Tiểu luận: Các phương pháp và hình thức KTĐG theo định hướng phát triển năng lực
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ
KHOA SINH HỌC
µ
TIỂU LUẬN
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
TÊN ĐỀ TÀI:
CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Giảng viên hướng dẫn: Học viên thực hiện:
TS. Văn Thị Thanh Nhung Nguyễn Thị Hải Lý
Lớp LL&PPDHBM Sinh học
K22
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý- Lớp LL&PPDHBM Sinh học K22 Page 1
Tiểu luận: Các phương pháp và hình thức KTĐG theo định hướng phát triển năng lực
HUẾ, 04/ 2015
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Mở đầu
Nội dung
1.Đánh giá quá trình 3
1.1.Đánh giá lớp học 5
1.1.1.Đặc điểm của đánh giá trong lớp học 5
1.1.2. Đánh giá thông qua các bài kiểm tra trong lớp học 6
1.1.3. Đánh giá thông qua vấn đáp, thảo luận 6
1.1.4. Đánh giá thông qua quá trình quan sát trong quá trình dạy học 7
1.1.4.1.Đánh giá thông qua sử dung bảng quan sát: 8
Theo C.Boston (2009), sử dụng đánh giá mang tính chất chẩn đoán nhằm
cung cấp phản hồi cho người dạy và người học trong suốt quá trình giảng dạy gọi
là đánh giá quá trình.
Đánh giá quá trình chỉ những hoạt động kiểm tra đánh giá được thực hiện
trong quá trình dạy – học, có ý nghĩa nghĩa phân biệt với những hoạt động được
thực hiện tại những thời điểm khác nhau như kiểm tra đánh giá trước khi bắt đầu
dạy học (đánh giá xếp lớp) hoặc sau khi kết thúc quá trình này (đánh giá tổng
kết).
Black và Wiliam (1998) định nghĩa đánh giá theo nghĩa rộng bao gồm tất
cả các hoạt động mà người dạy và người học đã thực hiện để thu thập thông tin
phản hồi về KQHT của người học. Những thông tin phản hồi này có thể được sử
dụng để điều khiển quá trình giảng dạy và học tập. Việc đánh giá trở thành quá
trình khi thông tin được sử dụng để điều khiển việc giảng dạy và học tập sao cho
đáp ứng được các nhu cầu của người học.
Đánh giá quá trình thực hiện chức năng đánh giá để phục vụ quá trình dạy -
học. Với mục đích lấy thông tin phản hồi cho HS và GV, mối quan tâm của FA là
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý- Lớp LL&PPDHBM Sinh học K22 Page 3
Tiểu luận: Các phương pháp và hình thức KTĐG theo định hướng phát triển năng lực
hiệu quả của hoạt động giảng dạy trogn việc phát triển khả năng của người học
chứ không phải là việc chứng minh HS đã đạt được một mức thành tích nào đó.
Với chức năng này, FA bao gồm bất kỳ dạng hoạt động nào có khả năng giúp GV
và HS đánh giá được hiệu quả của các hoạt động giảng dạy cũng như kết quả tiếp
thu của các em, nhằm chỉ ra những bước tiếp theo cần thực hiện để phát triển
năng lực của học sinh theo mục tiêu đã đề ra. Nói cách khác, FA không chú trọng
xác định thành tích của HS mà chú trọng giúp HS và GV hiểu được những điểm
mạnh, điểm yếu và những lỗ hổng kiến thức của từng em để có kế hoạch kịp thời
phát huy hoặc khắc phục chúng.
Không giống như đánh giá tổng kết thường ghi kết quả bằng điểm số, kết
quả đánh giá theo FA có thể là những lời phát biểu miệng, những ghi chú trên bài
viết của bạn học, những lời phê của GV, hoặc tất nhiên cũng có thể là điểm số,
đánh giá kết quả học tập, thành tích thông qua thi cử (đánh giá cấp quốc gia, cấp
tỉnh – thành phố, cấp trường), đánh giá lớp học (bài kiểm tra trên lớp, vấn đáp,
thảo luận, quan sát trong quá trình học, tự đánh giá), đánh giá qua hồ sơ học tập
và đánh giá qua sản phẩm, tài liệu viết( bài tập về nhà, báo cáo, bài luận).
1.1. Đánh giá lớp học
Đánh giá lớp học là một phương pháp tiếp cận dạy học và một tập hợp của
các kỹ thuật. Cách tiếp cận này có nghĩa là người dạy càng biết nhiều về những gì
và làm thế nào người học đang học thì giáo viên có thể lập kế hoạch cho các hoạt
động dạy tốt hơn. Các kỹ thuật hầu hết đều đơn giản, không được xếp loại. Các
hoạt động trong lớp học đem lại cho cả người học và người dạy những thông tin
phản hồi hữu ích về quá trình dạy và học.
