-type natriuretic peptide),
peptide lợi niệu type -D (DNP: D-type natriuretic peptide) và peptide lợi niệu type-V
(VNP: V-type natriuretic peptide) và peptide thận
[
78
]
. Pre-proBNP được phân tách
nhờ các enzyme thành tiền hormon, pro BNP được tách ra thành BNP hoạt hóa về mặt
sinh học và NT – proBNP bất hoạt nhưng bền vững hơn. BNP và NT – proBNP được
tổng hợp và tiết ra từ tế bào cơ tim thất, phóng thích vào hệ tuần hoàn với nồng độ
hằng định, có khả năng chẩn đoán, tiên lượng một số bệnh tim mạch[5].
- Cấu trúc phân tử và sự tạo thành NT – proBNP: Sau khi dịch mã gen BNP, sản
phẩm đầu tiên của BNP là pre – proBNP
1-134 .
Peptid này nhanh chóng tách bỏ 26
-amino acid để tạo thành prohormone với 108 – amino acid , – pro BNP
1-108
, sau đó
pro BNP
1-108
được chia tách bởi các men thủy phân protein gồm Furin và corin thành 2
phần: đoạn cuối 76 – amino acid (NT- pro BNP

máu tĩnh mạch trở về tăng lên [5],
[
43
],[
59
]
. Các Peptid lợi niệu làm giảm thể tích máu
qua tác động hiệp đồng ở não, thượng thận, thận và mạch máu. Tại hệ thần kinh trung
ương, nó ức chế sự thèm muối và cảm giác khát, ức chế sự tiết vasopressin và
corticotropin và giảm lưu lượng máu ở não. Tại thận có sự tăng độ lọc cầu thận thông
qua sự giãn tiểu động mạch đến và co tiểu động mạch đi. Tại các ống góp vùng tủy
thận, gia tăng các GMP vòng nội bào làm ức chế kênh Natri và dẫn đến bài xuất Natri
trong nước tiểu. Tác dụng lợi tiểu này được tăng cường thông qua sự ức chế Renin,
cũng như ức chế tác dụng của Vasopressin trên ống góp. Trong hệ tuần hòan,
NT –proBNP có nồng độ thấp gây giảm sức cản ngoại biên và giảm huyết áp, khi nồng
độ cao sẽ gây tăng sức cản ngoại biên và tăng huyết áp.
pre – pro BNP
1-134
26 amino acide

pro BNP
1-108
NT
– pro BNP
1-76
BNP
1-32
pro BNP
1-108
DPP –IV Meprin A

,
[
29
],[
87
]
.
Ngày nay dấu ấn sinh học này được sử dụng rộng rải trên thực hành lâm sàng khắp thế
giới và được đề cập trong khuyến cáo của Hội Tim Mạch Việt Nam
[
11
]
. NT-proBNP
có vai trò như dấu ấn sinh học trong tiên lượng nguy cơ suy tim, chẩn đoán ước lượng
độ nặng trong suy tim. Chất chỉ điểm sinh học giúp chẩn đoán suy tim bao gồm NT-
proBNP, Mid-regional proBNP và BNP. Các peptide bài natri giúp chẩn đoán 4 giai
đọan A, B, C, D của suy tim, đồng thời giúp lượng định tiên lượng và theo dõi điều trị
[30]
, có ích lợi để phát hiện rối loạn chức năng thất trái
[
70
]
, cũng như có giá trị tiên
đoán âm tính để loại bỏ nhanh các biến cố tim mạch ở BN ĐTĐ
[
59
].

Nó còn khả năng
dự báo tử vong và bệnh lý tim mạch mạnh hơn CRP

tim. Qua nhiều công trình nghiên cứu nhận thấy NT - proBNP - một phương tiện khách
quan có liên quan mật thiết với phân độ NYHA
[
81
]
.
- NT- proBNP là xét nghiệm tầm soát rối loạn hình thái & chức năng thất trái:
NT-proBNP tương quan thuận với kích thước, thể tích và khối cơ thất trái, đồng thời
tương quan nghịch với EF [7]

và với các giá trị rối loạn chức năng tâm trương
[
83
]
. Cả 2
BNP và NT-proBNP đánh giá RLCNTT thất trái nặng (EF ≤ 40 %) tốt hơn là
RLCNTT vừa phải (EF ≤ 50 %)
[
77
]
. Mới đây nhiều khảo sát mở rộng cho thấy NT-
proBNP có thể tăng trong phì đại thất trái, RLCNTT thất trái có hoặc không có
RLCNTTr, bệnh lý van tim, rung nhĩ, và tăng áp phổi. Suy tim tâm trương thường xảy
ra ở người lớn tuổi đặc biệt phụ nữ, những nghiên cứu dự báo về giá trị BNP trong
RLCNTTr đã được mở rộng giới hạn ở nam giới. Tác giả đã tìm thấy rằng ở phái nữ
thêm vào RLCNTTr là yếu tố tiên đoán độc lập của mức BNP ở người lớn tuổi ngoài
RLCNTT. Dữ liệu của tác giả chỉ ra rằng sự tối ưu ban đầu của BNP để phát hiện
RLCNTTr nên cụ thể là giới tính
[
77