Đánh giá lớp học khác với kiểm tra và các hình thức đánh giá học tập khác ở chỗ
nó là nhằm cải thiện quá trình không phải là đánh giá tổng kết. Mục tiêu chính là
để hiểu rõ hơn việc học tập của người học và do đó để cải thiện quá trình dạy học.
Ví dụ: Để đánh giá lớp học giáo viên có thể lập phiếu điều tra, khảo sát lớp học
hoặc kiểm tra khảo sát đầu năm học bằng hệ thống các câu hỏi. Qua kết quả thu
được giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy phù hợp.
1.1.1. Đặc điểm của đánh giá trong lớp học
- Tập trung vào quan sát và cải thiện việc học hơn là quan sát và cải thiện việc
dạy.
-Cá nhân người dạy quyết định đánh giá cái gì, cách đánh giá và cách đáp ứng lại
các thông tin thu được thông qua đánh giá.
- Người học củng cố được nội dung học tập và kỹ năng tự đánh giá, người dạy
làm rõ thêm trọng tâm dạy học bằng cách tập trung vào 3 câu hỏi: Các kỹ năng và
kiến thức cần thiết tôi đang cố gắng dạy là gì?Tôi có thể phát hiện ra liệu người
học có học hay không bằng cách nào?Và làm thế nào tôi có thể giúp người học
học tập tốt hơn?
- Mục đích là cải thiện chất lượng học tập của người học , không phải cung cấp
bằng chứng để đánh giá và quyết định việc học trên lớp, nó cung cấp thông tin về
cái gì người học đang học, họ được bao nhiêu và học tốt như thế nào?
chủ đề theo nhóm 2 người hay theo các nhóm nhỏ, sau đó yêu cầu đại diện nhóm
chia sẻ suy nghĩ với nhóm lớn hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài 25: Tiêu hóa ở khoang miệng (Sinh học 8).
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý- Lớp LL&PPDHBM Sinh học K22 Page 6
Tiểu luận: Các phương pháp và hình thức KTĐG theo định hướng phát triển năng lực
GV hướng dẫn HS làm thí nghiệm nhai cơm (bánh mỳ), thảo luận cặp, trả lời câu
hỏi:
- Vì sao khi ta nhai cơm (bánh mỳ) lâu trong miệng thấy có cảm giác ngọt?
(HS: Enzim amilaza đã làm biến đổi tinh bột thành đường mantozơ)
- Hoạt động tiêu hóa chủ yếu ở khoang miệng là gì?
(HS: Biến đổi lý học)
- Hãy giải thích nghĩa đen về mặt sinh học của câu thành ngữ “Nhai kĩ no
lâu”.
Như vậy, thông qua vấn đáp GV có thể đánh giá được năng lực của HS. Từ đó,
GV điều chỉnh được cách học cũng như phương pháp dạy của GV.
Trong quá trình vấn đáp, GV chú ý:
+ Yêu cầu học sinh tóm tắt các ý chính mà các em vừa thu được từ bài
giảng, cuộc thảo luận hay bài tập được giao.
+ Cho HS làm một số câu hỏi, bài tập hay trả lời các câu hỏi sau khi GV
hướng dẫn bài học xong.
+ Hỏi HS về những suy nghĩ của các em khi giải quyết các vấn đề đặt ra
trong bài học.
GV nên sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực nhằm phát huy hiệu quả khả năng
cá nhân kết hợp hoạt động nhóm như: kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật lược đồ tư
duy, kỹ thuật tia chớp, kỹ thuật động não…
1.1.4. Đánh giá thông qua quá trình quan sát trong quá trình dạy học
Đánh giá thông qua quan sát trong giờ học có thể sử dụng bảng quan sát hoặc
không sử dụng bảng quan sát mà chỉ quan sát tự do và ghi chép lại như nhật ký
dạy học.
1.1.4.1.Đánh giá thông qua sử dung bảng quan sát:
Tham gia hoạt
động nhóm
Rất
chăm
chú
Bình
thườn
g
Chưa
chăm
chú
Tích
cực
Bình
thường
Chưa
tích
cực
Tích
cực,
hiệu
quả
Tích
cực,
chưa
hiệu
quả
Chưa
tích
cực
1
2
Ví dụ 2. Bảng quan sát về thái độ chuẩn bị mẫu vật, phương tiện học tập và
thái độ trong giờ thực hành
Ngày tháng năm Tiết Bài: Lớp:
TT Họ và tên
HS
Chuẩn bị mẫu vật/ Phương
tiện học tập
Tháiđộ thực hành
Có chuẩn bị Không
chuẩn
bị
Tích
cực,
hiệu
quả
Tích
cực,
chưa
hiệu
quả
Chưa
tích cực
Đầy đủ/
Mẫu tốt
Chưa
đầy đủ/
Mẫu
không
Hoàn thành tốt công việc
được giao. Đóng góp ý kiến
đúng
1
1 điểm
Tích cực,
chưa hiệu quả
Tích cực tham gia các hoạt
động của nhóm nhưng đóng
góp ý kiến chưa đúng
0,5
Chưa tích cực Không hoặc ít tham gia các
hoạt động của nhóm
0
Mức độ tập
trung chú ý
Cao Ghi bài đầy đủ, chú ý nghe
giảng. Tích cực phát biểu và
tham gia hoạt động nhóm
1
1 điểm
Bình thường Ghi bài đầy đủ, chú ý nghe
giảng.
0,5
Chưa tập
trung
Lơ đãng, làm việc riêng 0
1.1.4. 2. Quan sát không sử dụng bảng:
GV có thể viết nhật ký giảng dạy theo từng ngày và theo từng lớp, ghi chép
các hoạt động xảy ra trong mỗi giờ học, sau đó lưu ý với HS: GV đã ghi chép
và O
2
trong không khí
2 Thực vật có vai trò quan trọng trong việc điều
hòa khí hậu, tăng lượng mưa của khu vực.
3 Những nơi có nhiều cây cối như ở vùng núi
thường có không khí trong lành.
4 Người ta nói: “Rừng cây như một lá phổi
xanh của con người”
5 Cần phải tích cực trồng cây gây rừng
6 Nên trồng một đến vài cây bóng mát ở vườn
nhà
7 Bảo vệ cây xanh ở vườn trường, công viên
8 Em rất thích trồng nhiều cây xanh
9 Em rất hứng thú với bài học này
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý- Lớp LL&PPDHBM Sinh học K22 Page 11
Tiểu luận: Các phương pháp và hình thức KTĐG theo định hướng phát triển năng lực
+ Bài tập tự đánh giá mục tiêu về thái độ: Dựa vào mục tiêu bài học, bảng tiêu
chí đánh giá các mục tiêu và khả năng nhận thức hiện tại, HS tự đánh giá mức độ
đạt được mục tiêu bài học trước và sau khi học bài mới. Dựa vào kết quả tự đánh
giá mục tiêu, người học vẽ biểu đồ thể hiện mức độ đạt được mục tiêu trước và
sau khi học. Qua việc tự đánh giá mục tiêu thái độ, HS tự nhận thức được thái độ
học tập của mình. Đồng thời người dạy cũng thu nhận được TTPH v ề thái độ học
tập của HS.
+ GV có thể sử dụng kỹ thuật dạy học KWL để HS tự đánh giá kiến thức của
mình trước và sau khi học xong một nội dung bài học.
1.2. Đánh giá đầu ra/ đánh giá thực
Khái niệm: Phương pháp đánh giá đầu ra/ đánh giá thực trong chương trình
giáo dục định hướng đầu ra bao gồm nhiều kỹ thuật đánh giá khác nhau có thể
đánh giá được chất lượng kết quả học tập của HS: “ Các kĩ thuật đánh giá gắn với
Nội dung, tiêu chí đánh
giá
Nội dung, tiêu chí đánh
giá được xây dựng chủ
yếu dựa trên sự ghi nhớ
và tái hiện kiến thức đã
học.
Nội dung, tiêu chí đánh
giá dựa vào kết quả đầu
ra, có tính đến sự tiến
bộ trogn quá trình học
tập, chú trọng khả năng
vận dụng trong các tình
huống thực tiễn.
Phương pháp đánh giá Học sinh làm bài bằng
hình thức tự luận hay
trắc nghiệm.
Đánh giá dựa vào tiêu
chí, đa dạng hóa các
hình thức
Trách nhiệm đánh giá Học sinh làm bài , giáo
viên đánh giá
Học sinh tự đánh giá,
đánh giá lẫn nhau và
giáo viên đánh giá
Trật tự trong xây dựng
kế hoạch
Nội dung, kế hoạch
giảng dạy => đánh giá
Xây dựng tiêu chí đánh
bỏ cả bữa gồm thịt cá thì thấy làm bực.
Nhân lúc không có ai để ý, Quỳnh mới đến bắt trộm mèo bỏ vào trong tay
áo thụng đem về. Xích vàng Quỳnh cất đi, thay vào đó bằng xích sắt, nhốt mèo ở
một góc nhà. Thường thường đến bữa Quỳnh tự tay đem đến hai bát cơm, một bát
thịt cá, một bát rau nấu đầu tôm. Mèo quen ăn miếng ngon nên cứ nhìn thấy bát
cơm thịt cá là chực ăn.