[
57
]
. Epshteyn và cộng sự tầm soát bệnh ở BN ĐTĐ có và
không có triệu chứng tại phòng khám ngoại trú. BN có bất thường chức năng tâm thu
và hoặc chức năng tâm trương trên siêu âm tim có nồng độ BNP cao hơn có ý nghĩa so
với người có siêu âm tim bình thường. Giá trị của NT-proBNP tăng ở BN ĐTĐ sẽ gợi
ý rối loạn chức năng thất trái, bệnh động mạch vành và dự báo nguy cơ tử vong[8].
Trong khi sử dụng NT-proBNP để tầm soát bệnh trong dân số có vẻ khỏe mạnh còn
đang bàn cãi, thì việc sử dụng nó để tầm soát BN có nguy cơ cao mắc bệnh tim (lớn
hơn 60 tuổi, ĐTĐ, THA, bệnh mạch vành đã biết) có rất nhiều triển vọng
[
57
].

- Định lượng NT – pro BNP huyết tương:
+ Phân tích sinh hoá NT-proBNP được tiến hành bằng xét nghiệm miễn dịch
điện hoá phát quang ECLIA (Electrochemiluminescence immunoassay) theo nguyên lý
xét nghiệm bắt cặp. Dùng 2 kháng thể đa dòng để kết hợp kháng nguyên tại vị trí đã
bộc lộ là 1-21 và 39-50. Một vị trí được đánh dấu với Biotin và vị trí khác được đánh
dấu bằng phức hợp Ruthenium, để gắn với NT-proBNP hình thành phức bộ kẹp. Sự
phát hiện được hỗ trợ bởi chất Streptavidin được đánh dấu vi mảnh. Phức hợp này sau
đó được gắn kết thông qua phản ứng Biotin-Streptavidin[5].
. Thời kỳ ủ đầu tiên: kháng nguyên có trong mẫu thử (15 μl) kháng thể
đơn dòng đặc hiệu kháng NT proBNP được gắn với biotin, và kháng thể đơn dòng đặc
hiệu kháng NT-proBNP gắn với phức hợp Ruthenium gắn kết với nhau tạo ra một phức
hợp bắt cặp kháng thể - kháng nguyên – kháng thể.
. Thời kỳ ủ thứ 2: Thêm vi hạt phủ streptavidin vào, phức hợp miễn dịch
trở nên gắn kết với pha rắn thông qua sự tương tác của biotin và streptavidin. Hỗn hợp
phản ứng được chuyển tới buồng đo, ở đó các vi hạt đổi từ được bắt giữ lên bề mặt của

chứng nhận giá trị NT-proBNP 450ng/L cho người ≥75 tuổi có thể hữu ích hơn trị số
250-300 ng /L, nhiều điểm cắt liên quan đến tuổi vẫn còn cần phải chuẩn hóa. Khác với
tuổi, giới cũng ảnh hưởng đến NT-proBNP, nữ có trị số cao hơn nam. Tuy nhiên khác
biệt này ít và không quan trọng trên BN ngọai trú, vì vậy có thể sử dụng cùng một
điểm cắt cho cả nam và nữ
[
56
] .
Bảng 1.3. Nồng độ NT- proBNP huyết tương ở đối tượng khỏe mạnh
[
63
]
NT-ProBNP
Tuổi 49-59 Tuổi >60
Nam Nữ Nam Nữ
Trung vị (ng/L)
Trung bình (ng/L)
Trung bình + 2SD (ng/L)
Bách phân vị thứ 97,5 (ng/L)
20
28
82
100
49
61
145
164
40
53
143

.
1.4. Tình hình nghiên cứu về biến đổi hình thái, chức năng thất trái trên BN ĐTĐ
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
- Đến năm 2001, tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ của nội thành tại 4 thành phố lớn là 4,0%,
tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose là 5,1%
[2] .

- Rối loạn hình thái và chức năng thất trái:
Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hải Thủy, Nguyễn Anh Vũ (2006 – 2007)
ghi nhận phì đại thất trái ở BN ĐTĐ là 61,67%, trong đó nhóm không THA là 60%
[
1
]
,
[
23
]
. Qua nghiên cứu bệnh cơ tim của 60 BN ĐTĐ type 2 có THA và không THA, ghi
nhận tỉ lệ béo phì trung tâm chiếm 43,33% (nữ: 54,05%; nam: 26,09 %,p <0,05) giá trị
ở nhóm BN không THA như sau: chỉ số khối cơ thất trái lớn là 60%, LVMI là 108,92
± 34,80 g/m
2
(p <0,05). Chỉ số Sokolow-Lyon là 30,9 ± 6,13 mm (p > 0,05). Khoảng
QTc là 428,37 ± 27,62 ms (p <0,05). Chiều dày vách liên thất tâm trương (IVDd) của
nam là 0,95 ± 0,16 cm, và nữ là 1,01 ± 0,23 cm

[
1
],[
23

20-50 có đợt cấp của suy tim mạn, ghi nhận nồng độ NT-ProBNP tăng có ý nghĩa đối
với nhóm BN suy tim so với nhóm chứng (p <0.001). Giá trị nồng độ NT-ProBNP ở
nhóm chứng là 36.94 ± 24.43, nhóm bệnh là 4.190,94 ± 4.913,15. Phân độ suy tim độ
1, 2, 3, 4 theo NYHA ở nhóm nam lần lượt có tỷ lệ là 0%; 16%; 24%; 8%. Phân độ suy
tim độ 1, 2, 3, 4 theo NYHA ở nhóm nữ lần lượt có tỷ lệ là 0%, 16%, 28%, 8%. Giá trị
bình thường của NT-proBNP ở người <50 tuổi là 31,88 ± 57,68 pg/ml đối với nam và
43,38 ± 32,86 pg/ml đối với nữ (trung bình ± 2 x độ lệch chuẩn, khỏang tin cậy 95%)
[
26
]
. Điểm cắt tối ưu của NT-proBNP là 81,07 pg/ml ứng với độ nhạy là 96% và độ đặc
hiệu 92%, giá trị dự báo dương tính 92,31%, giá trị dự báo âm tính 95,83%; vùng dưới
ROC: 0,9696
[
26
]
. Nồng độ NT-ProBNP tương quan thuận với độ trầm trọng của suy
tim theo phân độ NYHA, r = 0,90 (p <0,001). Giá trị nồng độ NT-proBNP ở phân độ
NYHA 1, 2, 3, 4 lần lượt là 928,95 ± 712,48 pg/ml; 4.536,57 ± 3.468,31 pg/ml;
24
10.663,48 ± 6.418,27 pg/ml. Có sự tương quan nghịch giữa nồng độ NT-proBNP với
EF (r = - 0.4705, p <0.001)
[
26
]
.
Nguyễn Thị Thu Dung ghi nhận nồng độ NT-proBNP trong máu tăng
dần theo quá trình tiến triển của suy tim theo ACC/AHA: tăng vừa ở nhóm nguy cơ
suy tim có tổn thương thực thể tim, tăng mạnh ở nhóm suy tim giai đoạn C và tăng
mạnh mẽ nhất ở nhóm suy tim giai đoạn kháng trị D. NT-proBNP có giá trị cao trong

các nước phát triển và tỉ lệ này thậm chí còn cao hơn ở các nước đang phát triển
[2].
Galderist và cộng sự ghi nhận 22 % tăng khối cơ thất trái ở BN nữ ĐTĐ và gần đây phì
đại thất trái ghi nhận chiếm tỉ lệ 1/3 BN ĐTĐ không liên quan đến áp lực máu
[
23
]
.
Nghiên cứu dịch tễ ở Scotland cho thấy tần suất là 2,9% dân số và có tới 50%
BN rối loạn chức năng thất không triệu chứng suy tim
[
31
].
Hiện nay tỉ lệ suy tim đang
gia tăng mạnh mẽ, cứ tăng lên mỗi 2 lần sau một thập kỷ, đặt ra nhiều vấn đề về sức
khỏe cộng đồng. Theo Framingham, đối với BN ĐTĐ tỉ lệ suy tim tăng từ 2-5 lần so
với người không có ĐTĐ. Bên cạnh bệnh cơ tim ĐTĐ, các rối loạn cơ quan khác như
bệnh thận ĐTĐ, võng mạc, thần kinh và các biến chứng khác làm tỉ lệ tử vong do suy
tim ở BN ĐTĐ tăng lên đáng kể. Gustafsson nghiên cứu thấy rằng suy tim ở BN ĐTĐ
làm tăng nguy cơ tử vong ở nữ nhiều hơn nam với tần suất nguy cơ theo thứ tự là 1,4
(95% CI 1,0 -1,6; p < 0,001) và 1,7 (95% CI 1,4 - 1,9; p < 0,001).
Poirier, Bogaty P, Garneau C nghiên cứu các rối loạn chức năng thất trái trên
BN ĐTĐ không có THA ghi nhận bệnh cơ tim ĐTĐ là một bệnh cơ tim độc lập, độc
lập với bệnh mạch vành và THA. RLCNTTr thất trái chiếm tỉ lệ 28/46 (60%). Trong đó
giả bình thường chiếm 28% và rối loạn thư giãn là 32%
[
1
]
.
Persson H nghiên cứu 312 BN, tuổi trung bình là 66 ± 11, EF là 50 ± 10 và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status