Quỳnh cầm sẵn roi đứng phía sau, hễ ăn thịt cá thì đánh. Mèo dỗi, không
chịu ăn, đói quá lại vồ đến bát cơm thịt cá chứ không chịu ngó ngàng tới bát cơm
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý- Lớp LL&PPDHBM Sinh học K22 Page 14
Tiểu luận: Các phương pháp và hình thức KTĐG theo định hướng phát triển năng lực
rau thì lại bị Quỳnh cho đánh đòn. Được hai hôm, mèo đói quá phải lân la đến bát
cơm rau, mắt vẫn nhìn len lén sang bát thịt. Cứ thế, được hơn nửa tháng, mèo đã
biết thân biết phận, không dám nghĩ tới cơm thịt nữa, Quỳnh mới cho thả xích ra.
Trong lúc đó, Chúa mất mèo, tiếc quá mới cho người đi tìm khắp nơi.
Có tin bẩm nhà Quỳnh có một con mèo giống hệt mèo nhà Chúa, Chúa mới bắt
Quỳnh đem mèo vào chầu. Mới xem qua, Chúa đã nhận ra đúng mèo của mình,
giận lắm nhưng muốn vạch tội Quỳnh giữa bá quan văn võ nên cố gắng kiềm chế.
Chúa bèn hỏi: "Sao nó giống mèo của ta thế? Hay là Quỳnh thấy mèo đẹp
mà bắt đem về? Nói cho thật!". Quỳnh mới đứng khoanh tay lại, đủng đỉnh thưa:
"Tâu Chúa, Chúa nghĩ như vậy là oan cho Quỳnh. Oan quá, nếu Chúa không tin
cứ đem ra thử sẽ biết".
Chúa hỏi Quỳnh thử bằng cách nào Quỳnh mới trả lời: "Thưa Chúa, mèo
của Chúa là mèo nhà cửa cao quyền quý, ăn toàn cao lương mỹ vị, nhà Quỳnh thì
bần tiện quanh năm, người nhà còn thiếu ăn thì lấy đâu ra cơm thịt cho mèo. Chúa
cứ cho đem hai bát cơm, một chứa toàn thịt cá, một chứa chỉ rau cỏ, đầu tôm. Tự
mèo sẽ chứng minh được đâu là chủ của mèo".
Chúa y lời, quả nhiên mèo nhìn thấy bát cơm thịt, lại thấy Quỳnh đứng
chắp tay sau lưng, đành lân la đến bát cơm rau chén ngon lành. Chúa nghệt mặt ra
nhìn, biết rõ mèo của mình nhưng đúng giao hẹn trước bá quan đành để Quỳnh
ôm mèo về. Có người rỉ tai Quỳnh tốt nhất đem tặng mèo cho Chúa, Quỳnh chỉ
B. Mỗi lần ăn cơm thịt thì bị đánh.
C. Quỳnh thành lập phản xạ có điều khiện ăn cơm rau cho mèo.
D. Quỳnh xích mèo gần bát cơm rau.
Hướng dẫn chấm câu 3
Vì sao mèo có được thói quen ăn cơm rau?
Mức đầy đủ
Mã 1: Đáp án C.
Mức không chấm điểm
Mã 0: Đáp án khác
Mã 9: Không trả lời
Câu 4: Hãy trình bày điều kiện thành lập một phản xạ có điều kiện?
Hướng dẫn chấm câu 4:
Mức đầy đủ
Mã 2 :
- Phản xạ có điều kiện thành lập dựa trên phản xạ không điều kiện.
- Phải có sự phối hợp đúng lúc giữa kích thích tín hiệu với kích thích củng
cố. Kích thích tín hiệu phải bắt đầu trước kích thích củng cố.
- Phản xạ phải lặp đi lặp lại nhiều lần.
- Kích thích tín hiệu phải là một kích thích vô quan.
- Lực của kích thích tín hiệu phải yếu hơn lực của kích thích củng cố.
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý- Lớp LL&PPDHBM Sinh học K22 Page 16
Tiểu luận: Các phương pháp và hình thức KTĐG theo định hướng phát triển năng lực
- Phải vắng mặt các kích thích lạ vì các kích thích lạ sẽ gây ra phản ứng định
hướng cản trở sự thành lập đường liên hệ tạm thời.
- Đối tượng thành lập PXCĐK phải có khả năng hoạt động thần kinh bình
thường
Mức không đầy đủ
Mã 1 : Trả lời đúng 5 đến 6n ý trong 7 ý trên .
Mức không tính điểm
Mã 0: Đáp án khác.
cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ (theo định hướng tiếp cận năng
lực) của học sinh của cấp học.
- Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh
giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà
trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng.
- Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự
luận nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá này.
- Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng,
trung thực, có khả năng phân loại, giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh
kịp thời việc dạy và học.
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý- Lớp LL&PPDHBM Sinh học K22 Page 18